ĐỖ TƯ NGHĨA

 

TÍN ĐỒ ĐÍCH THỰC ( THE TRUE BELIEVER)

Về bản chất của những phong trào quần chúng

Erich Hoffer / Đỗ Tư Nghĩa

==o))((o==

 

 PHẦN MỘT :

SỰ HẤP DẪN CỦA NHỮNG PHONG TRÀO QUẦN CHÚNG.


CHƯƠNG I

ƯỚC MƠ THAY ĐỔI HIỆN TRẠNG

1

Đương nhiên là, nhiều người tham gia một phong trào cách mạng đang nổi lên, bị hấp dẫn bởi cái viễn ảnh về sự thay đổi đột ngột và ngoạn mục trong những điều kiện sống của họ. Một phong trào cách mạng là một công cụ của sự thay đổi – đây là điều dễ hiểu, dễ thấy.

Nhưng sự kiện rằng, những phong trào tôn giáo và dân tộc chủ nghĩa, cũng có thể là những phương tiện của sự thay đổi, th́ không hiển nhiên như vậy. Rơ ràng là, muốn thực hiện sự thay đổi to lớn và nhanh chóng, cần phải có một loại nhiệt t́nh hay sự hào hứng rộng khắp nào đó. Nó (sự nhiệt t́nh, sự hào hứng) có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn, từ một mong đợi về sự giàu có vô hạn, hay [được phát sinh] bởi một phong trào quần chúng năng động, vân vân.Và có vẻ như, việc cái sự phấn khởi này phát sinh từ đâu, đó không phải là vấn đề quan trọng. Trên đất nước này, th́ những thay đổi ngoạn mục kể từ cuộc Nội Chiến, đều được diễn ra trong một bầu không khí tràn đầy nhiệt huyết, sinh ra bởi những cơ hội thần kỳ cho việc tiến thân. Ở nơi nào mà sự tiến thân không thể, hay không được phép, trở thành một lực-đẩy, th́ những nguồn nhiệt huyết khác phải được t́m thấy, nếu muốn thực hiện và duy tŕ những thay đổi hệ trọng – chẳng hạn, việc đánh thức và [việc] canh tân một xă hội tŕ trệ, hoặc những cải cách triệt để trong tính chất và “khuôn mẫu sống” của một cộng đồng. Những phong trào tôn giáo, cách mạng và dân tộc chủ nghĩa, là những “nhà máy” như thế : chúng “sản xuất ra” ḷng nhiệt huyết chung.


Trong quá khứ, dễ nhận thấy rằng, những phong trào tôn giáo là những phương tiện của sự thay đổi. Sự bảo thủ của một tôn giáo – sự “chính thống” [orthodoxy] của nó – là cái sự đông đặc tŕ trệ của một cái mà xưa kia vốn từng là cái có tính phản kháng cao.  Nét đặc trưng của một phong trào tôn giáo đang lên, là sự thay đổi và sự thử nghiệm toàn diện – cởi mở trước những quan điểm và những kỹ thuật mới từ mọi tầng lớp xă hội. Hồi giáo, khi nó mới nổi lên, là một phương tiện có tính tổ chức và hiện đại hóa. Ki-tô giáo, là một ảnh hưởng có tính khai hóa và hiện đại hóa giữa những bộ lạc man dă của châu Âu. Những cuộc Thập Tự Chinh và Phong Trào Cải Cách, cả hai, đều là những nhân tố cốt tủy trong việc lay động thế giới phương Tây ra khỏi sự tŕ trệ của thời Trung Cổ.

__________

Ở đây, tác giả đang nói đến Hoa Kỳ.

Highly reactive: Có tính phản ứng, phản kháng cao. Ư nói, các tôn giáo, từ khởi thủy, luôn có tính cách mạng. Nhưng về sau, khi đă được xác lập vững chắc, th́ nó thường trở nên giáo điều, tŕ trệ, và đánh mất “tính cách mạng” của nó.

 

Trong thời hiện đại, th́ những phong trào quần chúng có dính líu đến việc thực hiện sự thay đổi to lớn và nhanh chóng, là những phong trào cách mạng và dân tộc chủ nghĩa – một cách riêng rẽ, hay kết hợp cả hai. Peter Đại Đế có lẽ là kẻ ngang hàng – về sự tận tụy, quyền lực và sự tàn bạo – của nhiều trong số những lănh tụ cách mạng hoặc dân tộc chủ nghĩa thành công nhất. Thế nhưng, ông thất bại trong mục đích chính của ḿnh, là biến nước Nga thành một dân tộc phương Tây. Và lư do mà ông thất bại, là bởi v́ ông đă không “tiêm” vào quần chúng Nga ḷng nhiệt huyết sôi sục. Hoặc, ông không nghĩ là nó cần thiết, hoặc, ông không biết cách [để] biến mục đích của ông thành một “sự nghiệp thần thánh.” Không có ǵ lạ rằng, những nhà cách mạng Bolshevik – đă xóa sạch những Nga hoàng và những người Romanov cuối cùng – lại có một cảm thức họ hàng với Peter, một Nga hoàng và là một người thuộc ḍng dơi Romanov. Bởi v́ mục đích của ông bây giờ là mục đích của họ,  và họ hy vọng sẽ thành công nơi mà ông đă thất bại. Cuộc cách mạng Bolshevik có thể hiện ra trong lịch sử như là một toan tính để hiện đại hóa 1/6 diện tích của thế giới, và [cũng như là một toan tính] để xây dựng một nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa.

Cả Cách mạng Pháp lẫn Cách mạng Nga đều biến thành những phong trào dân tộc chủ nghĩa – sự kiện đó có vẻ như chỉ ra rằng, trong thời hiện đại, th́ chủ nghĩa dân tộc là nguồn suối dồi dào và bền vững nhất của ḷng nhiệt huyết quần chúng, và cái nhiệt huyết dân tộc chủ nghĩa phải được khai thác, nếu muốn hoàn tất những thay đổi mạnh mẽ đă được “dự phóng” và khởi động bởi nhiệt t́nh cách mạng. Người ta tự hỏi, phải chăng những khó khăn mà chính phủ Lao Động tại Anh quốc gặp phải, một phần là do sự kiện rằng, cái toan tính nhằm thay đổi nền kinh tế và lối sống của 49 triệu người, đă được khởi động trong một bầu không khí hết sức thiếu vắng ḷng nhiệt huyết, sự phấn khởi và niềm hy vọng cuồng nhiệt. Sự ghê tởm đối với những khuôn mẫu xấu xa – được triển khai bởi phần lớn những phong trào quần chúng đương thời – đă khiến cho những vị lănh tụ “văn minh” và đứng đắn nhất của đảng Lao Động e sợ nhiệt t́nh cách mạng. Vẫn c̣n khả tính là, t́nh huống lúc đó có thể đă buộc họ phải sử dụng một h́nh thức sô-vanh chủ nghĩa ôn ḥa nào đó, để cho, tại Anh quốc, nữa, “sự xă hội hóa đất nước có thể diễn ra như là hệ luận tự nhiên của nó – sự quốc hữu hóa của chủ nghĩa xă hội.” (1)

_______

Mệnh đề “bởi v́ mục đích của ông bây giờ là mục đích của họ,” có lẽ chưa hoàn toàn chính xác?
Some mild form of chauvinism. “Sô-vanh chủ nghĩa,” mà lại “ôn ḥa”?

 

Công cuộc hiện đại hóa thần kỳ của Nhật Bản, có lẽ đă không thể thực hiện được, nếu không có cái tinh thần phục hưng của chủ nghĩa dân tộc Nhật. Có lẽ, cũng đúng rằng, sự hiện đại hóa nhanh chóng của vài nước châu Âu [nhất là Đức], th́, tới một mức độ nào đó, được đẩy nhanh bởi cái bộc phát và sự khuếch tán triệt để của nhiệt t́nh dân tộc chủ nghĩa. Nếu xét qua những dấu chỉ hiện tại, th́ sự phục hưng của châu Á sẽ được thực hiện qua phương tiện của những phong trào dân tộc chủ nghĩa, hơn là do những phương tiện khác. Chính là sự nổi lên của một phong trào dân tộc chủ nghĩa đích thực, mà đă khiến cho Kemal Ataturk có thể hiện đại hóa Thổ Nhĩ Kỳ hầu như qua một đêm. Tại Ai Cập, không bị tác động bởi một phong trào quần chúng, th́ việc hiện đại hóa lại chậm chạp, ngập ngừng mặc dù những nhà lănh đạo của nó, từ thời Mehmed, đă chào đón những ư kiến của phương Tây, và những tiếp xúc với phương Tây cũng nhiều và thâm t́nh. Chủ nghĩa phục quốc Do Thái là một công cụ để canh tân một đất nước chậm tiến và [để] chuyển hóa những chủ tiệm và những người làm việc bằng trí óc thành những nông dân, những người lao động và những binh sĩ. Nếu Tưởng Giới Thạch đă biết cách phát động một phong trào quần chúng đích thực – hay, ít ra, nuôi dưỡng nhiệt t́nh dân tộc chủ nghĩa, vốn được nhen nhúm bởi cuộc xâm lược Nhật – th́ có lẽ, bây giờ ông đang đóng vai tṛ của một nhà cách tân của Trung Quốc. Bởi v́ ông không biết cách, ông dễ dàng bị đẩy sang một bên bởi những vị thầy của nghệ thuật “tôn giáo hóa” – nghệ thuật biến những mục đích thực tiễn thành những “sự nghiệp thần thánh.”

Thật không khó để thấy tại sao Hoa Kỳ và Vương quốc Anh [hay bất cứ nền dân chủ phương Tây nào] đă không thể đóng một vai tṛ trực tiếp và chủ đạo trong việc đánh thức những nước châu Á ra khỏi sự chậm tiến và sự tŕ trệ của chúng: những nền dân chủ không có khuynh hướng, và có lẽ, cũng không thể nhen nhúm một tinh thần phục hưng trong hàng triệu người châu Á. Sự đóng góp của những nền dân chủ phương Tây vào việc đánh thức phương Đông chỉ là gián tiếp, và chắc chắn là không cố ư. Chúng [những nền dân chỉ phương Tây] đă nhen nhúm một sự phẫn hận mạnh mẽ chống lại phương Tây, và chính cái niềm phẫn hận này, là cái mà hiện nay đang đánh thức phương Đông ra khỏi sự tŕ trệ của nó, vốn đă kéo dài hàng thế kỷ. (2)

Mặc dù ước mơ thay đổi [hiện trạng] không phải không thường xuyên là một lực hời hợt, nhưng cũng đáng bỏ công để khám phá xem, liệu một thăm ḍ về loại ước mơ này có chiếu chút ánh sáng nào trên cái “vận hành nội tại” của những phong trào quần chúng hay không. Do vậy, chúng ta sẽ thăm ḍ bản chất của cái ước muốn thay đổi này.

 

2

Chúng ta thường cho rằng, những lực vốn định h́nh sự hiện hữu của ḿnh, những lực đó nằm bên ngoài chúng ta. Sự thành công và thất bại th́ luôn luôn được nối kết, trong tâm trí chúng ta, với trạng thái của những sự-thể xung quanh ḿnh. Do vậy, mà những người với một cảm thức về sự măn nguyện nghĩ rằng, thế giới hiện tại là tốt lành, và họ muốn duy tŕ nó như nguyên trạng, trong khi những kẻ phẫn chí lại ủng hộ một thay đổi triệt để. Cái khuynh hướng t́m kiếm mọi nguyên nhân [của sự thất bại] ở bên ngoài ḿnh, vẫn tiếp tục hiện hữu – ngay cả khi rơ ràng rằng, cái trạng thái tồn tại của ta là sản phẩm của những phẩm tính cá nhân như năng lực, tính cách, ngoại h́nh, sức khỏe, vân vân. “Nếu bất cứ cái ǵ làm cho một người khổ sở,” Thoreau nói, “khiến cho y không thể thực hiện những chức năng của ḿnh – nếu y bị đau bao tử, thậm chí…th́ ngay lập tức, y bắt tay vào việc cải cách thế giới.” (3)

Có thể hiểu được rằng, những ai thất bại, sẽ có khuynh hướng trách cứ thế giới về sự thất bại của ḿnh. Nhưng điều đáng chú ư là, những người thành công – bất luận họ tự hào ra sao về sự nh́n xa trông rộng của họ, cái nghị lực của họ, sự tiết kiệm và những “phẩm chất tuyệt vời” của họ – đều xác tín, tận đáy ḷng, rằng sự thành công của họ là kết quả của một sự kết hợp ngẫu nhiên của hoàn cảnh của ḿnh. Ḷng tự tin, ngay cả ở người thành công một cách vững chắc, th́ không bao giờ tuyệt đối. Họ không bao giờ chắc chắn rằng, họ biết mọi thành tố mà cấu thành sự thành công của họ. Cái thế giới bên ngoài, đối với họ, có vẻ như là một bộ máy được giữ cho thăng bằng một cách bấp bênh, và bao lâu mà nó c̣n vận hành tốt cho họ, th́ họ sợ việc mày ṃ sửa chữa nó. Như thế, việc chống lại sự thay đổi và ước mơ cháy bỏng muốn thay đổi, cả hai đều khởi phát từ cùng một xác tín, và cái này cũng dữ dội như cái kia.
 

3

Sự bất măn, một ḿnh nó, không tất yếu tạo ra một ước mơ về sự thay đổi. Những yếu tố khác phải có mặt, th́ sự bất măn mới có thể biến thành sự chống đối. Một trong những yếu tố này, là một cảm thức về quyền lực.

Những ai bị kinh hăi bởi môi trường xung quanh họ, không nghĩ về sự thay đổi, bất luận điều kiện sống của họ có khốn khổ đến đâu. Khi lối sống của chúng ta quá bấp bênh, và rơ ràng rằng, chúng ta không thể kiểm soát hoàn cảnh của đời ḿnh, th́ chúng ta có khuynh hướng bám chặt vào cái đă được trắc nghiệm và cái quen thuộc. Chúng ta chống lại một cảm nhận sâu xa về sự bất an, bằng cách biến đời ta thành một lề thói cố định. Do vậy, chúng ta thủ đắc cái ảo tưởng rằng, chúng ta đă “thuần hóa” cái không thể đoán trước. Những ngư dân, những người du mục, và những nông dân, vốn chiến đấu chống lại những sức mạnh bướng bỉnh của thiên nhiên, kẻ lao động sáng tạo vốn lệ thuộc vào cảm hứng, kẻ man dă bị kinh hăi bởi môi trường của họ – tất cả họ đều sợ sự thay đổi. Họ đối mặt với thế giới như thể đang đối mặt với một bồi thẩm viên đầy quyền lực. Những kẻ nghèo một cách túng quẫn, cũng sợ hăi thế giới xung quanh họ và không thích sự thay đổi. Chúng ta sống một cuộc sống nguy hiểm khi cái đói và cái lạnh theo chúng ta bén gót. Như thế, sự bảo thủ của những kẻ bần cùng cũng sâu xa như sự bảo thủ của những kẻ có đặc quyền, và sự bảo thủ của những kẻ bần cùng, cũng là một nhân tố trong sự duy tŕ trật tự xă hội, hệt như sự bảo thủ của những kẻ có đặc quyền.

Những người lao vào những công tŕnh mang lại sự thay đổi to lớn, thường cảm nhận rằng, họ sở hữu một quyền lực vô địch nào đó. Cái thế hệ mà đă “làm” cuộc Cách mạng Pháp, có một quan niệm cực đoan về sự toàn năng của lư tính con người và tầm mức vô hạn của trí thông minh của y. De Tocqueville nói, chưa bao giờ nhân loại tự hào hơn về chính họ, cũng như chưa bao giờ họ có nhiều niềm tin như thế vào sự toàn năng của ḿnh. Và kết nối với ḷng tự tin được phóng đại này, là một niềm khao khát đại đồng đối với sự thay đổi – niềm khao khát này đến một cách tự nhiên với mọi tâm trí (4). Lenin và những người Bolshevik – lao một cách liều lĩnh vào trong sự hỗn loạn của việc sáng tạo ra một thế giới mới – đều có niềm tin mù quáng vào sự toàn năng của học thuyết Mác-xít. Những người Đức Quốc Xă không có cái ǵ hùng mạnh như cái học thuyết đó, nhưng họ có niềm tin vào một lănh tụ không thể sai lầm và niềm tin vào một kỹ thuật mới. Bởi v́, chủ nghĩa Quốc Xă khó ḷng có được sự tiến triển nhanh chóng như thế, nếu không v́ cái xác tín đầy phấn khởi rằng, những kỹ thuật mới về “tấn công chớp nhoáng” và sự tuyên truyền sẽ làm cho nước Đức trở thành vô địch.

Ngay cả một ước mơ tỉnh táo về sự tiến bộ, cũng được nuôi dưỡng bởi niềm tin – niềm tin vào ḷng tốt bẩm sinh của bản chất con người và [niềm tin] vào sự toàn năng của khoa học. Đó là một niềm tin đầy thách thức và phạm thánh, rất giống như niềm tin của những người bắt tay vào việc xây dựng “một thành phố và một cái tháp, mà cái chóp của nó có thể chạm bầu trời,” và của những người tin rằng, “những ǵ mà họ dự định làm, sẽ không có ǵ ngăn cản được họ.” (5)

 

4

Một cách tự nhiên, người ta thường tin rằng, việc sở hữu quyền lực – và không cần thêm cái ǵ khác – sẽ tự động dẫn tới một thái độ tự phụ đối với thế giới và [dẫn tới] việc sẵn sàng đón nhận sự thay đổi. Nhưng không phải luôn luôn như vậy. Những người hùng mạnh cũng có thể rụt rè như kẻ yếu đuối. Cái dường như quan trọng hơn việc sở hữu những công cụ của quyền lực, là niềm tin vào tương lai. Nơi nào mà quyền lực không được kết nối với niềm tin vào tương lai, th́ nó được dùng chủ yếu để ngăn cản cái mới và duy tŕ cái status quo. Mặt khác, niềm hy vọng thái quá, ngay cả khi nó không được hậu thuẫn bởi thực quyền, th́ cũng có thể làm phát sinh một sự táo bạo liều lĩnh nhất. Bởi v́ kẻ hy vọng [vào tương lai. ND] có thể lấy sức mạnh từ những nguồn sức mạnh lố bịch nhất – một khẩu hiệu, một từ ngữ, một phù hiệu. Không có niềm tin nào hùng mạnh, trừ phi nó cũng có niềm tin vào tương lai; [trừ phi niềm tin ấy có một lịch sử hàng ngàn năm]. Do vậy, một học thuyết hữu hiệu là một nguồn sức mạnh, nhưng nó cũng phải tự khẳng định rằng, nó là một ch́a khóa để mở cuốn sách của tương lai. (6)

_____

Status quo: Nguyên trạng; hiện trạng.

 

Những ai muốn chuyển hóa một dân tộc hay thế giới, không thể làm như vậy bằng cách nuôi dưỡng và “lèo lái” sự bất măn, hoặc bằng cách chứng minh sự hợp lư và sự đáng ao ước của những thay đổi sẽ xảy ra [theo hoạch định], hoặc bằng cách cưỡng bức dân chúng sống một lối sống mới. Họ phải biết cách nhen nhúm và làm bùng lên một niềm hy vọng cực đoan. Bất luận đó là niềm hy vọng về một vương quốc trên trời, về thiên đàng hạ giới, về chiến lợi phẩm và của cải vô hạn, về sự thành tựu thần kỳ hay sự thống trị thế giới – th́ cái quan trọng là niềm hy vọng, c̣n hy vọng về cái ǵ, đó không phải là điều quan trọng. Nếu những người Cộng sản chinh phục được châu Âu và một phần rộng lớn của thế giới, th́ không phải là bởi v́ họ biết cách khơi dậy sự bất măn, hay biết cách tiêm sự thù hận vào dân chúng, mà bởi v́, họ biết cách rao giảng niềm hy vọng.

 

5

Như thế, những khác biệt giữa những người bảo thủ và những người “cấp tiến,” có vẻ như phát xuất chủ yếu từ thái độ của họ đối với tương lai. Nỗi sợ hăi về tương lai khiến chúng ta dựa vào và bám chặt vào hiện tại, trong khi niềm tin vào tương lai khiến chúng ta dễ tiếp nhận sự thay đổi. Cả người nghèo lẫn người giàu, người mạnh lẫn kẻ yếu, kẻ đă thành tựu nhiều hay ít, đều có thể sợ hăi tương lai. Khi hiện tại có vẻ như quá hoàn hảo – đến nỗi, cái tối đa mà chúng ta có thể mong đợi, là sự tiếp tục đều đặn của nó trong tương lai – th́ sự thay đổi chỉ có thể có nghĩa là sự suy thoái. Do vậy, những người có thành tựu nổi bật và những người sống cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc, thường chống lại sự canh tân mạnh mẽ. Sự bảo thủ của những kẻ tàn phế và những người quá tuổi trung niên, cũng phát xuất từ nỗi sợ hăi về tương lai. Họ “cảnh giác” những dấu hiệu về suy thoái, và cảm thấy rằng, bất cứ sự thay đổi nào, đều rất có thể là xấu hơn, thay v́ tốt hơn. Kẻ nghèo một cách quẫn bách, không có niềm tin vào tương lai. Đối với họ, tương lai dường như là một cái bẫy treo, bị chôn giấu trên con đường trước mặt. Người ta phải bước đi một cách thận trọng. Thay đổi những sự-thể, là chuốc lấy sự rắc rối.

Đối với những kẻ lạc quan, đầy hy vọng, th́ có vẻ như, việc ai bị vồ chụp bởi một hy vọng cuồng nhiệt, th́ cũng như nhau. Bất luận đó là một nhà trí thức nhiệt huyết, một nông dân khát khao có ruộng, một kẻ đầu cơ muốn làm giàu nhanh chóng, một thương nhân tỉnh táo hay một địa chủ quư tộc – tất cả họ đều có hành động liều lĩnh đối với hiện tại, phá hủy nó nếu cần thiết, và sáng tạo ra một thế giới mới. Như thế, có thể có những cuộc cách mạng bởi những kẻ có đặc quyền, cũng như bởi những kẻ “thấp cổ bé họng.” Phong trào “xây hàng rào” trong thế kỷ 16 và 17 tại nước Anh, là một cuộc cách mạng bởi những người giàu. Kỹ nghệ len phát đạt cao, và ngành chăn nuôi trở nên có nhiều lợi nhuận hơn việc trồng trọt. Những địa chủ xua đuổi những người mướn đất của họ, xây hàng rào xung quanh những đồng cỏ và tạo ra những thay đổi sâu xa trong kết cấu xă hội và kinh tế của đất nước này. “Những địa chủ và những nhà quư tộc đang làm đảo lộn trật tự xă hội, phá sập luật lệ và phong tục cổ xưa, đôi khi bằng phương tiện của bạo động, thường khi bằng áp lực và đe dọa.”(7). Một cuộc cách mạng Anh khác, xảy ra ở cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Đó là cuộc Cách mạng Công nghiệp. Những tiềm năng thần kỳ của sự cơ giới hóa làm nức ḷng những nhà sản xuất và những thương nhân. Họ bắt đầu một cuộc cách mạng “cực đoan và triệt để, vốn đă từng kích động đầu óc của những tín đồ cuồng tín,” (8) và trong một thời gian tương đối ngắn, những công dân khả kính, “sợ Thượng đế” này đă hoàn toàn làm thay đổi bộ mặt của nước Anh, đến nỗi người ta không c̣n nhận ra nó nữa.

Khi những niềm hy vọng và những giấc mơ “được thả rong” trên đường phố, th́ kẻ rụt rè nên khóa cửa sổ, cửa lớn và nằm im, cho đến khi cơn phẫn hận đă qua đi. Bởi v́, thường hay có một bất tương hợp quái đản giữa những niềm hy vọng – bất luận cao thượng và đáng yêu đến đâu – và cái hành động theo sau chúng.

 

6

Để lao đầu một cách xốc nổi vào một dự án mang lại sự thay đổi to lớn, người ta phải bất măn sâu sắc, nhưng không túng quẫn, và họ phải có cái cảm nhận rằng, bằng cách sở hữu một học thuyết hữu hiệu nào đó, một vị lănh tụ không thể sai lầm nào đó, hay một kỹ thuật mới nào đó, họ tiếp cận được một nguồn sức mạnh vô địch. Họ cũng phải có một quan niệm cực đoan về cái viễn ảnh và những tiềm năng của tương lai. Sau cùng, họ phải hoàn toàn không biết đến những khó khăn có dính líu tới cái dự án to lớn của họ. Những người khởi xướng cuộc Cách mạng Pháp, th́ hoàn toàn không có kinh nghiệm về chính trị. Điều tương tự cũng đúng với những người Bolshevik, những đảng viên Quốc Xă và những nhà cách mạng tại châu Á. “Con người áp-phe” giàu kinh nghiệm, là “một kẻ đến muộn.” Anh ta bước vào phong trào khi nó đă có cơ sở vững chắc. Chính cái kinh nghiệm chính trị của người Anh, là cái khiến cho anh ta e sợ những phong trào quần chúng.

==========

(1). E. H. Carr, Nationalism and After (New York: Macmillan
Company, 1945), p. 20.
(2). See end of Section 104.
(3). Henry David Thoreau, Waiden, Modern Library edition (New
York: Random House, 1937), p. 69.
(4). Alexis de Tocqueville, On the State of Society in France
Before the Revolution of 1789 (London: John Murray, 1888), pp.
198–199.
(5). Genesis 11:4, 6.
(6). See Section 58.
(7). Karl Polanyi, The Great Transformation (New York: Farrar
and Rinehart, Inc., 1944), p. 35.
(8). Ibid., p. 40.

 

Trở về Giới thiệu và Mục Lục

Xem tiếp Phần 1, Chương 2

 

 

art2all.net