|
Trương văn Thanh & Trần Ngọc Bảo
Ngẫu hứng Túy
Vân
1
2
3
4
Phần 1
Cuộc lữ ngày chủ nhật 20/5/12 là một chuyến đi hoàn toàn ngẫu hứng. Ban
đầu Trần lăo có hẹn đến thăm một người quen ở làng Mỹ Á, gần làng Mỹ Lợi.
Người bạn nói chỉ cần tới Mỹ Lợi gọi điện, ông bạn ấy sẽ chỉ đường tới
nhà. Hơn 10 năm nay chưa lai văng Tư Hiền nhưng Trần lăo cứ lên đường,
có lạc lối cũng không sao v́ đi là đủ vui rồi. C̣n bạn đường? Th́ cứ gọi
lăo Thanh Kongkong. Lăo này bạn bè gọi là "dân chơi không sợ mưa rơi".
Thế là hai lăo khởi hành từ đây: làng Lại Thế, xă Phú Thượng, huyện Phú
Vang. Trần lăo định đi theo quốc lộ 1 về Phú Bài rồi rẽ sang cầu Trường
Hà, nhưng Thanh Kongkong gợi ư đi theo con đường về làng Ngọc Anh, Diên
Đại, nơi có con đường quê nhiều bóng mát.
Cứ lên Honda mà dong ruỗi. Con đường này quả là vắng vẻ, khá im mát và
nhất là mở ra một khung cảnh đồng quê thanh b́nh. V́ đang là mùa gặt cho
nên có thể thấy cánh đồng với những ụ rơm thơm thơm thật lớn. Lăo
Kongkong c̣n chỉ cho thấy những ụ rơm đang làm nấm to khác thường.
Từ xă Phú Thượng của huyện Phú Vang, con đường dẫn qua xă Phú Mỹ, Phú
Xuân, Phú Lương, Phú Đa. Thôn Nam Châu của xă Phú Đa nhắc nhở rằng đây
là làng của những người gốc Nam bộ theo pḥ vua Gia Long, được cấp đất
dưới thời vua Tự Đức để ổn định của sống về già ở đây. Nam Châu Hội Quán
kề bên phủ Đức Quốc Công ở Kim Long là nơi hội họp của họ.
Đến cuối xă Phú Đa chúng tôi rẽ trái đi theo con đường dẫn ra
cầu Trường Hà, mà có người cho là Trừng Hà với nghĩa Trừng là sáng mới
đúng. Nhưng khó mà nói cho mấy ông có quyền thế nghe. Cầu Huyền Yến
trước Cửa Hậu mà ông gọi là Bạch Yến th́ người dân cũng phải gọi theo
thôi. Dân có cầu mà đi là quí rồi. Tên với tuổi,
đúng với sai làm chi.
Qua cầu một đoạn th́ gặp ngay đường 49B. Chúng tôi rẽ phải và
cứ thế đi qua Vinh Thanh, Vinh An, Vinh Hưng. Măi tṛ chuyện chúng tôi
đi ngang ngă ba để rẽ sang làng Mỹ Lợi mà không hay. Cho đến khi
Kongkong nh́n thấy trên cao phía bên phải có đỉnh một ngọn tháp với lá
cờ Phật giáo bay phất phới mới hỏi chùa chi ri hè? Trần lăo nói trong
vùng này lăo chỉ biết một ngôi chùa trên núi là Túy Vân. Hỏi một người
bán quán bên đường th́ đúng là Túy Vân Sơn thuộc xă Vinh Hiền rồi. Hóa
ra là đi quá nhà bạn hơi xa. Nhưng có hề chi, cứ lên thăm chùa rồi gọi
bạn thôi. Qua điện thoại mới biết ông bạn cũng định rủ ḿnh ghé qua nhà
rồi đi thăm chùa. Lên chùa khoảng 20 phút th́ ông bạn từ nhà chạy đến
nơi.
Đường lên chùa hồi trước rất vắng, ngày nay hàng quán đông đúc và một
điều kỳ dị là con đường chạy xuyên qua chợ, đúng hơn là chợ đă "tự phát"
lấn ra đường mà không ai sắp xếp lại. Ra khỏi chợ là một con đường khá
quang đăng, nhưng ngay trước cổng chùa lại là mấy quán hàng bán cá liêu
xiêu nhếch nhác. Vậy mà nhà nước vẫn cứ xếp chùa thuộc hạng "di tích
lịch sử cấp quốc gia" và là một điểm tham quan trên bản đồ du lịch!
Chân núi Túy Vân chẳng có một băi để xe, nhưng may là c̣n chỗ trống để
đậu xe. Nh́n bên trái du khách thấy đầm Cầu Hai rất gần, nhưng bước đi
mấy bước liền thấy một băi rác "hoang sơ" một cách đáng sợ!
Cũng may là tấm bia của vua Thiệu Trị khắc bài thơ Vân Sơn Thắng Tích
năm 1841 th́ hăy c̣n.

Bia đề thơ Vân Sơn Thắng Tích của vua Thiệu Trị
Núi xưa có tên là Thúy Hoa, nhưng về sau do kỵ húy tên của Hoàng Hậu của
vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa cho nên đổi thành Thúy Ba, sau này là Thúy
Vân, nhưng dân gian gọi là Túy Vân.
Trên núi có chùa do Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) dựng để người
dân thấm nhuần Phật pháp. Nhưng qua thời gian hơn 100 năm đă sụp đổ, vua
Minh Mạng nhân một chuyến đi thăm cửa biển Tư Dung cho dựng lại chùa đặt
tên là Thánh Duyên, đằng sau xây gác đặt tên là Đại Từ, và nơi cao nhất
cất một tháp gọi là Điều Ngự (Đức Phật có một danh hiệu là Điều Ngự
Trượng Phu).
Vua Thiệu Trí đánh giá chùa Thánh Duyên là một trong 20 cảnh đẹp bậc
nhất của kinh đô. Bài thơ Vân Sơn Thánh Tích là để ca ngợi cảnh này:
Bích thúy toàn ngoan bất kế xuân
Dầu long ẩn phục liệt lân tuân
Huệ phong chung độ u lâm hưởng
Không cốc hương la pháp hải tân
Thụ luyến từ vân phù bích lạc
Kính xuyên tăng kịch tạp hồng trần
Thánh duyên phổ tế hàm quy thiện
Phật tích tăng quan tự hữu nhân
(Tạm dịch )
Ṿi vọi non xanh ước mấy xuân
Rắn rồng nương náu chốn hang thần
Gác thiền chuông điểm rừng sau dội
Cơi diệu hương đưa biển pháp nhuần
Cây vướng mây lành lên thượng giới
Đường xuyên guốc sải lấm hồng trần
Duyên vua rưới khắp đời quy thiện
Cảnh Phật huy hoàng hẳn có nhân
Điều đáng mừng là chùa nay đă được trùng tu đàng hoàng.

Cổng tam quan chùa Thánh Duyên
Đi vào cổng nh́n bên trái có một tấm bia khác. Tấm bia này đề
là Ngự Chế, trong đó có 4 bài thơ có lời chú giải bằng chữ Hán của vua
Minh Mạng khắc năm 1837.

Bia Ngự Chế của vua Minh Mạng
Bài thứ nhất dịch nghĩa là:
Dự lễ chùa Thánh Duyên
Xưa đổ nát gần hết,
Nay hầu hết trang nghiêm
Hào quang ngời bảo tướng,
Tuệ nhật sáng kim thân.(1)
Lưng dựa núi Thúy Vân,
Mặt hướng về biển cả
Cửa tùng hoa mừng khách,
Lối đá chim đón người.
Khánh rung xuyên rừng rậm
Tiếng kinh rộn hàng cây.
Núi sâu đẹp như vẽ,
Cảnh đẹp vui ḷng người.
Khấu đầu chúc thọ mẹ,
Cầu đảo phúc con dân.
Đâu dám xưng hậu thuật(2)
Chỉ cốt rạng tiền nhân(3)
Chú giải:
Thời xưa núi này chùa rất nhiều, đều do Hoàng Tổ Hiển Tông Hiếu Minh
Hoàng đế (Nguyễn Phúc Chu) xây dựng. Về sau trải qua nạn giặc Tây
Sơn, nơi đây bị tàn hủy gần hết. Năm ngoái ta đi kinh lược tới đây,
nghĩ rằng: danh sơn, thắng tích không thể để mai một mà không truyền
lại. Huống chi đây là nơi Hoàng Tổ của ta làm ra để cầu phúc cho
thần dân, vả lại đầu năm sau là đại lễ mừng thọ bảy mươi tuổi cho
Thánh mẫu Hoàng thái hậu, v́ nhớ nghĩ đến mẹ nên đẩy mạnh việc mở
rộng Thánh Duyên. Vào dịp tốt mùa thu năm đó ở nền cũ xây chùa rồi
đặt tên là: “Thánh Duyên tự”, ư nói rằng Hoàng Tổ lưu dấu tích ở
đây, cho nên ta đặt ra câu đối rằng:
“Thánh tức là Phật, Phật tức là Thánh, có Thánh ấy mới mở ra sự cao
sâu của Phật pháp.
Duyên vốn có Nhân, Nhân vốn có Duyên, có Nhân đó mới khuếch trương
sự đủ đầy của thiện duyên.”.
Lại ở sau đó trên lưng chừng núi cho xây một cái gác tên là “Đại từ
các”. Lại nữa, ở trên đỉnh núi xây một cái tháp tên là “Điều Ngự
tháp”. Vào tháng Giêng năm này cũng đă hoàn tất để cung kính phụng
thờ chư thiên tôn Phật. Hồi đầu mùa xuân, v́ chưa rảnh rỗi đến đây.
Nay là tháng ba tiết trời mùa xuân mát mẻ, vạn việc triều chính vơi
bớt, ta mới thân hành d́u mẫu thân lên danh thắng này, thấy điện vũ
huy hoàng, bảo tướng trang nghiêm. Trong ḷng Thánh mẫu vui vẻ, khỏe
khoắn bước chân, liền quay lại dạy ta rằng: “Hoàng đế có thể nói là
người giỏi kế tục những việc làm tốt của các vị tiên vương đặt ra
vậy”. Ta là phận làm con chỉ biết cảm tạ mà không dám nhận lời ban
khen. Chỉ cốt trên th́ phụ giúp hoàn thành thiện tâm của Hoàng tổ,
thứ đến là làm đẹp ḷng Thánh mẫu, cầu mong cho Thánh mẫu được
thượng thọ sống lâu, quốc gia đươc an b́nh, dưới th́ thần dân được
khang thái, mùa màng tươi tốt, sông nước thuận ḥa, nội tĩnh ngoại
yên, đó thực là ư nguyện vốn sẵn từ trước của ta vậy.
Bài thứ hai dịch nghĩa là:
Gác Đại Từ
Gác cao dựa lưng núi
Cúi nh́n cảnh sắc nhiều.
Vượt lên cao trăm bậc,
Núi thẳm vờn mây trời.
Phía Nam ngàn núi phục,
Phía Bắc biển rộng chầu,
Rừng sâu cây rậm rạp,
Quanh co lối dẫn vào.
Lưng trời mưa hoa tụ,
Giữa trưa gió cuốn hương.
Chân như(7) nơi thắng địa
Bảng vàng đề “Đại từ”
Bài thứ ba dịch nghĩa là:
Lên tháp Điều Ngự
Bảo tháp nguy nga tận núi cao
Mười bậc trèo lên há mỏi sao,
Bốn mặt mênh mông ngàn đất rộng,
Ba tầng chọc thẳng giữa trời cao.
Điều Ngự ngàn thu c̣n lưu dấu,
Pháp luân thường chuyển vạn cổ truyền
Nội điển chưa am, thông diệu đế
Thiện tâm rộng mở hiểu chân thuyên.
Chú giải:
Trên tháp Điều Ngự dựng trục pháp luân bằng đồng. Bánh xe đều gắn
chuông. Đến lúc gió thổi vào, bánh xe chuyển động và phát ra tiếng,
xa gần đều nghe thấy. Lại nữa, tháp xây ba tầng. Tầng trên thờ Trung
Thiên Điều Ngự Thích Ca Mâu Ni Văn Phật Tây Thiên Cực Lạc Pháp Vương.
Tầng giữa thờ Nhân Gian Điều Ngự Phúc Bị Quần Sinh Vạn Thiện Chí Tôn.
Tầng dưới thờ Địa Phủ Điều Ngự Minh Sát Sâm Nghiêm Diêm La Chủ Tể.
Trung Thiên Điều Ngự là hiệu của vị Pháp Vương, sự tích này thấy
trong Kinh văn. Thứ hai theo ư của ta, thấy đây là vị đầu tiên sáng
lập ra đạo Phật. C̣n về Địa Phủ Điều Ngự U Huyền khỏi phải nói cũng
rơ. Đến như Nhân Gian Điểu Ngự mà hiệu là Phúc Bị Quần Sinh Vạn
Thiện Chí Tôn, hoặc có người hỏi có thuyết nào nói không ? Thưa rằng,
có thể đấy. Các vị vua trên thế gian chí thánh như hai ông Nghiêu,
Thuấn cho đến các triều đại Nam Bắc (hễ ai) làm chủ thiên hạ mà ban
ơn đức đến cho mọi người, để cho đời sau chịu phúc mà không có điều
ǵ đáng hổ thẹn, chê trách, người như thế th́ Thích gia gọi là Phật,
Nho gia gọi là Giác, c̣n Pháp gia gọi là Thầy. Phụng sự các vị ấy để
an ủi quần sinh, th́ có ǵ không được. Xét về lư th́ cũng chẳng có
ǵ sai trái.
Bài thứ tư dịch nghĩa là:
Thúy Hoa sơn hành cung tức cảnh.
Sau tường dựa chân núi,
Cửa sổ sát bờ nước
Non Thái nuốt Bắc hải.
Núi Đôi chạm nam thiên
Mắt phóng xa nh́n ngắm,
Ḷng vui mở mang nhiều.
Gió mát từ đâu thổi,
Khi nóng đă dần tiêu.
Sườn núi cây mây phủ,
Rừng hoa được mưa tưới.
Nửa đêm tiếng chuông vọng,
Giữa trưa kinh chùa vang.
Trương Văn Thanh
Trần Ngọc Bảo
Trang Trần Ngọc Bảo
Chân Trần
art2all.net
|