Trương Văn Dân


 

CHÀNG LĂNG TỬ VÀ NHÀ THƠ THIỀN

 

Lê Viết Yên & Phạm Thiên Thư
 

          Cứ mỗi lần nh́n thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gă lang thang” của Hermann Hesse.

 

Đó là câu chuyện về hai người bạn có tính cách và số phận rất đỗi khác nhau. Trong khi Narcissus là một thanh niên duy lư, coi trọng tri thức, sống trong tu viện và có ít quan hệ với đời thường nên ít hiểu ư nghĩa thực của cuộc sống; C̣n Goldmund th́ được người cha gà trống nuôi con muốn nó phải hiến dâng cuộc đời cho Chúa để bù đắp tội lỗi của người mẹ Di-gan hoang đàng. Hai nhân vật là đôi bạn nhưng có hai lối sống trái ngược và bổ sung nhau như hai phần đen trắng trong một con người. Một bên nghiêm túc, kỷ luật, bên c̣n lại buông thả, lăng mạn đậm chất nghệ sĩ.
 

Chính Narcissus đă giúp Goldmund nhận ra rằng cuộc sống của nhà tu không phải dành cho anh và sau đó Goldmund trốn khỏi tu viện.
 

Nhớ và tự nhiên liên tưởng đến tác phẩm của Hesse vậy thôi chứ hai người đi trên xe máy này không ai khổ hạnh và cũng chẳng lang thang. V́, nếu nói cho đúng th́ có lẽ đây là một gă lăng tử, và nhà thơ thiền, một nhà tu hoàn tục. Gă lăng tử hễ cứ vác ba lô lên vai là đi, một mẫu “Típ-phờ-nờ”(1) đă từng làm biết bao nhiêu trái tim loạn nhịp c̣n nhà thơ th́ cũng một thời đa đoan.

Hai người đó là Lê Viết Yên và Phạm Thiên Thư.

H́nh như định mệnh chỉ vận vào Lê Viết Yên có một nửa: trong tên anh có chữ “Viết”, nhưng tính thích rày đây mai đó, khoái… “”.. la, nên không thể ngồi “Yên”: “Viết” là phải kiên nhẫn ngồi hằng giờ trước trang giấy thế mà đôi chân cứ ngọ nguậy, hễ nghe tiếng máy xe gầm gừ cám dỗ th́ chữ nghĩa khó mà tuôn chảy.


Thế nên định mệnh chỉ vận vào anh theo một hệ luỵ gián tiếp: đó là sách. Có thể nói hiếm người yêu sách như Lê Viết Yên. Trong chiếc ba lô cuả anh, ngoài bộ ấm trà lúc nào cũng có sách, sách để cho, ba lô để nhận.
 

Anh được rất nhiều bạn bè tặng sách, mà đáp lại anh cũng thường mua sách mới in của bạn bè để giới thiệu hay phát hành giúp. Ai trả tiền th́ lấy, “quên” cũng chẳng sao. Hễ nh́n thấy sách quư hiếm là anh hỏi “xin”, không th́ mượn, fotocopy lại, cưng như của quư nhưng ít khi giữ được lâu, ai hỏi cũng lắc đầu “em chả, em chả” nhưng phụ nữ hỏi xin, mủi ḷng, cho tuốt.


Lê Viết Yên quảng giao, thích kết nối bạn bè trong Nam ngoài Bắc, vùng thấp miền cao, tạo cơ duyên gặp gỡ để mọi người quen nhau, nối ṿng tay lớn. Trên mạng xă hội anh vô tư chia sẻ các bài viết hay, từ văn học nghệ thuật đến triết học tôn giáo, nhưng đề tài yêu thích vẫn là… “tdh” (2).


Bản tính ham vui, thích chọc trời khuấy nước để… vui là chính nên có bạn khắp các vùng miền, và hễ b́nh xăng đầy mà bạn rủ, là đi. Hết ḷng bênh vực và không bỏ rơi bạn trong những lúc khó khăn. Tính cương trực, không ưa th́ nói thẳng, tuy vậy khi không vừa ư th́ rất… dễ hờn, mà giận buổi sáng, chiều hôm đă cười xoà!


Những năm gần đây… số phận của chàng lăng tử Lê Viết Yên h́nh như gắn liền với nhà thơ Phạm Thiên Thư. Có nhiều chuyện không vui trong cơi trọ trần gian, sức khoẻ kém, lại bị mất ngôn ngữ nên nhà thơ hoàn toàn bị cô lập. Mỗi sáng ngồi dưới quán cà phê, ngậm ống điếu nh́n người qua kẻ lại với ánh mắt sâu hun hút… Chàng lăng tử, dù ở rất xa, vẫn chạy xe, băng từ đầu này qua đầu kia thành phố để ngồi với nhà thơ, để ông bớt cô đơn. Có khi đi một ḿnh, có khi chàng nhắn tin hay gọi điện mời thêm nhiều bạn bè cho đông đủ.


Những khi trong thành phố có sự kiện văn nghệ chàng lăng tử chạy lên chở nhà thơ đến, xong lại đưa về. Tiêu pha nhiều thời gian và tiền bạc: chỉ để giúp nhà thơ bớt cô độc giữa cơi đời.

 


 

&&
 

Bảy tám năm trước tôi và Elena cũng được hội ngộ lần đầu với nhà thơ Phạm Thiên Thư, cũng qua sự kết nối của Lê Viết Yên. Giới thiệu xong, ông như đang bận theo đuổi một ư nghĩ nào đó, lơ đăng quay nh́n vào khoảng không trước mặt. Tôi c̣n đang lúng túng th́ bất ngờ thấy ông quay lại nh́n với nụ cười thật hiền và nói: "Tớ mất ngôn ngữ... nên cậu thông cảm... đừng buồn nhé !"


Sau những phút ngắm cơi hư không qua những ṿng khói, nhà thơ bảo người nhà đem ra mấy tập thơ, bảo tôi viết tên lên một tờ giấy để ông chép lại cho đúng rồi kư tặng. Ngoài mấy tập thơ, ông c̣n tặng cho tôi các bài báo viết về ông như nhà văn hoá Unesco, về kỷ lục gia hay nói về trường sinh học, nhân điện và sách viết về các phương thuốc trị bệnh.


Những lần sau đến thăm tôi vẫn thấy nhà thơ ngồi b́nh dị như một nông dân, ph́ phèo ống píp, ngắm mây trời, bên cạnh lúc nào cũng có một chiếc túi vải màu nâu mà các nhà sư thường dùng, trong đó đựng sách, các tập thơ, thuốc xắt và các thứ linh tinh.

 

Phạm Thiên Thư và Trương văn Dân

 

Tuy nhà thơ không nói chuyện nhiều nhưng ông rất thân t́nh, dễ mến. Đặc biệt là đôi mắt và nụ cười thật hiền. Những lần không gặp ông đều hỏi tin tức về vợ chồng tôi và nhờ Lê Viết Yên chuyển lời thăm.


Nhà thơ tự cho ḿnh có khả năng ngoại cảm, có khi gặp ai, anh nheo mắt nh́n và phán một câu kèm một nụ cười bí hiểm: " Anh (chị).. hai, ba... ngày nữa sẽ có tiền.." hay “sẽ có tin vui…”


Tôi thường ngồi nghe và không khi nào kiểm chứng, nhưng câu phán về nhà thơ Đoàn Văn Khánh lúc c̣n độc thân th́ tin vui xảy ra thiệt: hết cô đơn và có được vợ hiền Carol Kim chăm sóc!


Khi ngồi với nhau thân t́nh hơn, những lúc cao hứng, ông nói về sự tương đồng của ông với Nguyễn Du: Cùng sống qua hai chế độ, mỗi người có 4 người con, nhưng trọng tâm vẫn là “ Tớ có ba bà vợ, cụ Nguyễn Tiên Điền cũng chỉ có vậy, không hơn!..” Nói xong ông gơ gơ ống pip lên bàn, cười tít mắt làm ai nghe cũng phải bật cười.


Ông thích so sánh thế v́ có lẽ là nhà thơ hậu bối dám viết “Đoạn trường vô thanh” một tác phẩm xem như hậu Truyện Kiều..


Khi các em tôi Đạo, Nguyệt từ Australia về, v́ Đạo thường hát “Anh theo Nguyệt về…” nên tôi đưa hai em đến thăm ông, sau có bạn mang guitar đến nên mọi người ca hát rất vui.


Từ quán cà phê vang vang lên giai điệu mượt mà: “Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ, anh theo Ngọ về…” làm mọi người như đang nh́n thấy một con đường trải nắng có cậu học tṛ si t́nh lẽo đẽo theo sau cô nữ sinh mặc áo dài trắng, tay ôm cặp, tóc xoă ngang vai… và đêm về chàng viết lại những vần thơ lung linh như thấm vào ḷng nhiều thế hệ:


“…Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh t́m theo Ngọ
Dấu lau lách buồn…
…Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Trao vội chùm hoa
Ép vào cuối vở…”


Có thể nói rằng, vào những năm của thập kỷ 70, bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị” nhờ nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc nên được nhiều người biết và yêu thích.


Ca hát xong chúng tôi cùng nhà thơ Tâm Nhiên đi đến quán cơm chay, nói tiếp chuyện thơ ca.


Mỗi lần “gặp nhau bên động hoa vàng” ngoài nhà thơ và Lê Viết Yên, thường có các bạn văn như Hoàng Kim Oanh, Nguyên Tâm, Tuệ Lăng, vợ chồng Đặng Châu Long, vợ chồng Nguyên Cẩn… bạn bè nói cười rôm rả… Vẫn biết Phạm Thiên Thư như một hiền sĩ ngồi bên lề của đời sống ta bà, nhưng khi chia tay thường để lại trong ḷng tôi một nỗi buồn man mác.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư sinh trong một gia đ́nh bố mẹ làm nghề bốc thuốc nhưng từ nhỏ rất thích thơ văn. Lớn lên ông đi tu, làm thơ, hoàn tục và sống trong cội quán café Hoa Vàng.


Có người kể là năm 1964, nhà thơ đă xuống tóc, đi tu với Pháp danh là Thích Tuệ Không. Trong 9 năm tu hành (1964 -1973), ông đă chứng kiến một cuộc t́nh giữa chú tiểu và một cô bé Phật tử. Chú tiểu và nàng đều rất trẻ và t́nh yêu của họ chớm nở tự nhiên như những bông hoa sau sân chùa. Trong những lời khấn nguyện, cô gái thường cầu xin cho hai người được bên nhau măi măi…


Chiến tranh loạn lạc, cô bé chết trong lúc chạy tránh đạn bom trên đường di tản. Trong mưa bay và gió lạnh, chú tiểu gạt nước mắt đưa tiễn người đi trong một ngày thật buồn: Gia đ́nh đưa xác cô an táng sau chùa, nơi có những cụm hoa đang nở. Mỗi buổi chiều, chú tiểu đến bên mộ, thắp hương và ngồi măi cho đến khi hoàng hôn buông xuống…


Nhà thơ Phạm Thiên Thư xúc động và sáng tác bài thơ nổi tiếng: “Thoáng hương qua”. Sau này, nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành nhạc phẩm “Em lễ chùa này” và ca khúc đă đi vào ḷng người cho măi đến giờ.


Có người nói là Phạm Thiên Thư chứng kiến, nhưng cũng có ư cho rằng chú tiểu đa t́nh ấy chính là ông (3), không biết thực hư thế nào, hay chỉ là một giai thoại được dựng lên như nhiều chuyện viết trên báo mà không chính xác?


Tuy vậy bài thơ được phổ nhạc… là có thật:


Em vừa nằm xuống đất này
Vườn trong có bông đào nở
Con bướm chập chờn hương bay
Quơ sợi râu vàng bỡ ngỡ
Nắm đất nào vừa lấp mộ
Có con chim hót đầu cành
Tiếng tan trên gịng suối xanh
Nước ơi sao buồn nức nở.


Về câu chuyện “gă từ quan” coi thường danh lợi, chán ghét những tranh giành trong cơi đời để t́m về với thiên nhiên, nhà thơ đưa ta đến không gian siêu thực tựa cơi tiên của động hoa vàng. Bài thơ được sáng tác vào đầu thập niên 1970 trong giai đoạn quê hương đầy khói lửa nên xuất hiện như một giấc mơ thoát tục để hướng về một thuở thanh b́nh. Câu chuyện hoà quyện giữa Đời và Đạo “tu là cội phúc t́nh là dây oan” nhưng gă từ quan cứ vương vấn, chơi vơi giữa t́nh yêu và đạo pháp nên làm sao thoát khỏi nghiệp chướng đoạn trường:


Th́ thôi tóc ấy phù vân
Th́ thôi lệ ấy c̣n ngần dáng sương
Th́ thôi mù phố xe đường
Th́ thôi thôi nhé đoạn trường thế thôi”


Thơ Phạm Thiên Thư nặng tính tâm linh nên thường làm cho độc giả lăng đăng và ngẩn ngơ. Ông viết về t́nh yêu bằng ngôn từ thánh thiện, kín đáo, nhẹ nhàng trong một cơi thi ca trữ t́nh độc đáo.


Nhà thơ Phạm Thiên Thư c̣n được biết đến như người đă thi hóa Kinh Phật, ông xuất hiện trong làng thơ như một người tu sĩ, rao giảng Phật Pháp bằng thi ca như Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ, Chiêu Hồn Ca, Đoạn Trường Vô Thanh,.. ông sáng tác những thi phẩm hay và đẹp thuộc diện hiếm trong văn học Việt Nam... Thơ của ông được nhiều người có tên tuổi trong giới và rất nhiều bạn đọc mến mộ...


Thế nhưng cũng có người cho rằng Phạm Thiên Thư đi tu mà ḷng vẫn hướng về cơi tục. Ông đáp lại bằng một nụ cười: "Tôi tu theo cách của ḿnh, tu để sống cuộc đời của ḿnh, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của ḿnh" rồi ông viết chính con vạc cũng ghẹo tôi nữa là:


“Hỏi con vạc đậu bờ kinh
Cớ sao lận đận cái h́nh không hư
Vạc rằng: Thưa bác Thiên Thư
Khoác chi cái áo thầy tu ỡm ờ”

 

&&



Trước 1975, Phạm Thiên Thư đă rất nổi tiếng nhờ những bài thơ của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, ngoài ra tác phẩm “Đoạn trường vô thanh” của ông c̣n được giải nhất văn chương toàn quốc.


Với một người nổi danh như thế th́ khó mà có được một cuộc sống an lành: ganh ghét và đố kỵ, mượn danh và lợi dụng, tất cả những sỏi đá đó thường vung văi trên con đường ông đi, mang theo hệ luỵ là vinh quang và cay đắng.


Nếu có những người yêu thơ, t́m nhà tài trợ để tổ chức các đêm: Thơ Phạm Thiên Thư - Nhạc Phạm Duy, để gây quỹ từ thiện, có giới làm sách báo & phát hành những ấn phẩm của Phạm Thiên Thư… th́ cũng có những bài báo kiểu Phạm Thiên Thư trả lời phỏng vấn, với lời lẽ tung hô, kỷ lục, phô trương… trong khi ông đang bị mất ngôn ngữ, mấy năm trước c̣n bị tai biến, phải vào chùa rồi rời xa quán Hoa Vàng… hiện chỉ nói được những câu ngăn ngắn; Có người c̣n dùng tên tuổi Phạm Thiên Thư như một nhà tiên tri, thầy thuốc trị được bá bệnh… bao chuyện hư hư thực thực…

Có lẽ cái nghiệp của Phạm Thiên Thư là vậy. Chàng lăng tử Lê Viết Yên cho hay là khi có chuyện không vui ông chỉ cười trừ hay một đôi lần bộc bạch: “Hăy tha thứ! Tha thứ cho những người đă làm điều sai trái, tha thứ cho cả những người đă gây khổ đau cho ḿnh”. rồi ông đọc:


“ Phật - Tôi nào khác chi nhiều
Một người đă ngộ ra điều sắc không
Một kẻ c̣n đang lông bông
Nhưng rồi sớm muộn cũng mong trở về.”


Mấy năm trước cũng chính chàng lăng tử Lê Viết Yên đă đề nghị tập san Quán Văn làm một số chân dung văn học cho Phạm Thiên Thư, và hôm ra mắt sách, bạn bè, người hâm mộ, bạn bè đến chung vui, hát ca đông vui nhất.


Tuy không “viết” nhưng Lê Viết Yên giúp tập san Quán Văn phát hành, không chỉ vài ba số mà có khi trọn bộ 30, 40 số.


Cũng chính Lê Viết Yên, theo mong muốn của nhà thơ Phạm Thiên Thư, đề nghị nhà thơ Nguyên Cẩn và vợ chồng tôi trích dịch Huyền Ngôn Xanh ra tiếng Anh, tiếng Ư và tiếng Pháp để in với số lượng hạn chế để giới thiệu với các bạn yêu thơ.


Rồi hôm nay cũng chính chàng lăng tử Lê Viết Yên đứng ra kêu gọi bạn bè góp bài và tiền bút mực, để in một tập sách bạn bè viết về Phạm Thiên Thư, lấy tên là “Gặp nhau bên Động Hoa Vàng” nơi mà nhiều bè bạn quây quần bên ông để thăm hỏi, cùng về một nơi để trầm tư, thanh lọc tâm hồn sau những mệt mỏi về cuộc sống đầy bon chen, bụi bặm.

 

Chàng lăng tử Lê Viết Yên nói một câu làm tôi xúc động: “Phải làm sớm, ông Phạm Thiên Thư gần 80, yếu lắm rồi, trễ nữa là không kịp!


Thời gian, và tấm ḷng!


Dù vẫn biết, làm được hay không, đối với thiền thi Phạm Thiên Thư th́ đâu có chi mà quan trọng!

Nhờ bản tánh hiền lành, khiêm tốn và dễ ḥa đồng cho nên Phạm Thiên Thư được nhiều bạn bè và anh em văn nghệ sĩ mến thương.


Mỗi lần nhớ đến Phạm Thiên Thư, tôi thường h́nh dung đến những buổi sáng tinh mơ ông ra ngồi một ḿnh dưới quán café Hoa Vàng mong chờ bạn đến. Ông mỉm cười khi thấy các bạn đến ngồi quanh, nheo mắt nh́n mọi người, gỡ ống píp khom khom gơ nhẹ xuống bàn, dáng dấp cong cong như con rùa mắc cạn đang mừng vui v́ con nước tới:


Có con rùa nhỏ ngoài khe,
Từ lâu đợi suối trở về, nằm đây.
Ẩn ḿnh dưới chiếc mai dày,
Ngó bờ rêu lục tưởng ngày xa xưa…


Những lúc ấy tuy chẳng nói nhưng tôi biết ông vui, lạ một cái là ánh mắt đang chiếu sáng niềm vui th́ bất chợt khép lại, trầm tư: có thể là ông đang hồi tưởng lại thời con người biết mơ mộng, theo chân cô Ngọ, sống b́nh dị cùng thiên nhiên… hay thuở đi tu, hoàn tục, theo chân Từ Thức… đă trôi qua, không bao giờ trở lại. Một phản diện tích tắc đầy bí ẩn bên trong tâm thức một con người kỳ lạ: rất… Phạm Thiên Thư.

 


T.V.D
Mùa dịch Covid.19
Milano 10-2020


______

 

(1) TYPN : Tôi Yêu Phụ Nữ

(2) tdh : t́nh dục học

(3) https://sites.google.com/site/cauchuyenvanhocnghethuat/vhnt-143


http://vanviet.info/van-hoc-mien-nam/van-hoc-mien-nam-54-75-716-pham-thin-thu-ky-7/

 




 

art2all.net