Trương văn Thanh & Trần Ngọc Bảo

 

Ngẫu hứng Túy Vân

1   2   3   4

 

Phần 4


Trên đường về lăo Kongkong ghé chợ Vinh Thanh họp ngay ở lề đường (nhưng đường không có lề) chụp h́nh mấy con cá. Thấy lăo, mấy o bán cá mời đon đả. Lăo cũng cười xề xề và xin chụp mấy tấm h́nh. Mấy o coi bộ "chịu đèn" rất vui vẻ. Lăo Kongkong quả là có số "đào bông"!



Hai o bán cá chợ Vinh Thanh ăn mặc như nhân viên văn pḥng




Mấy bà này ra vẻ là dân bán cá "thứ thiệt", sẵn sàng "nghinh chiến" với khách hàng cho nên Kongkong chỉ dám đứng xa xa "nḥm" tới!



Cá chi đây mà nằm rầu rĩ, ruồi bu không thèm đuổi?



Con cua đang "cười mím chi" với Thanh Kongkong

 


Cá chuồn có vây thật dài nhưng không bay được nữa
(Than ôi, thời bay nhảy nay c̣n đâu?)




Cá đuối giương mắt "ḍ hỏi" lăo Kongkong đang mần chi
 

Nhưng cá mà chụp kiểu "dă chiến" như thế này không đẹp, đi lui đi tới một hồi thấm mệt lăo ghé qua xe nước mía tán tỉnh cô hàng đôi câu.

Trần lăo nảy ra ư không đi theo đường cũ mà tiếp tục đi thẳng về cửa Thuận. 

Đến thôn Mỹ Khánh, xă Phú Diên hai lăo rẽ ra biển thăm ngôi tháp Chàm được phát hiện năm 2001. Năm ấy dân đi đào quặng titan (dĩ nhiên là đào chui!) t́m thấy một đống gạch thật lớn nằm cách mép nước khoảng 100 m. Họ chỉ rỉ tai với nhau nhưng rồi ông nhà nước cũng nghe được và cử người đến khảo sát.

Các chuyên gia tuyên bố đây là một ngôi tháp Chàm thuộc loại cổ nhất trong các tháp chàm ở miền Trung, được xây khoảng thể kỷ thứ VIII. Nóc tháp không c̣n nhưng phần thân tháp c̣n khá nguyên vẹn. Tháp h́nh chữ nhật với chiều dài hơn 8m và chiều rộng hơn 7m, và chiều cao thân và nền khoảng hơn 3m. Năm 2006 tỉnh quyết định xây kè và lồng kính bảo vệ. Năm 2007 hoàn thành và thay v́ gọi là tháp Mỹ Khánh như ban đầu th́ gọi là tháp Phú Diên.

Bên trong tháp có bệ thờ cao khoảng 0,7m, có lẽ giống với bệ thờ ở bên ngoài, nằm trên một nền tháp kế bên.



Tháp nằm khá sâu trong ḷng đất, được xây kè và lồng kính bảo vệ
 



Mặt trước tháp có cổng vào, bên trong có bệ thờ


Mặt bên của tháp



Bia của nhà nước đặt trong lồng kính




Nền của một tháp khác đă sụp đổ, có bệ thờ ngay ở bên trong nay lộ ra, ở cách tháp kia chừng 4m
 

Di chỉ khảo cổ Chàm, hay Chăm ở Huế không c̣n nhiều. Nhưng có lẽ tiếng nói của người Chàm đă được pha trộn với tiếng địa phương Thanh Hóa, Nghệ An để thành giọng Huế ngày nay. Các điệu ḥ Huế nghe buồn man mác có lẽ do chất chứa nỗi buồn da diết của người Chàm. Các điệu múa cung đ́nh cũng không khỏi mang ảnh hưởng văn hóa Chàm. Các địa danh như Sam, Sịa, An Lỗ, An Khốt không có nghĩa trong tiếng Việt có lẽ là tên cũ của người Chàm. Trong tế bào dân Huế chắc chắn có ADN của người Chàm! Không ngạc nhiên ǵ khi dân Huế vẫn thờ cúng bà chúa Ngọc, tức là Thiên Y A Na, là Po Naga, là bà Mẹ đất nước Champa, cũng là bà mẹ chung.

Hai lăo tiếp tục đến băi biển Ḥa Duân và nhớ tới một di tích lịch sử khác, rất quan trọng, nhưng ít người biết tới và đang trong t́nh trạng hoang phế. Đó là Trấn Hải Thành.

Băi tắm Ḥa Duân xưa kia chính là cửa biển Thuận An. Cửa Thuân An ngày nay được sóng biển mở ra vào đầu thế kỷ XX. Cửa Thuận An cũ dân gian gọi là cửa Eo. Vua Gia Long đă xây một căn cứ để trấn giữ địa điểm hiểm yếu này vào năm 1813 và đặt tên là Trấn Hải Đài. Vua Minh Mạng đă cho mở rộng, xây thêm thành lũy năm 1834 và gọi là Trấn Hải Thành. Thành được xây h́nh tṛn, để khi sóng biển dâng cao đập vào th́ khó sạt lở. Vua cho đặt nhiều khẩu súng thần công với khoảng gần 100 ụ súng. Ṿng thành có đường kính khoảng 100m và chu vi 300m, tường dày 12m, cao hơn 4m. Trong thành xây một đài quan sát gọi là lầu Quan Hải, có trang bị ống thiên lư (ống nḥm).  Thành có hai cổng, cổng trước nh́n ra biển và cổng sau.Bên ngoài thành có hào nước nay không c̣n. Ở ngoài bờ biển vua cho đổ đá sát biển làm kè và trồng hơn 4000 cây dừa để giữ đất.

Năm 1858 người Pháp đánh Đà Nẳng. Vua Tự Đức đề pḥng bằng cách xây thêm các đồn lũy khác ở hai bên sông Hương gần cửa biển để tương trợ nhau như đồn Cồn Sơn, Hạp Châu, Qui Lai, v.v. Vua c̣n cho giăng xích sắt ngang qua sông Hương để ngăn thuyền tiến vào. Vua c̣n đặt mấy ngàn quân đồn trú trong thành. Các vua Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức tổ chức luyện tập thủy quân thường xuyên.



Thành Trấn Hải



Thành Trấn Hải



Bên trên tường thành có các ụ súng, với các lỗ châu mai



Quan Hải đài



Quan Hải đài



Cổng sau Trấn Hải Thành

Trong thành hiện nay có một đơn vị Biên Pḥng trú đóng nên không vào được

Năm 1883 khi vua Tự Đức vừa băng hà, chưa kịp chôn cất th́ quân Pháp tấn công vào ngày 18-8. Pháp đem 6 tàu chiến từ Nam bộ ra và 2 tàu từ Bắc bộ vào với hơn 1.000 quân. Quân Việt chống cự mănh liệt suốt 3 ngày. Đạn quân ta cũng bắn cháy tàu La Vipere và tàu Le Bayard của Pháp. Nhưng sức công phá và độ chính xác của súng thần công tỏ ra thua kém đại bác trên tàu Pháp. Sáng ngày 20-8 đạn Pháp bắn vỡ thành và làm nổ kho thuốc súng, quân ta đánh giáp lá cà với quân đổ bộ suốt buổi sáng. Quân Việt vẫn dùng gươm dáo, và quá ít súng trường cho nên đă thất trận. Quân sĩ thiệt mạng hơn 1200 người, bị thương hơn 1.500 người. Hữu Quân Đô Thống Lê Sĩ, Thống Chế Lê Chuẩn, Tham Tri Lâm Hoằng, Chưởng Vệ Nguyễn Trung tử trận. Đại thần Trần Thúc Nhẫn được vua Hiệp Ḥa cử đi thương thuyết, nhưng khi tới nơi th́ thấy thành đă bị tấn công dữ dội. Sứ mạng không thành ông nhảy xuống cửa biển tự vẫn.

Quân đội đă chiến đấu rất dũng cảm khiến người Pháp cũng phải khâm phục. Sau này Hạm Trưởn Picard Destelan đă viết trong báo cáo:
Sự pḥng thủ này đă chịu đựng một cách kiên cường ba ngày pháo kích...Các pháo thủ ấy đă chết trên các khẩu đại bác của họ, họ là những người dũng cảm... Họ nằm xuống và cát vùi họ vào ḷng đất ở sau những khẩu đại bác đă làm cho họ trở nên tuyệt vời.

Người Pháp cũng đổ bộ vào làng Thuận An và tàn sát dân thường. Về sau dân làng lập một ngôi miếu thờ chung cả dân và quân sĩ hy sinh gọi là Âm Linh Từ, nhưng bây giờ hai lăo không biết ngôi miếu này nằm ở đâu.

Sau trận này triều đ́nh phải kư kết ḥa ước Harmand, và năm sau (1884) là ḥa ước Patenotre, đánh dấu việc Pháp đặt ách nô lệ lên cả nước.

 

Có một chút an ủi khi thấy con đường chạy ngang băi Ḥa Duân được đặt tên là đường Trấn Hải Thành, và con đường đi ra phía sau mang tên Lê Sĩ.

Hai lăo đi qua cầu Thuận An (mới) th́ mặt trời bắt đầu xuống.


 

Cầu Thuận An cũ, bây giờ không dùng nữa.


Hai lăo leo qua rào chắn lên cầu cũ để ngắm hoàng hôn.



Hoàng hôn trên phá Tam Giang
 

Lăo Kongkong buột miệng hát "Nhớ ơi là nhớ đến bất tận." Ủa lăo này nhớ ai đây? Nh́n sang đầu cầu Thuận An theo hướng biển là nhà ai ḱa? Người ấy hiện đang ở bên bờ Đại Tây Dương.

Trương Văn Thanh
Trần Ngọc Bảo

 

 

Trang Trần Ngọc Bảo

Chân Trần

art2all.net