Nguyễn Phú Yên

NHÂN KỶ NIỆM 700 NĂM

THUẬN HÓA – PHÚ XUÂN – HUẾ

 

T̀M HIỂU

THANG ÂM NGŨ CUNG TRONG ÂM NHẠC HUẾ

 

      

 

(phần 1)

 

Thang âm và điệu thức là yếu tố cơ bản và nổi bật trong mỗi nền âm nhạc của một dân tộc hoặc một cộng đồng cư dân có thể trải dài trên một địa bàn rộng lớn. Có thể nói đó chính là ngôn ngữ âm nhạc của mỗi dân tộc, thể hiện lối sáng tạo trong tư duy nghệ thuật của dân tộc đó. Chính v́ vậy đó là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc từ cổ đại đến hiện đại quan tâm và t́m hiểu,  từ nguyên lư h́nh thành đến cách cấu tạo thang âm và điệu thức, từ đó xây dựng nền tảng lư thuyết âm nhạc và nhạc luật cho một dân tộc.

 

I. SỰ H̀NH THÀNH CÁC THANG ÂM TRONG  LỊCH SỬ ÂM NHẠC.

Âm nhạc xuất hiện khi đời sống loài người h́nh thành, từ dạng cổ sơ với các bộ tộc sinh sống ở khắp các châu lục. Thế giới âm thanh và tiếng động bao quanh chúng ta. Người ta lắng nghe âm thanh của thiên nhiên như tiếng ŕ rào của lá cây trong gió, tiếng chim kêu trong đại ngàn, tiếng sấm rền như tiếng trống, tiếng ŕ rào êm dịu của ḍng nước... và mô phỏng nó bằng những dụng cụ thô sơ nhất là những vật dụng trong đời sống. Đó là chiếc kèn từ ống xương, chiếc tù và bằng sừng con thú, tiếng sáo từ cây lau sậy hoặc âm thanh của đá hoặc kim loại khi gơ vào... Và nhạc cụ h́nh thành như thế, ngay từ thời tiền sử.

Ở thời Hy Lạp cổ đại, Pythagore (582-493 trước CN) đă phát hiện “ngũ độ tương sinh” hay c̣n gọi là ṿng quăng 5, tức là các âm bậc lần lượt theo quăng 5 từ thấp lên cao. Thời ấy người Hy Lạp thường dùng ít âm bậc, sau đó đến thế kỷ thứ 8, thứ 7 trước CN mới hoàn thành thang âm thất cung là mi fa sol la si do re. Đến thế kỷ thứ 4 trước CN th́ Aristoxene mới phát hiện nguyên lư thang 12 âm luật điều ḥa. Ả Rập cổ đại đă dùng quăng 4 đúng để xây dựng thang 17 tiểu âm, c̣n Ấn Độ cổ đại cũng đă phát hiện thang 22 tiểu âm (sruti), từ đó h́nh thành thang âm do re mi fa sol la si.

Thời cận đại, khoảng năm 1691, nhà lư luận người Đức Andreas Werckmeister (1645-1706) đề xuất thang 12 âm b́nh quân luật được vận dụng phổ biến cho đến ngày nay.

Ở Trung Hoa, từ khoảng năm 2500 trước CN có học giả Linh Luân đă sáng chế hệ thống ngũ cung mà mỗi tên tượng trưng cho mỗi giai cấp trong xă hội, từ vua cho tới dân. Truyền thuyết kể rằng Linh Luân trong khi thổi những ống trúc đă chú ư đến tương quan giữa chiều dài các ống trúc và âm thanh phát ra. Ông nhận thấy từ ống trúc đầu tiên có một âm thanh, nếu cắt ống thứ hai thành hai phần ba th́ sẽ có một quăng 5. Cứ như thế đối với ống trúc thứ ba, thứ tư, thứ năm... th́ ông có một ṿng quăng 5. Các âm đó tạo thành thang âm ngũ cung (đây chỉ là quy luật ngũ cung chứ chưa phải là nhạc ngũ cung). Các nhà âm nhạc học đă t́m thấy thang âm ngũ cung này trong nhiều nơi trên thế giới, từ Trung Quốc, Nhật Bản, các nước châu Á cho đến nước Mỹ, vùng Groenland và cả ở châu Âu nữa. Có phải đây là nét đặc thù của âm nhạc phương Đông chăng v́ ở các nước này thang âm này xuất hiện nhiều hơn? Hay là thang âm ngũ cung là sự kéo dài của một hệ thống tam âm mà hiện chúng ta c̣n t́m thấy ở những bộ tộc nguyên thủy ở châu Phi và châu Mỹ?      

Vào năm 1058 trước CN, triều đ́nh nhà Chu ở Trung Hoa đă thành lập Bộ Lễ nhạc và đă sử dụng năm âm cung thương giốc chủy vũ để h́nh thành thang âm ngũ cung. Hệ thống lễ nhạc cung đ́nh nhà Chu trở thành mẫu mực cho lễ nhạc cung đ́nh Trung Hoa mà sau này gọi là nhă nhạc. Thời Chiến quốc (thế kỷ 4 trước CN), Quản Tử cũng phát hiện luật “tam phân tổn ích” tương tự  ngũ độ tương sinh. Thời Hán Nguyên đế (thế kỷ I trước CN) Khổng giáo được khôi phục, nhă nhạc đă trở thành luật, song nhă nhạc thời Chu đă thất truyền nên phải sáng chế nhă nhạc mới từ âm nhạc dân gian và cả âm nhạc ngoại tộc. Kinh Pḥng (77-37 trước CN) phát hiện luật về âm sai cổ đại và tính đến 60 luật. C̣n Tiền Lạc Chi, khoảng thế kỷ thứ 5, lại đẩy giới hạn đến 360 luật.

Ở Nhật Bản, thời kỳ Nara (553-794) chứng kiến sự xác lập nhà nước quân chủ cùng với sự du nhập đạo Phật và âm nhạc lục địa vào Nhật Bản. Năm 645, theo lệnh hoàng đế Mommu đă thành lập bộ phận chuyên trách âm nhạc gọi là gagaku-ryo, gồm hơn 400 nhạc công và vũ công. Năm 701, âm nhạc cung đ́nh được nhập từ Trung Hoa và Triều Tiên, nhà nước đă thành lập Văn pḥng âm nhạc cung đ́nh trông coi và sử dụng hàng trăm nhạc công và vũ công nước ngoài. Năm 736, các giáo sĩ Ấn Độ và Chămpa mang đến Nhật Bản phong cách âm nhạc Ấn Độ và Đông Nam Á. Năm 746 âm nhạc cung đ́nh Nhật Bản có thêm bộ phận âm nhạc Bokkaigaku của những người di dân từ quốc gia Bokkai. Đến thời kỳ Heian (794-1185) là thời thịnh trị nhất của âm nhạc cung đ́nh Nhật Bản. Suốt thế kỷ tiếp theo loại nhạc này được biểu diễn thường xuyên. Từ thế kỷ 14, Nhật có hơn 200 năm loạn lạc, âm nhạc v́ thế cũng bị suy thoái, tuy vậy nhờ bộ sách của Toyohara mà hệ thống lư thuyết, bài bản được lưu giữ lại. Phải đợi đến thời kỳ Thiên hoàng Komei (1847-1866) âm nhạc cung đ́nh mới được vực dậy và phát triển trong thế kỷ 20.

Ở Triều Tiên, vào thế kỷ IV trước CN, âm nhạc được tŕnh diễn ở các lễ hội nông nghiệp. Sau đó là thời kỳ Koguryo tiếp nhận lề lối âm nhạc của Trung Hoa, chiếc đàn komungo của họ cũng mô phỏng theo đàn cầm Trung Hoa. Vương quốc Paekche chịu ảnh hưởng âm nhạc nam Trung Hoa, du nhập loại nhạc múa mặt nạ Gigaku. Thế kỷ thứ IV, vương quốc Silla kém phát triển, tách biệt giao lưu văn hóa. Cuối thế kỷ thứ VII, nhạc cụ điển h́nh của Silla là cây đàn 12 dây kayakum phỏng theo đàn tranh Trung Hoa. Thời kỳ hoàng kim sau đó có hai loại nhạc là Hyangak có nguồn gốc bản địa và loại Tangak du nhập từ âm nhạc đời Đường. Đến thời Koryo (938 – 1392), âm nhạc Phật giáo thịnh hành và bắt đầu h́nh thành âm nhạc cung đ́nh Triều Tiên gọi là Aak (nhă nhạc). Thế kỷ 12 có dàn nhạc Tungga đánh trên thềm và Hon’ga đánh dưới sân, lại tiếp nhận múa nghi lễ và các lễ thức cung đ́nh. Triều đại Yi (1392 – 1910) lấy Tống Nho làm quốc giáo, lối hát Phật giáo suy yếu, xuất hiện thêm hai loại nhạc Hyangak và Koch’wi và ủng hộ nhạc cung đ́nh Aak. Thế kỷ XVI, XVII Triều Tiên bị Nhật Bản rồi người Măn Châu xâm chiếm, Aak thất truyền nhưng sau đó lại được tŕnh diễn trong cung đ́nh. Thế kỷ XVIII xuất hiện tên mới là Habak dùng chỉ thứ nhạc tŕnh diễn bởi nhạc cụ Triều Tiên và Trung Hoa phối hợp. Tóm lại Aak là loại nhạc nghi lễ và giải trí cung đ́nh, giai điệu sử dụng thang âm thất cung ít luyến láy.

Ở Ấn Độ, thánh kinh Sama - Veda cho biết Đấng Brahma đă cho người dân của ngài cây đàn vina được người Ấn yêu thích; với họ âm nhạc cũng quan trọng như sự hài ḥa của vũ tru, tương tự như với tôn giáo. Nhạc cụ cổ nhất của họ là từ đảo Ceylan. Theo truyền thuyết, vua Ravana khoảng 7000 năm trước đă sáng chế cây đàn được đặt tên là Ravanastron, đó là tổ tiên của các loại đàn dây.

Ở Việt Nam,  căn cứ một số sử liệu cổ Việt Nam và Trung Quốc, bước đầu có thể nói đến âm nhạc thời Hùng Vương (khoảng thế kỷ thứ 5 trước CN đến năm 43 sau CN), rồi âm nhạc sau thời Hai Bà Trưng ( từ năm 43 đến khoảng năm 544), âm nhạc sau thời Lư Nam Đế (từ năm 544 đến năm 939). Đó là các thời kỳ mà các nhà nghiên cứu Tây phương gọi là thời kỳ tối tăm (période obscure) v́ họ không t́m thấy tư liệu. Song những ǵ c̣n lại như các h́nh vẽ vũ nhạc trên trống đồng, trên các bệ đá chùa Vạn Phúc cùng các tư liệu thành văn của Trung Hoa như Ly Tao của Khuất Nguyên, Thuyết uyển của Lưu Hướng, Hậu Hán thư của Phạm Việp…, của Việt Nam như Lư hoặc luận của Mâu Tử và các mô tả của Trịnh Huyền, Vy Chiêu, Khương Tăng Hội, Trần Thọ, Thích Đạo Cao, Thích Tăng Hựu, Thích Huệ Hạo... cho ta h́nh dung được sự hiện diện sinh động và khá phát triển của âm nhạc trong đời sống dân tộc Việt thời đó. Mà đă có đời sống âm nhạc tất phải có phương tiện diễn tả, đó là các nhạc cụ (ít nhất 12 nhạc cụ thời Mâu Tử ) và các thể loại âm nhạc (giáo nhạc, thế nhạc, quân nhạc), kể cả đă h́nh thành tư duy lư luận về mặt lư thuyết (Mâu Tử biết có những sách vở về âm nhạc, sự thông dụng của năm âm, của luật lữ và những thang âm của chúng).  Âm nhạc Việt thời đó không chỉ thịnh hành trong cộng đồng dân tộc mà c̣n thâm nhập ngược vào Trung Hoa như sách Sử kư và Tiền Hán thư đă công nhiên xác nhận. 

Thời cổ đại, từ nền văn hóa Bắc Sơn đến văn hóa Đông Sơn, sản phẩm tiêu biểu là trống đồng cùng với chiêng cồng, trống mặt da, phách và khèn là các nhạc cụ sử dụng cho vương quyền . Đến trước năm 40, sử sách ghi rằng “Sĩ Nhiếp ra vào khua chuông, khánh, đủ lễ nghi già tiêu, cổ xúy tưng bừng cả dọc đường” (sách Lĩnh biểu lục dị) cho thấy ta đă có một dàn nhạc tương tự dàn nhạc cung đ́nh đời nhà Hán. Trong giai đọan giành độc lập và xây dựng nhà nước phong kiến trước năm 1009, sử liệu chỉ cho biết có một phụ nữ là bà Phạm Thị Trân có dạy chèo cho quân đội (không rơ có liên hệ ǵ với chèo ngày nay không) và Lê Hoàn sau khi đánh thắng nhà Tống thường nghe âm nhạc và xem múa hát. Thời kỳ nhà Lư (1010 – 1225) ta có quá ít tư liệu về âm nhạc cung đ́nh. Sử cho biết thời Lư ta có những đội múa hát. Vua Lư Thái Tông đánh thắng Champa “bắt các cung nữ giỏi nghề ca múa khúc Tây Thiên đem về”, vua Lư Thánh Tông “tự phiên nhạc khúc…, rồi sai nhạc công ra hát”,  vua Lư Cao Tông “sai nhạc công đặt ra khúc nhạc gọi là Chiêm Thành âm. Khúc nhạc này giọng điệu sầu oán đau thương, ai nghe cũng phải khóc”. Khảo sát các bệ đá ở chùa Vạn Phúc (làng Phật Tích, Bắc Ninh), một số nhà nghiên cứu khẳng định dàn nhạc khắc trên bệ đá có thể là dàn nhạc cung đ́nh triều Lư. Thời kỳ nhà Trần (1225 – 1400), cung đ́nh đă có hai dàn nhạc: đại nhạc và tiểu nhạc, chứng tỏ âm nhạc cung đ́nh đời Trần đă có thể chế nhất định. Dàn tiểu nhạc cho thấy sự ảnh hưởng của âm nhạc Chămpa và Trung Hoa cũng như chưa tách hẳn truyền thống dân gian. Tư liệu âm nhạc thời kỳ này thật hiếm hoi, chỉ nghe tên gọi của 5 bài là Nam thiên lạc, Ngọc lâu xuân, Đạp thanh du, Mộng du tiên, Canh lậu trường. Triều đại nhà Hồ (1400 – 1414) tuy ngắn ngủi nhưng trong cung đ́nh đă có nhă nhạc.  Tuy vậy phải đến thời nhà Lê (1427 – 1788) th́ điển chế nhă nhạc mới hoàn thiện. Năm 1437 vua Lê Thái Tông giao cho Nguyễn Trăi và Lương Đăng “làm nhạc khí, dạy tập nhạc múa”. Nguyễn Trăi tâu rằng: “Ḥa b́nh là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc. Thần vâng chiếu soạn nhạc, không dám không dốc hết tâm sức. Nhưng v́ học thuật nông cạn, sợ rằng trong khoảng thanh luật khó được hài ḥa…”. Do đó nhạc cung đ́nh nhà Lê đều do Lương Đăng “phỏng theo quy chế nhà Minh mà làm” (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kư toàn thư). Theo đó, có các thể loại nhạc tế giao, nhạc tế miếu, nhạc tế ngũ tự, nhạc cứu, nhạc đại triều, nhạc thường triều, nhạc cửu tấu… với hai dàn nhạc: đường thường chi nhạc, đường hạ chi nhạc. Thời Lê Thánh Tông có bộ phận chuyên trách về âm nhạc, đó là Thự Nhă nhạc, c̣n gọi là Bộ Nhă nhạc; bên cạnh đó c̣n có Thự Đồng văn chuyên tập âm luật để ḥa nhạc (Phạm Đ́nh Hổ, Vũ trung tùy bút).

Thời kỳ nhà Nguyễn (1802 – 1945) vẫn c̣n hai bộ Đồng văn, Nhă nhạc do giáo phường (tức cơ quan phụ trách âm nhạc cung đ́nh) phụ trách. Theo bộ sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ và công tŕnh nghiên cứu của giáo sư Trần Văn Khê, âm nhạc cung đ́nh triều Nguyễn gồm các dàn nhạc và nhóm nhạc sau: dàn Nhă nhạc, dàn Nhạc huyền, dàn Đại nhạc, Ti trúc tế nhạc, Ty chung, Ty khánh, Ty cổ, Bả lệnh (quân nhạc)… Thời Pháp thuộc, Nhă nhạc nói riêng và âm nhạc cung đ́nh triều Nguyễn nói chung chỉ c̣n là công việc riêng của hoàng cung, đă mất đi chức năng và tác động xă hội vốn có của ḿnh. Tuy nhiên một số tác phẩm âm nhạc này, một bộ phận của âm nhạc dân tộc, vẫn được sử dụng ngoài cung đ́nh. Điển h́nh là Mười bản Ngự (c̣n gọi là Thập thủ liên hoàn gồm Phẩm tuyết, Nguyên tiêu, Hồ Quảng, Liên hoàn, B́nh bản, Tây mai, Kim tiền,Xuân phong, Long hổ, Tẩu mă) và theo cụ Trần Kích – một nghệ nhân ở Huế, c̣n có Năm bài Ngự  (gồm Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm và Tiểu khúc), tất cả đă hội nhập loại h́nh âm nhạc thính pḥng Huế của các bậc trí giả và nghệ nhân, dần dần phổ cập rộng răi trong dân gian. Loại nhạc này gồm các bài ca và bản nhạc không lời, sau đó thêm vào những bài nhạc lễ, dân ca với dàn nhạc gọn nhẹ gồm ba, bốn nhạc cụ diễn tấu hoặc đệm cho ca.

 

II. SỰ XUẤT HIỆN CỦA THANG ÂM NGŨ CUNG. 

Các nhà nghiên cứu âm nhạc Tây phương khẳng định thang âm ngũ cung xuất hiện từ thời tiền sử ở nhiều vùng trên thế giới, có mặt ở các bài ca truyền thống của các dân tộc châu Aâu, các thổ dân ở Mỹ, Úc và ở Đông Á… Hai quăng âm thiên nhiên đầu tiên mà nhân loại bắt gặp là quăng 8 và quăng 5 nghe được bằng thính giác. Ṿng quăng 5 hay c̣n gọi là sự tiến triển của các quăng 5 đúng (quinte juste) là nền tảng thiên nhiên của thang âm ngũ cung. Ví dụ ta có các quăng 5: Fa – Do, Do – Sol, Sol – Re, Re – La… Những âm quá cao mà giọng người không theo nổi sẽ được hạ xuống một quăng 8 để có một âm vực vừa phải. Chỉ cần 4 bước phát triển ṿng quăng 5 ở trên sau khi được dịch giọng ta có một thang âm ngũ cung là Fa Sol La Do Re (Trung Hoa gọi là cung thương giốc chủy vũ, ta gọi là xang xê công liu ú; người Trung Hoa gọi thang âm này là cung hoàng chung). Nếu Fa là cung th́ Do là chủy, chủy nghĩa là bậc âm sáng chói, kêu như tiếng loa vang (dominante). Sự phát triển của ṿng quăng 5 hướng thượng sẽ dừng lại ở bước tiến thứ 12 v́ âm thứ 13 là bậc bổng của âm khởi điểm (Fa-Do-Sol-Re-La-Mi-Si-Fa#-Do#-Sol#-Re#-La#-Mi# (Fa). Đó là chu kỳ quăng 5, tức là quy luật ngũ cung.

Trong quá tŕnh tiến triển của quăng 5 sẽ xuất hiện các quăng âm đặc sắc khác. Trước hết nếu ta lót âm một quăng 5 vào ḷng một quăng 8 (Fa-Do, Do-Sol, âm Sol dịch xuống một quăng 8 th́ ta có Fa-Sol, xang-xê), như vậy nhị cung đă xuất hiện. Từ nhị cung ta tiến đến tam cung do sự xuất hiện của âm Sol (xê)- quăng 5 của Do (liu); Fa-Do-Sol (xang-liu-xê) là hai bước phát triển của quăng 5 hướng thượng, từ đây phát sinh thang âm tam cung. Ta có quăng 5 Fa – Do nằm lọt ḷng trong quăng 8 Fa – Fá, như vậy có 3 âm là Fa, Do, Fá. Ba âm này sẽ h́nh thành một quăng 5 và một quăng 4 đúng (Do – Fá). Quăng 4 này h́nh thành thang âm tứ cung. Và khi quăng 4 này được lót âm, ta có thêm quăng 3 thứ (Re – Fá): Fa – Sol – Do – Re – Fá (Sol là âm dịch xuống một quăng 8 của ṿng quăng 5 Do – Sol).

Trở lại với thang âm ngũ cung, ta thấy chỉ cần bốn bước của chu kỳ quăng 5 là đă h́nh thành thang âm ngũ cung, chẳng hạn cung hoàng chung (cung thương giốc chủy vũ) là dạng thức cơ bản, đó là dạng thanh cung v́ bậc cung (fa) đứng đầu thang âm. Ngoài dạng thức cơ bản ấy, ta có 4 dạng thức khác thường được người xưa dùng để sáng tác các âm điệu và các hơi nhạc. Đó là dạng thanh chủy v́ bậc chủy (do) đứng đầu thang âm; thanh thương (sol đứng đầu); thanh vũ (re làm chuẩn); thanh giốc (la làm khởi điểm). Do đó ta có các dạng ngũ cung như sau:

- thanh cung: fa sol la do re fa (hoàng chung)

- thanh chủy: do re fa sol la do

- thanh thương: sol la do re fa sol

- thanh vũ: re fa sol la do re

- thanh giốc: la do re fa sol la

Cách nhận dạng các thang âm này như sau: nếu một bộ 3 âm bậc có một quăng 3 thứ đi sau sẽ mang tên là tam liên âm Bắc: do re fa; nếu quăng 3 thứ đi trước th́ gọi là tam liên âm Nam: re fa sol; nếu bộ 3 âm bậc tạo thành 2 cung liên tiếp th́ khơng gọi là tam liên âm mà gọi là liên cung (người Hy Lạp cổ đại gọi là Pycnon): fa sol la. Nếu để ư ta sẽ thấy tính cách Bắc lộ rơ trong dạng thanh chủy, tính cách Nam lộ rơ trong dạng thanh vũ. Đó là hai dạng thanh âm ta thường thấy trong các bài bản cổ nhạc Việt Nam.

 

Phần 1

Phần 2

Phần 3