|
NHÂN KỶ NIỆM 700 NĂM THUẬN HÓA – PHÚ XUÂN – HUẾ
T̀M HIỂU THANG ÂM NGŨ CUNG TRONG ÂM NHẠC HUẾ
(phần 3)
HỆ THỐNG THANG ÂM NGŨ CUNG TRONG ÂM NHẠC HUẾ
Âm nhạc Huế từ lâu vốn rất phong phú bởi nó được sản sinh từ một vùng đất trước đây là của Chiêm Thành (Chăm) được người Việt miền ngoài tiếp nhận. Người Việt vào đây mang theo âm nhạc từ bao đời của họ, đến vùng đất mới họ nghe được âm nhạc của người bản địa (vẫn là cư dân đa số), từ đó có sự giao lưu, ḥa nhập, tiếp thu và có sự tiếp biến trong cảm quan âm nhạc của người Huế. Thật ra âm nhạc Chiêm Thành bước đầu ḥa nhập vào suối nguồn nhạc Đại Việt từ thời Lư khi vua Lư Thái Tông cho múa hát khúc Tây Thiên và vua Lư Cao Tông cho soạn khúc Chiêm Thành âm. Có thể đây chưa hẳn là bằng chứng về ảnh hưởng của nhạc Chiêm Thành trên nhạc Đại Việt nhưng điều đó có thể khẳng định từ thời điểm này chúng ta đă nghe và biết đến nhạc Chiêm Thành. Sau này khi hai châu Ô, châu Rí đă thuộc về Đại Việt, một phần âm nhạc Chiêm Thành đă ở lại với vùng đất này. Từ đó sự giao lưu trong sinh hoạt với phần âm nhạc bản địa đă để lại dấu ấn là điệu Nam hơi ai trong âm nhạc Huế.
I. Các loại h́nh trong âm nhạc Huế.
Trước khi t́m hiểu về hệ thống thang âm, chúng ta thử điểm lại các loại h́nh trong âm nhạc Huế. Có thể kể đến hai loại h́nh chính là âm nhạc bác học (nhạc cung đ́nh, nhạc thính pḥng...) và âm nhạc dân gian (nhạc tôn giáo, nhạc tín ngưỡng, các loại hát, ngâm, ru, ḥ, vè, lư...). Sự phân chia này không có nghĩa đây là hai loại h́nh biệt lập mà thật ra có sự giao thoa và ảnh hưởng lẫn nhau v́ đều là ngôn ngữ âm nhạc của xứ Huế cả.
1. Âm nhạc bác học : Gọi là âm nhạc bác học bởi nó xuất phát từ những nhà nghiên cứu thuộc tầng lớp hoàng gia, quan lại được cung đ́nh giao phó nhiệm vụ hoặc các nghệ nhân quư tộc. Họ có kiến thức về âm nhạc và nghệ thuật múa có thể sáng tạo nên bài bản làm mẫu mực cho giới thưởng ngoạn là vua quan hoặc tầng lớp cao trong xă hội.
a) Âm nhạc cung đ́nh: V́ Huế là kinh đô nước Việt dưới triều Nguyễn nên ở đây đă xuất hiện một thứ âm nhạc bác học mà loại h́nh nổi trội chính là âm nhạc cung đ́nh. Khi nói đến loại nhạc này, nhiều người thường gắn triều Nguyễn vào để gọi là âm nhạc cung đ́nh triều Nguyễn. Thật ra phải gọi đúng là âm nhạc cung đ́nh Việt Nam, bởi triều Nguyễn đă tích lũy tinh hoa của loại nhạc cung đ́nh từ các triều đại trước đó (từ trước đời Lư cho đến các đời chúa Nguyễn) và làm phong phú thêm để tạo nên điển chế, quy ước và vốn liếng bài bản (répertoire) được xếp đặt rành rẽ mang bản sắc riêng của âm nhạc bác học Việt Nam. Với giá trị phong phú và độc đáo của nó, ngày 7-11-2003 Tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đă công nhận âm nhạc cung đ́nh Huế là kiệt tác di sản phi vật thể và truyền miệng của nhân loại.
Nhạc cung đ́nh gồm có đại nhạc và tiểu nhạc, gọi chung là nhă nhạc, có các loại như sau: giao nhạc (nhạc dùng trong tế lễ bên ngoài cung đ́nh, đây là lễ tế trời đất tại Nam giao và Bắc giao), miếu nhạc (nhạc dùng trong các lễ tế miếu ở Thái Miếu, Triệu Miếu, Thế Miếu, Hưng Miếu, Văn Miếu, Liệt Miếu), ngũ tự nhạc (nhạc dùng trong các dịp tế Thành hoàng, Xă tắc, Thần Nông), đại triều nhạc (nhạc dùng trong các lễ đại triều như các ngày mồng một, rằm, Tết Nguyên đán, Tết Đoan dương, lễ Vạn thọ, Thánh thọ, lễ đăng quang, ngày truyền lô thi đ́nh, lễ ban sóc, lễ đón tiếp sứ thần nước ngoài...), thường triều nhạc (nhạc dùng trong các ngày mồng 5, mồng 10, 20, 25 hằng tháng là các ngày thiết thường triều, sử dụng ban Tế nhạc và dàn nhạc bát âm gồm 8 loại nhạc khí: bào, thổ, cách, mộc, thạch, kim, ty, trúc), yến nhạc (nhạc dùng trong các dịp đăi yến tiệc lớn trong cung đ́nh, có các dàn nhạc, ca công và các đội múa), cung nhạc (âm nhạc diễn tấu trong nội cung, có dàn nhạc và các điệu múa như múa văn, múa vơ, múa bông, múa đèn). Như vậy, trong nhạc cung đ́nh, ta thấy phần nhạc lễ giữ vai tṛ quan trọng.
Bên cạnh các loại nhạc trên, gồm nhạc diễn tấu có hoặc không có lời ca, trong một số nghi lễ c̣n có sự xuất hiện các điệu múa thiết yếu đi liền với lời ca hầu hết là tiếng Hán Việt. Cho đến nay c̣n tồn tại 11 điệu múa cung đ́nh, được tŕnh diễn trong các dịp khác nhau, gồm múa nghi lễ (các điệu múa Bát dật, Lục cúng, Song quan), múa chúc tụng (Tam tinh chúc thọ, Bát tiên hiến thọ, Tŕnh tường tập khánh, Vũ phiến, Lục triệt hoa mă đăng, Tứ linh), múa tuồng tích (Tam quốc- Tây du, Nữ tướng xuất quân).
b) Ca nhạc thính pḥng: Đây là loại h́nh âm nhạc bác học được các nhà trước tác âm nhạc chuyên nghiệp hoặc các nghệ nhân trong dân gian được trưng tập vào cung đ́nh làm ra trước hết phục vụ tầng lớp ḍng dơi vương triều và quư tộc, thường được gọi là ca Huế. Nó không thuộc loại âm nhạc cung đ́nh, cũng không thuộc âm nhạc dân gian. Tuy vậy ca Huế tiếp thu được phong cách tao nhă của nhạc cung đ́nh, lời ca mang đậm tính chất văn chương đồng thời tiếp thu được tinh hoa âm nhạc dân gian để làm giàu bản sắc riêng của loại h́nh ca nhạc này. Ca Huế được phát triển qua thời gian để đi đến mức độ hoàn chỉnh thành đường nét giai điệu của ḷng bản cố định. Loại h́nh này có lời ca ít dính dáng đến sinh hoạt lao động của xă hội mà trước hết trở thành thú vui tao nhă của tầng lớp cao trong xă hội cũ. Đây là h́nh thức ca nhạc thính pḥng với không gian diễn tấu nhỏ hẹp với một nhóm ít diễn viên. Tuy vậy nó đă vượt ra ngoài khuôn khổ của nhạc thính pḥng để ngày càng được phổ biến sâu rộng hơn trong dân gian. Ca Huế có lợi thế lời ca bằng tiếng Việt, dễ nhớ dễ thuộc hơn chữ Hán. Chính v́ vậy ca Huế dễ được quần chúng tiếp nhận, nó có đời sống lâu dài cho tới ngày nay và đă trở thành tài sản chung của dân gian.
Hiện ca Huế có một số bài cơ bản như sau: - các bài điệu Bắc: Lưu thủy, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long ngâm, Cổ bản, Lộng điệp, Phú lục (nhanh và chậm), mười bản Tàu (Phẩm tuyết, Nguyên tiêu, Hồ quảng, Liên hoàn, B́nh bản, Tây mai, Kim tiền, Xuân phong, Long hổ, Tẩu mă). - các bài điệu Nam hơi ai: Nam ai (Ai giang nam), Nam b́nh, Quả phụ, Tương tư khúc. - các bài điệu Nam hơi xuân và hơi dựng : Hành vân, Nam xuân (Hạ giang nam), Cổ bản dựng, Tứ đại cảnh.
Ngoài những bài cơ bản nêu trên, ca Huế c̣n có thể đưa vào buổi diễn một số làn điệu lư và ḥ trong âm nhạc dân gian như các bài Lư t́nh tang, Lư tử vi, Ḥ mái đẩy, Ḥ mái nh́ (với chức năng một câu dạo, câu rao trước khi vào điệu Nam b́nh)...
2. Âm nhạc dân gian: Âm nhạc dân gian Việt Nam nói chung, vùng Thừa Thiên - Huế nói riêng, rất phong phú với nhiều thể loại. « Các bài dân ca không phải là công tŕnh của một tài năng đơn độc mà là sản phẩm của toàn thể nhân dân... Dân ca giống như những đóa hoa huệ mọc nơi hang sâu núi thẳm mà cái đẹp trong trắng, thuần nhiên làm mờ hết màu gấm vẻ ngọc của các tác phẩm kinh viện » (Sérov). Nó xuất hiện ngay cả trước khi nghệ thuật bác học ra đời bởi nó gắn bó chặt chẽ với những hoạt động thực tiễn của con người, với lao động của cá nhân và cộng đồng trong cuộc sống.
Trong các loại âm nhạc dân gian vùng Thừa Thiên-Huế nổi bật nhất là các điệu ḥ, gọi chung là ḥ Huế. Về thuật ngữ ḥ, Lê Quư Đôn là người đề cập sớm nhất: “Khiêng cây gỗ to, người ở trước hô tà hử, người sau cũng đáp lại. Đó là tiếng ḥ để gắng sức trong lúc khiêng nặng. Tục ngày nay hô ô hà tức là đó” (1). Năm 1808 từ điển Dictionnaire annamite- francais của J.F.M. Génibrel giải thích: « Ḥ là tiếng hô của những người chèo thuyền, với tiếng ấy người ta điều chỉnh những động tác chèo thuyền ». Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát định nghĩa: « Ḥ là những điệu hát xuất phát trực tiếp từ lao động, thúc đẩy công tác lao động, gây phấn khởi hào hùng » (2). Giáo sư Trần Văn Khê viết: « Ḥ là những bài hát truyền khẩu, phát sinh từ trong dân chúng, được truyền tụng và phổ biến trong dân chúng » (3). Ḥ Huế cũng đi từ môi trường lao động, tiếp bước vào môi trường nghi lễ, giải trí rồi vươn tới thi thố tài năng trong lĩnh vực văn chương..., bao gồm nhiều điệu mà phổ biến là các điệu ḥ sau:
- Ḥ đẩy nôốc: Ơ ơ ơ… Ai sinh cồn cạn này ra Áo quần rách nát thịt da gầy ṃn, la hè la hè… Ơ ơ ơ…Trước mui xu xa, sau lai cũng xu xa Đứa mô không đẩy th́ trôi cả bà liền con, la he la he…(4)
- Ḥ giă gạo: Hơ hơ hơ hơ hơ hơ khoan hô khoan ta mời bạn mà khoan mà lại là ḥlà khoan (hư). Hơ hơ hơ hơ hơ Thiếp gặp chàng như rồng mây kia mà gặp hội. Chàng mà gặp thiếp như chim phụng hoàng mà gặp cội ngô với cây là ngô (hưm). Ơ ơ mấy lâu ni th́ kẻ Hán mà người Hồ là bữa ni thiên a tri cùng mà lư hơ ngộ hơ hơ. A ha hơ hô hô bữa ni thiên tri mà lư ngộ là quyết phân phô t́nh cho tận là t́nh hơ hơ (5).
- Ḥ nện (ḥ hụi): Ai mà (ń)là hô ḥ khoan lợp miệu thiếu tranh là hô hồ khoan,lợp đ́nh (mà) thiếu ngói (ń) là hô ḥ khoan, xây thành thiếu vôi là hô hồ khoan hồ khoan hời hồ khoan... Khoan rằng (ń) là hồ hồ khoan, khoan tới khoan lui, là hồ hồ khoan, khoan anh có vợ, la hồ hồ khoan, khoan tui có chồng, là hồ hồ khoan... Hết khoan rồi sang hụi, hô hồ hụi, hết hụi th́ khoan, là hồ hồ khoan... (6)
- Ḥ lờ: Em ôm bó mạ xuống đồng (ai nghe ḥ lờ), miệng ḥ tay cấy (ai nghe ḥ lờ) mà ḷng nhớ ai .Ḥ lơ hó lơ lắng tai nghe hó lơ ḥ lờ... Em chờ cho hết sức chờ (ai nghe ḥ lờ) chờ cho rau muống (ai nghe ḥ lờ) lên bờ trổ bông. Ḥ lơ hó lơ lắng tai nghe hó lơ ḥ lờ. (7)
- Ḥ ô (ḥ đạp nước): Ô ô ô ồ...Em không nhớ là khi mô khi mạ úa ruộng khô Ồ ô ồ...Em giậm chân kêu một tiếng ḥ. Ô ô ô ô...Anh đạp nước bên ô cũng về ê. Ô ô ô ồ... (8).
- Ḥ ru con (ru em): Ru con cho théc cho muồi để mẹ đi chợ (ạ ơ) mua vôi (rứa) ăn trầu (ạ ơ). Mua vôi chợ Quán chợ Cầu (rứa) Mua cau Nam Phổ (ạ ơ) mua trầu (rứa) chợ Dinh (i)..(9).
- Ḥ mái nh́: (Hơ hơ hơ hơ ơ hời ha hơ hơ hơ hư ha Hô hô hô hô) Trước bến (hưm) (hơ hơ hơ...) Văn Lâu chiều (hà ha hơ) chiều (hơ hơ)... Chiều chiều trước bến Văn Lâu ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm, ai thương ai cảm ai nhớ ai là trông (hơ hơ hơ hơ hơ hưm). Hơ...Thuyền ai thấp thoáng bên sông (lại) đưa (ơ hơ) câu (thí) mái (hà hy). Hơ... mái đẩy nên chạnh (ha hơ hơ hơ hơ) ḷng. Hơ...Ơ hơ hơ...chạnh ḷng non nước là non (hơ hơ hơ...) (10)
- Ḥ bài cḥi: Ô ô ô ô...Mười một cḥi lằng lặng mà nghe ń, thuyền ta th́ đậu bến ta, can chi nhổ cọc cắm qua thuyền người. Là con nọc ơ...đương. (11)
- Ḥ bài thai: Ê ê ê ề...Em không ra lấy chồng th́ thiên với hạ đàm tiếu, mà em ra lấy chồng th́ bỏ mẹ yếu em thơ. Thôi thôi em ở làm rứa dẫu tóc bạc như tơ cũng đành i...(đáp số con nghèo hoặc thầy chùa) (12).
- Ḥ đưa linh: Cảm thương nỗi dân đen đoái trông dạ chừng, hồn hóa theo mây, đưa ling an sàng, suối vàng mấy dặm... Mẹ già thọ bệnh, khi nóng khi lạnh, thuốc thang chẳng rời, mẹ về chầu trời...(13).
Đó là chưa kể một số điệu ḥ khác như ḥ kéo gỗ, kéo lưới, ḥ xay lúa, ḥ đạp lúa; ḥ mái đẩy (tới lớp mái th́ đẩy thuyền tới), ḥ mái xấp (ḥ khi gặt lúa, những lớp mái được hát xấp đôi nhanh hơn), ḥ mái ba (lớp mái được hát sô đúng ba lần); ḥ nghé, ḥ đua ghe, ḥ lề số...
Nói vè cũng là một h́nh thức được ưa chuộng, tức là nói có vần điệu các bài thơ lục bát, song thất lục bát hoặc những câu 5,6,7 tiếng, tính chất thiên về tự sự. Vè thường xoay quanh các nội dung chính là thế sự, sự kiện lịch sử, chẳng hạn diễn xướng đơn sơ như Vè nói trạng, hoặc dài hơi như Vè thất thủ kinh đô:
Hăy c̣n có mặt mầy đây Thành đô khôi phục nhớ ngày quảy đơm Ví dầu dĩa muối bát cơm Cô d́ thúc phụ quảy đơm (cho) nhớ ngày... ... Chẳng qua Nam Việt thời hư Quân thần phụ tử lên chừ rừng xanh Thở than trong chỗ rừng xanh Bao giờ khôi phục chốn thành kinh đô… (14)
Điệu ngâm, thường là nói thơ, ngâm thơ, cũng là h́nh thức diễn xướng có âm điệu, không cần tiết tấu hay phụ họa, với nhiều thể thơ khác nhau như Đường luật, lục bát, song thất lục bát, thơ mới... Ngâm có ở cả ba miền, song ở Huế thường sử dụng ngũ cung có sắc thái Huế.
Điệu ru cũng là diễn xướng các câu thơ lục bát, biến thể với âm điệu ngọt ngào để đưa trẻ vào giấc ngủ, có dùng tiếng đệm, tiếng lót như ạ ơ hờ, ơ ơ... Đôi khi điệu ru cũng là dịp mà người ru giăi bày tâm sự của chính ḿnh.
Điệu lư là những bài hát dân dă từ làng quê mà ra, có tính chất quê mùa, đối lập với những bài ca của tầng lớp thượng lưu trí thức (ca nhạc cung đ́nh và thính pḥng). Bài lư đưa nhạc điệu vào các bài thơ để giăi bày đời sống tinh thần của người dân quê lúc làm việc, nghỉ ngơi, hội hè. Lư có thể độc diễn hay đồng diễn đối đáp nam nữ, gọi là lư giao duyên. Huế có các bài lư khá phổ biến như:
- Lư t́nh tang: Non cao ai đắp nên cao, bể…sâu bể sâu nhờ bởi(ô tang ô tang t́nh tang) ai…đào (ô tang t́nh tang) sâu nên sâu, sâu nên sâu (ô tang ô tang t́nh tang t́nh tang t́nh ô tang t́nh tang ô tang t́nh tang). (15)
- Lư giang nam: Giương cung mà bắn ư… bắn bắn bắn bắn bắn c̣ bắn con c̣ (t́nh bạn) con c̣ ư…(t́nh bạn) con c̣ ư… Để cung để cung vác súng ư… bắn bắn bắn bắn bắn c̣ bắn con c̣ (t́nh bạn) c̣ bay ư… (t́nh bạn) c̣ bay ư… (16).
- Lư hoài xuân (Lư con sáo Huế): Ai đem con sáo sang sông, để...cho để cho con sáo (ơi người ơi) sổ...lồng (ơi người ơi) bay xa, sổ lồng (ơi người ơi) bay xa (17).
- Lư nam xang: Làm người phải có (ư) luân ngũ luân (ư) luân ngũ luân. Nếu mà (t́nh như) thiếu một (a í a) mười phân mười phân thẹn thuồng (u xang u xang u liu phàn) mười phân mười phân thẹn thuồng. (18)
- Lư qua đèo (Lư hoài nam): Chiều chiều dắt mẹ… dắt mẹ (ta la) đèo qua đèo (ta la) đèo qua đèo. Chim kêu chim kêu (t́nh như) bên nớ úy óa, chi rứa chi rứa, ơi hỡi vượn trèo, vượn trèo (ta la) kia bên kia (ta la) kia bên kia. Ơi hỡi vượn trèo (ta la) kia bên kia. (19).
Ngoài ra c̣n có một số bài lư khác như Lư tử vi (Lư trăm huê), Lư ngựa ô, Lư t́nh như, Lư tiểu khúc, Lư giao duyên, Lư quỳnh tương, Lư vọng phu...
Bên cạnh các bài ca lao động và sinh hoạt, c̣n có các bài gắn với đời sống tâm linh, thể hiện trong các nghi lễ tín ngưỡng dân gian và tôn giáo. Đó là loại nhạc lễ, một diễn xướng âm nhạc, trong đó quan trọng là thanh nhạc, khí nhạc chỉ là phụ họa. Ở môi trường này, các bài hát là thành phần quan trọng trong cấu trúc buổi lễ. Chẳng hạn hát bả trạo trong lễ cầu ngư. Đây là loại h́nh múa hát nghi lễ của cư dân duyên hải miền Trung, phổ biến ở các tỉnh từ Quảng B́nh đến B́nh Thuận.
Một loại hát quan trọng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Huế là hát chầu văn. Đó là sự diễn xướng các bài văn hầu, nghĩa là hát văn hầu để hầu bóng, để thỉnh mời thiên tiên thánh mẫu hay một vị thánh thần nào đó giáng xuống trần, hóa thân vào « con đồng » để phán bảo. Người hát các bài văn hầu gọi là cung văn, diễn xướng các bài thơ lục bát và song thất lục bát bằng âm Hán Việt hoặc đôi khi tùy vai đồng đang múa ǵ mà linh hoạt ứng tác cho phù hợp. Các bài văn hầu khuôn mẫu thường có văn phong và ngôn ngữ quư phái, đài các của văn chương cổ điển được các nhà trí thức Nho học sáng tác.
Tín ngưỡng dân gian Huế đi liền với tôn giáo ở Huế. Đó là mối quan hệ biện chứng. Trong tâm thức người b́nh dân Việt Nam, Trời đi liền với Phật, Phật đi liền với thánh. Các am điện thờ thánh, Mẫu ở Huế thường có thờ tượng Phật, tượng Quan Âm Bồ Tát. Chính trong tâm thức đó, Phật giáo ở Huế được phổ biến với pháp môn Tịnh độ, chủ trương tụng kinh niệm Phật để cầu giải thoát. Về mặt âm nhạc, Phật giáo cho ta nhiều âm điệu qua lời kinh tiếng kệ, qua phong cách tán tụng – những âm điệu đặc thù trong âm nhạc Phật giáo tại Huế.
Nh́n chung, âm nhạc dân gian Huế khá phong phú với nhiều thể loại, từ ḥ vè hát lư đến các áng văn hầu cúng khuôn mẫu, các bài văn ai ứng tác bi thiết, các bài kinh kệ, tán tụng, bài chú của Phật giáo đă làm cho âm nhạc Huế thấm đẫm sắc thái văn hóa độc đáo của một vùng đất văn vật, góp phần làm giàu cho văn hóa âm nhạc Việt Nam.
II. Thang âm ngũ cung hay thất cung thiên nhiên?
Có điều đơn giản mà mọi người dễ nhận ra chính là âm điệu đặc trưng của giọng nói địa phương trở thành thổ ngữ rất riêng mà người nơi khác khó bắt chước. Và tất nhiên âm nhạc sản sinh từ giọng nói đó cũng tạo ra sắc thái riêng trong thang âm của nền âm nhạc Huế. Chính từ sắc thái riêng này mà đă có ư kiến khác nhau khi bàn về thang âm trong âm nhạc Huế. Phần lớn ư kiến cho rằng thang âm Huế không nằm ngoài hệ thống thang âm ngũ cung của Việt Nam, nhưng cũng có ư kiến cho rằng âm nhạc Huế thuộc về thang âm thất cung thiên nhiên.Vậy thang âm trong âm nhạc Huế là ngũ cung hay thất cung thiên nhiên tức là thất cung có 7 cung đều nhau
Năm 1961, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba cho in ronéo tập sách Nhạc pháp Việt Nam, trong đó có đề cập « hệ thống cung âm trong âm giai thiên nhiên Việt Nam » và cho biết thang âm này chính là thang âm gồm 7 cung đều nhau. Đó là thang âm đặc biệt của miền Trung , rơ hơn là của vùng Thừa Thiên – Huế, nhất là khi nghe những bài như Nam ai, Nam b́nh, Tứ đại cảnh... Giáo sư Trần Văn Khê nhất trí với khái niệm này, tuy ông không đồng ư với thuật ngữ « âm giai thiên nhiên Việt Nam ». Sau này giáo sư đọc thêm tài liệu về âm nhạc cổ truyền Thái Lan của nhà nghiên cứu Carl Stumpf, về âm nhạc Campuchia và Lào của Alain Daniélou cũng như nghe các bản thu âm tại các làng quê Thái Lan và Campuchia của Jacques Brunet đều nhận ra ở các nơi này đều có thang âm 7 cung đều nhau. Trong tác phẩm La musique du Cambodge et du Laos (Pondichéry, 1957), ông A.Daniélou cho rằng thang âm thất cung này thông dụng ở Ấn Độ từ thế kỷ thứ VI, người Ấn gọi là thang âm nhà trời, thang âm thần thánh (gamme céleste, gamme sacrée). Từ Ấn Độ, thang âm thất cung có 7 cung đều nhau này truyền sang đến các nước Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào, miền Trung Việt Nam và có thể có ở Indonesia nữa (20).
Thật ra việc chia một quăng tám làm 7 cung đều nhau chỉ là nói trên lư thuyết. Về mặt âm học, việc phân chia này rất khó. Chẳng hạn một quăng tám của Tây phương gồm 5 cung và 2 bán cung, mỗi cung đo được 9 commas, như vậy một quăng tám có 54 commas. Đem 54 commas chia cho 7 th́ chỉ có được con số lẻ 7,71 commas. Hoặc tính quăng tám theo nhà vật lư Anh Alexander Ellis gồm 1.200 cents th́ khi chia cho 7 vẫn là số lẻ 171,45 cents. Thành thử cao độ mỗi âm bậc trong âm nhạc của ta chỉ có giá trị tương đối thôi
Để h́nh dung thang âm có 7 cung đều nhau, giáo sư Trần Văn Khê đă so sánh thang âm này với thang âm Tây phương với biểu đồ sau đây (mỗi bán cung gồm 100 cents) (21):
Do Re Mi Fa Sol La Si Do
Ḥ Xự non Xự Xang già Xê non Cống non Phàn Liu (171c) (342c) (514c) (685c) (887c) (1028c)
Trên thực tế việc xác định cao độ của mỗi cung một cách tỉ mỉ th́ rất khó, các nghệ nhân miền Trung chỉ có thể phân biệt các âm bậc xự và cống non một chút, âm xê cũng hơi non, c̣n đàn các bài điệu Nam th́ xang phải già một chút. Trong tŕnh diễn, các nghệ nhân Huế thường lên dây đàn theo thang âm ngũ cung; để có những âm bậc non hoặc già, họ dùng kỹ thuật nhấn (bên cạnh các kỹ thuật vuốt, vỗ, rung...) để thay đổi cao độ. Chẳng hạn lấy ḥ ấn xuống để nâng cao độ lên xự non hoặc xự, lấy xê ấn xuống để có cống non, lấy xang ấn xuống để có xang già... Đó là lối mượn cung trong kỹ thuật đánh đàn Huế.
III. Thang âm ngũ cung Huế:
Trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, hệ thống định âm của ta không trùng khớp với hệ thống b́nh quân luật trong âm nhạc cổ điển Tây phương, nghĩa là thang âm Việt không cấu thành từ hệ thống 12 bán cung của một quăng tám như trong nhạc Tây phương. Sự khác biệt về hệ thống định âm này chính là do sự thẩm âm riêng biệt mang bản sắc dân tộc của cư dân từng khu vực, từng quốc gia khác nhau. Một đặc điểm khác là cao độ của mỗi âm bậc trong nhạc Việt chỉ có tính cách tương đối, âm bậc chuẩn chỉ mang tính quy ước trong từng điệu thức, từng hơi nhạc, tùy bài bản và tùy ở mỗi vùng miền khác nhau. Các kỹ xảo trong diễn tấu (nhấn, rung, vuốt, mổ...) trên từng âm bậc của thang âm đă tạo nên hệ thống các hơi nhạc phong phú của âm nhạc Việt Nam.
1. Điệu Bắc: Với âm nhạc Huế, chúng ta có một hệ thống thang âm ngũ cung khá độc đáo. Trước tiên là thang âm cơ bản, là sự kế thừa thang âm Đại Việt lâu đời từ trong lịch sử, đó là điệu Bắc (người Huế - người trên đất Thuận Hóa cũ - c̣n gọi là điệu Khách), tương đương với cung hoàng chung (cung thương giốc chủy vũ) trong âm nhạc Trung Hoa:
ḥ xừ xang xê cống liu (do re fa sol la do)
Chúng ta dễ dàng t́m thấy thang âm này trong phần lớn bài bản âm nhạc cung đ́nh và ca nhạc thính pḥng. Điệu Bắc chính là dấu ấn của ảnh hưởng Trung Hoa trong nhạc Việt, tuy vậy điệu thức của người Việt vẫn có ngôn ngữ riêng với cách nhấn nhá ở các âm bậc xự, cống với kỹ thuật rung đặc trưng và âm bậc cống cũng đàn hơi non. Điệu Bắc mang tính chất vui tươi, trang nghiêm, tốc độ thường là khoan thai hoặc nhanh, ít khi chậm, thường được dùng trong các buổi tế lễ long trọng, chẳng hạn bài Long ngâm dùng trong những lúc rót rượu cúng tế; bài Man (trong nhạc Bả lệnh) của dàn Đại nhạc dùng trong lễ rước vua hay đón sứ thần, nghe dồn dập, sôi nổi, vui tươi, dùng nhiều đảo phách, chủ âm được thay đổi nhiều lần nên nét nhạc rất uyển chuyển; bài Mă vũ dùng trong điệu múa Lân mẫu xuất lân nhi, thể hiện t́nh cảm thân thiết, tŕu mến;Đăng đàn cung do dàn Đại nhạc diễn tấu cũng thuộc nhạc nghi lễ; mười bản Tàu trong ca Huế...
Theo giáo sư Trần Văn Khê, trong nhạc Việt, tất cả các bài thuộc điệu Bắc đều có bảy yếu tố cơ bản: có thang âm ngũ cung với âm bậc cơ bản là ḥ (do); bất kỳ âm bậc nào trong thang âm ngũ cung đều có thể dùng làm bậc khởi đầu, bậc kết thúc hoặc bậc ngơi nghỉ. Bài Lưu thủy bắt đầu bằng âm ḥ và kết thúc cũng âm ḥ, c̣n các bài điệu Bắc khác lại không bắt đầu bằng âm ḥ. Chẳng hạn, bài Cổ bản bắt đầu bằng âm xê (sol), bài Long đăng bắt đầu bằng âm ú (re)… Phần lớn các bài nhạc Việt đều kết thúc bằng âm ḥ (do) hoặc âm xang (fa). Nhưng các âm khác cũng có thể dùng để kết thúc, ví dụ Nguyên tiêu kết thúc bằng âm cống (la), Kim tiền bằng âm xự (re); có tốc độ khoan thai hoặc nhanh; các câu nhạc trong điệu Bắc có độ dài thay đổi, số ô nhịp trong bài thường là chẵn, trừ trường hợp những bài quá ngắn như Xuân phong, Long hổ; nhạc công diễn tấu điệu Bắc đều có những nốt hoa mỹ để luyến láy; các nhạc cụ như đàn tranh hoặc đàn nguyệt đều lên dây theo hệ thống dây Bắc; tất cả bài bản điệu Bắc đều mang tính chất vui tươi. (22)
2. Điệu Nam: Điệu này xuất hiện từ khi ḍng người Việt đi về phương Nam vào đất mới. Họ mang theo ngôn ngữ, phong tục, tập quán và cả âm nhạc. Tuy nhiên trong quá tŕnh sinh hoạt và giao lưu văn hóa với người bản địa, người Việt đă chịu ảnh hưởng của người Chăm. “ Có thể trong dĩ văng, người Việt ở miền Bắc vốn quen dùng ngũ cung đúng ( do re fa sol la), khi Nam tiến đă bị nhạc Chàm với ngũ cung oán (do mi fa sol la) quyến rũ rồi sáng tạo ra ngũ cung ai (do, re non, fa già, sol, la non) chăng?” (23). Điều dễ nhận ra là ảnh hưởng trong giọng nói, ngôn ngữ. Chẳng hạn thanh sắc và thanh ngă của người Huế khi phát âm đă hạ thấp hơn, thanh hỏi lại cao hơn so với miền ngoài, có người cho đó là giọng lơ lớ. Chính âm thanh lơ lớ này đă h́nh thành điệu Nam trong nhạc Huế :
ḥ xự non xang già xê cống non liu (do re- fa+ sol la- do)
Trong thang âm này hai âm bậc ḥ và xê không thay đổi so với điệu Bắc, các bậc c̣n lại đều có thay đổi để làm nên sắc thái riêng của điệu thức miền Trung, trong đó ḥ và xang dùng kỹ thuật rung.
Nói đến hai điệu Bắc và Nam để khẳng định nguồn ảnh hưởng của Trung Hoa và Chăm trong nhạc Việt. Tuy nhiên trong âm nhạc Huế, với kỹ thuật rung hai bậc xự, cống, điệu Bắc đă được Việt hóa, không c̣n là của Trung Hoa nữa. Ngoài ra người Huế đă sáng tạo thêm một cách tinh tế và phong phú các sắc thái đặc thù trong âm nhạc của ḿnh mà người Huế gọi là hơi nhạc. Đó là sự vận dụng tài t́nh ngôn ngữ âm nhạc để giăi bày các trạng thái t́nh cảm, nội tâm trữ t́nh và đa dạng của họ.
3. Các hơi nhạc: Âm nhạc Huế gồm có các hơi nhạc sau: hơi ai, hơi xuân, hơi oán, hơi dựng, hơi thiền.
- Hơi ai dùng để diễn tả sự buồn thương, áo năo, những t́nh cảm luyến tiếc, mất mát, thở than, tốc độ chậm răi. Chính v́ tính chất này, hơi ai không dùng trong âm nhạc cung đ́nh mà thường được dùng trong ca nhạc thính pḥng Huế, nhiều khi cũng được dùng trong âm nhạc cúng tế, trong tang lễ. Ví dụ các bài Nam ai, Nam b́nh, Tương tư khúc…Hơi ai có thang âm như sau:
ḥ xự non xang già xê cống non liu (do re- fa rung sol la- do)
Âm bậc xư và cống giảm xuống gần ¼ cung, âm xang rung. Nếu chuyển cung dùng âm cống (la) làm chủ âm (ḥ), thang âm này sẽ là:
la do re mi sol la
Ông Thái Văn Kiểm trong sách Cố đô Huế dẫn lời cụ Ưng B́nh Thúc Giạ Thị nói chính chúa Minh là người đă sáng tác bài Ai giang nam, tức Nam ai. Chúa Minh chính là Nguyễn Phúc Chu (1691-1725). Như vậy có thể bài Nam ai xuất hiện vào đầu thế kỷ 18, giai điệu buồn bă nhưng không quá năo nuột như các bài hơi oán Nam bộ:
Ngoảnh lui cố quốc Ngập ngừng gót ngọc Mây phủ kín trời thương Ngơ ngẩn bâng khuâng Hoa đang độ thanh xuân Dập vùi cứu mạng muôn dân Không sánh đặng Chiêu Quân Cho trọn đạo quân thần Vẻ chi một đóa yêu kiều diễm lệ…(24)
Bài Nam b́nh cũng là hơi ai, có lời cổ là Nước non ngàn dặm ra đi nói về công chúa Huyền Trân nhưng giai điệu tươi tắn hơn, có tính chất tao nhă hơn:
Nước non ngàn dặm ra đi Cái t́nh chi Mượn màu son phấn Đền nợ Ô Ly Đắng cay v́ đương độ xuân th́…(25)
- Hơi xuân có thể t́m thấy trong âm nhạc cung đ́nh Huế, âm nhạc tuồng và nằm trong hệ thống điệu Bắc. Thang âm của nó là:
ḥ xự xang xê cống liu (do re fa sol la do)
Nghệ nhân đàn tranh thường mắc dây với âm ḥ là sol th́ thang âm này sẽ là:
sol la do re mi sol
Tuy nhiên hơi xuân Huế có thủ pháp nhấn rung đặc biệt là âm bậc xang và liu thường rung nhấn lên khoảng một cung rồi trở về âm bậc chính. Âm bậc xự và cống rung như điệu Bắc. Âm bậc xê dùng kỹ thuật mổ (nhấn rồi thả thật nhanh). Có khi hơi xuân lại xuất hiện âm bậc phàn cao hơn âm bậc cống một chút. Hơi xuân có trong bài Thài bát dật (đệm cho điệu múa Bát dật trong cung đ́nh), bài Nam xuân (khác bài Nam xuân trong nhạc tài tử Nam bộ có thang âm là ḥ y xang xê phàn liu), thường mang tính chất đĩnh đạc, uy nghiêm và tươi vui hơn hơi ai (26):
Nhắn nhe vườn hạnh, đợi chờ chim xanh Khéo đưa t́nh, Đưa t́nh, đưa lại cho ta, lại cho ta Trót đă mặn mà, đă gần xin bạn đừng xa Sớm đào tối mận lân la Trước c̣n trăng gió (c̣n trăng gió) sau ra đá vàng. (27)
- Hơi oán diễn tả điệu buồn sâu xa, có tính chất oán thán. Oán tự nguồn gốc là âm cống (la) trong bài Chinh phụ, thuộc điệu Nam trong nhạc Huế. Trong bài này, tất cả âm cống phải đọc thành oán, theo Hoàng Yến trong bài viết La musique à Huê, B.A.V.H tháng 7-8.1919 (28). Hơi oán phần lớn được sử dụng trong đờn ca tài tử Nam bộ, tuy vậy trong ca nhạc Huế cũng có hơi này nhưng thang âm có khác biệt, như trong các bài Tứ đại oán, Chinh phụ... thang âm của nó như sau:
ḥ xư xang xế oán liu (fa sol# sib do# mib fa) hoặc (la do re fa sol la)
Âm bậc cống trong hơi này được gọi là oán, vào hơi nhạc th́ đọc trại ra là oan.
- Hơi dựng là sự chuyển điệu từ hơi này sang hơi khác, nghĩa là trong khi diễn tấu điệu này lại chen vào những đoạn theo điệu khác, tuy vậy những đoạn chen vào đó chỉ là tạm thời để rồi trở về điệu chính. Hơi dựng có trong các bài Hành vân, Tứ đại cảnh, Cổ bản dựng, Quả phụ…
- Hơi thiền được t́m thấy ở những bài chịu ảnh hưởng các bài kệ, bài tán và tụng trong âm nhạc Phật giáo. Theo nhạc sĩ Vĩnh Phan, hơi thiền cũng là hơi khách (Bắc). Trong một bài hơi khách có hai cung y, phàn (mi, sib) th́ dĩ nhiên có chuyển hệ; trong một bài hơi khách mà hai cung xự, cống luôn có mặt trong dứt câu hay ở đầu ô nhịp, lúc đánh cho ta cảm giác một âm giai thứ hoặc dùng cả hai cung y, phàn nữa th́ hơi đó nhất định là hơi thiền:
ḥ xự (y) xang xê cống (phàn) liu (do re mi fa sol la sib do) (29)
Có thể t́m thấy hơi thiền trong bài tán Dương chi tịnh thủy, ca ngợi Phật Quan âm (riêng bài tán Nhất điện lại theo hơi ai). (30)
4. Thang âm ngũ cung trong âm nhạc dân gian Huế th́ tương đối thuần nhất hơn. Các bài dân ca chủ yếu sử dụng thang âm ngũ cung điệu Nam của âm nhạc Huế.
ḥ xự non xang già xê cống non liu (do re- fa+ sol la- do)
Trước hết là các điệu lư: «Có thể nói tất cả những bài lư của Trị Thiên dù dưới những tên gọi khác nhau, làn điệu khác nhau, hát bằng ngũ cung hơi Nam giọng ai (do, re non, fa già, sol, la non) là ngũ cung độc đáo của địa phương» (31). Đó cũng là thang âm của các bài ḥ, ngâm... “Năm cung bậc ở đây cũng thay đổi và không giống ngũ cung Bắc và ngũ cung oán: do re (non) fa (rung) sol la (non). So với ngũ cung Bắc và oán, hệ thống năm cung ở vùng Huế đă khác hẳn: cung re bị lơ lớ, cung fa không ở một vị trí nhất định, cung la cũng bị non đi” (32). Riêng đối với điệu ḥ mái đẩy, nhạc sĩ Phạm Duy đă t́m hiểu thang âm điệu ḥ này (năm 1953) và đem so sánh với thang âm điều ḥa Tây phương như sau:
ḥ xự xang xê cống liu sol la 1/2b do re 1/2b mi 1/2b sol
Như vậy các quăng của ḥ mái đẩy là:
1,5 + 3,5 + 1,5 + 2 + 3,5 bán cung. (33)
Điệu hát chầu văn, mà Phạm Duy gọi là thể ca nhạc phù phép (incantation), thường rất chú trọng đến văn, tức là những bài thơ lục bát, song thất lục bát do những người có học sáng tác, bởi có nhiều từ Hán Việt hoặc sử dụng sự tích, điển cố văn học. Tùy theo nghi lễ từ phụng thỉnh chư thánh đến lúc người ngồi đồng nhập bóng, các cung văn lập tức đổi giọng, đổi văn, nghĩa là đổi bài tụng ca, tán ca và đổi điệu nhạc. Chẳng hạn với các bài thỉnh chư thần, dâng hoa, dâng nước, khi đệ tử lễ bái, cung văn diễn xướng:
Rượu này rượu thánh rượu tiên, Tôn ông đà nhắp cạn, xin dâng liền tuần hai Thủ am quỳ trước kim giai Xin tôn ông phù hộ cho phát tài hanh thông. (34). ... Hoa quả dâng lên dâng trà, hoa quả dâng lên Ḷng tin Phật đức chúa là tiên (ư ư) cửu trùng... Mày liễu tốt tươi mặt chầu ba mày liễu tốt tươi H́nh dung bao sắc miệng cười nở hoa. (35)
Trong các bài văn hầu này cung văn sử dụng giọng đài. Âm nhạc mà cung văn diễn xướng chạy trên thang âm ngũ cung re fa sol la do. Khi qua một đoạn khác, chẳng hạn:
Giá vũ một thôi ngài đằng vân giá vũ một thôi Thiên đ́nh phút đă ngài xuống nơi dương đ́nh Ba ngàn thế giới cảnh thanh. Thế giới cảnh thanh ba ngàn thế giới cảnh thanh Đâu đâu đều cũng chí thành ḷng tin Tiểu chúng tôi cầu đảo (ư ư) khấn nguyền... (36)
th́ âm nhạc lại chuyển sang thang âm điệu Nam hơi ai: la do re mi sol. Đây chính là hiện tương chuyển hệ (métabole) trong nhạc Việt.
Với bài văn hầu Thánh mẫu thượng ngàn :
Nền linh hiển ngàn xưa chung tú Riêng một ṭa động phủ thiên nhiên Vốn xưa chúa ở cung tiên Giáng trần độ thế về miền non xanh. (37) ... Đài Minh cảnh lung lay bóng nguyệt Cung Quảng hàn mờ mịt thức mây Chiều chiều gió thổi rung cây Mùi hơi chim nói thú ngàn mây rộn ràng Thú núi non chúa Thượng ngàn...(38)
Cung văn hát trên thang âm giọng đài: re fa sol la do, nhưng đến đoạn sau:
Đêm thâu múa hát trong đêm tựa ngày Ngọn đèn ngọn đèn khêu bấc (?) thơ mượn làm vui Ban mai gió cuộn trăng lờ Chiếc thuyền ven suối lững lờ lờ trôi. (39)
th́ cung văn chuyển sang thang âm: la do mi sol la. Như vậy trong hát chầu văn Huế thường sử dụng bộ thang âm ngũ cung như sau :
re fa sol la do re re fa sol sib do re la do re mi sol la
***
Âm hưởng nhạc Huế theo bước chân người Việt dần tiến về phương Nam đă tạo nên hai loại h́nh âm nhạc có tên tuổi là đờn Quảng và đờn ca tài tử Nam bộ. Có thể nói đây là hai loại nhạc có nguồn gốc từ âm nhạc Huế mà ra.
Tất cả các loại h́nh âm nhạc cung đ́nh, ca Huế, đờn Quảng, đờn ca tài tử Nam bộ đă tạo thành nền âm nhạc cổ điển Việt Nam mang tính chất đặc thù, có màu sắc riêng biệt không thể nhầm lẫn với âm nhạc một nước nào trong khu vực. Chúng ta tự hào về giá trị nền âm nhạc này, cho nên nhiệm vụ của chúng ta là phải bảo tồn và phát triển những giá trị tinh thần quư báu ấy.
NGUYỄN PHÚ YÊN
__________
CHÚ THÍCH
(1) Lê Quư Đôn, Vân đài loại ngữ, tập II, quyển VI, mục âm tự, Sài G̣n, 1972, tr. 133. (2) Nguyễn Xuân Khoát, Ḥ, tạp chí Âm Nhạc, Hà Nội, số 4, tháng 10 và 11-1956, tr. 11. (3) Trần Văn Khê, Các loại nhạc Việt Nam, tạp chí Bách Khoa, Sài G̣n, số 41, 1958, tr. 21. (4) Lê Văn Chưởng, Đặc khảo ḥ Huế, NXB Thuận Hóa, 2000, tr. 49. (5) Nguyễn Viêm sưu tầm và ghi âm, in trong Dân ca Việt Nam, NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1976, tr. 160-162. (6) Nguyễn Hữu Ba, Dân ca Việt Nam, Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài G̣n, 1961, tr. 52. (7) Nguyễn Hữu Ba, sđd, tr. 50-51. (8) Lê Văn Chưởng, sđd, tr. 52. (9) Nguyễn Hữu Ba, sđd, tr. 60-61. (10) Nguyễn Viêm, sđd, tr. 163. (11) (12) (13) Lê Văn Chưởng, sđd, tr. 56-58. (14) Lê Quang Thái, Bài học lịch sử quư giá từ Vè thất thủ kinh đô, tạp chí Sông Hương, Huế, tháng 5-2010, tr. 80-81. (15) Nguyễn Hữu Ba, sđd, tr. 32. (16) Nguyễn Hữu Ba, sđd, tr. 35. (17) (18) Nguyễn Hữu Ba, sđd, tr. 44-45. (19) Nguyễn Hữu Ba, sđd, tr. 62. (20) Trần Văn Khê, Vài ư kiến về thất cung thiên nhiên và việc dùng comma để đo cung bực trong nhạc Việt, Nghiên Cứu Việt Nam, Huế, số 3 mùa thu 1966, tr. 10. (21) Trần Văn Khê, bài đă dẫn, tr. 14. (22) Trần Văn Khê, La musique vietnamienne traditionnelle, PUF, Paris, 1962, tr. 217. (23) Phạm Duy, Đặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam, NXB Hiện Đại, Sài G̣n, 1972, tr. 37. (24) Trần Kiều Lại Thủy, Âm nhạc cung đ́nh triều Nguyễn, NXB Thuận Hóa, Huế, 1997, tr. 158. Bài Nam ai do Đào Quư Duy ghi âm. (25) Trần Kiều Lại Thủy, sđd, tr. 161. Bài Nam b́nh do Đào Quư Duy ghi âm. (26) Trần Kiều Lại Thủy, sđd, tr. 219. (27) Văn Thanh, T́m hiểu ca Huế và dân ca B́nh Trị Thiên, Sở Văn hóa- thông tin B́nh Trị Thiên, 1989, tr. 55. (28)Trần Văn Khê, La musique vietnamienne traditionnelle, PUF, Paris, 1962, tr. 244. (29) Vĩnh Phan, Vài ư kiến về các hơi nhạc cổ truyền Huế, Nghiên Cứu Việt Nam, Huế, số 1 mùa xuân 1966, tr. 18. (30) Trần Văn Khê, Phong cách tán tụng trong Phật giáo Việt Nam, báo Giác Ngộ, TP.HCM, số 59 năm 2001. (31) Tôn Thất B́nh, Dân ca B́nh Trị Thiên, NXB Thuận Hóa, Huế, 1997, tr. 32. (32) Phạm Duy, sđd, tr. 52. (33) Trần Văn Khê, sđd, tr. 209. (34) Trần Đại Vinh, Tín ngưỡng dân gian Huế, NXB Thuận Hóa, Huế, 1995, tr. 211. (35) (36) CD Chầu văn Huế (trực tiếp ghi âm tại một buổi lễ chầu văn tại Đà Nẵng năm 1973 do cung văn Nguyễn Văn Hối diễn xướng – tài liệu riêng của người viết). (37) Trần Đại Vinh, sđd, tr. 206. (38) (39) CD Chầu văn Huế, đă dẫn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Walter Wiora, Les quatre âges de la musique, Petite Bibliothèque Payot, Paris, 1963. 2. Kurt Pahlen, La grande aventure de la musique, Collection Marabout, Belgique, 1947. 3. George Soulié de Morant, Théâtre et musique modernes en Chine, Paris, 1926. 4. Phạm Đ́nh Hổ, Vũ trung tùy bút, bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, NXB Văn Nghệ TP.HCM, 1989. 5. Trần Văn Khê, La musique vietnamienne traditionnelle, PUF, Paris, 1962. 6. Lê Mạnh Thát, Lịch sử âm nhạc Việt Nam, NXB TP.HCM, 2001. 7. Lê Văn Chưởng, Dân ca Việt Nam- những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp, NXB Khoa Học Xă Hội, Hà Nội, 2004 . 8. Tô Ngọc Thanh, Tư liệu âm nhạc cung đ́nh Việt Nam, NXB Âm nhạc- Viện Âm nhạc, Hà Nội, 1999. 9. Minh Lương, T́m hiểu âm giai ngũ cung, Sài G̣n, 1968, bản ronéo. 10. Trần Kiều Lại Thủy, Âm nhạc cung đ́nh triều Nguyễn, NXB Thuận Hóa, Huế, 1997. 11. Toan Ánh, T́m hiểu nghệ thuật cầm ca Việt Nam, NXB Đồng Tháp, 1998. 12. Phạm Duy, Đặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam, NXB Hiện Đại, Sài G̣n, 1972. 13. Nhiều tác giả, Thang âm điệu thức trong âm nhạc truyền thống một số dân tộc miền Nam Việt Nam, Viện Văn hóa nghệ thuật tại TP.HCM, 1993. 14. Thái Văn Kiểm, Cố đô Huế, Sài G̣n, 1960. 15. Văn Thanh, T́m hiểu ca Huế và dân ca B́nh Trị Thiên, Sở Văn hóa-thông tin B́nh Trị Thiên, 1989. 16. Tôn Thất B́nh, Dân ca B́nh Trị Thiên, NXB Thuận Hóa, Huế, 1997. 17. Trần Đại Vinh, Tín ngưỡng dân gian Huế, NXB Thuận Hóa, Huế, 1995. 18. Lê Văn Chưởng, Đặc khảo Ḥ Huế, NXB Thuận Hóa, Huế, 2000. 19. Văn Minh Hương, Gagaku và nhă nhạc, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2003. 20. Đ́nh Hy, Trượng Tốn, Nhạc cụ truyền thống tộc người Chăm, tập 1, Sở Văn Hóa-thông tin tỉnh Ninh Thuận, 1996. 21. Lê Ngọc Canh, Tô Đông Hải, Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm, NXB Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội, 1995. 22. Trần Quang Hải và Hoàng Ngọc Tuấn, Trao đổi về âm nhạc ngũ cung (Internet). 23. Các bài dân ca Việt Nam do Lưu Hữu Phước, Nguyễn Viêm, Đào Việt Hưng, Lư Nhất Vũ... sưu tầm và kư âm. 24. Trần Văn Khê, Vài ư kiến về thất cung thiên nhiên và comma, Nghiên Cứu Việt Nam, Huế, số 3 mùa thu 1966. 25. Vĩnh Phan, Hơi nhạc cổ truyền Huế, Nghiên Cứu Việt Nam, Huế, số 1 mùa xuân 1966. 26. Nguyễn Hữu Ba, Dân ca Việt Nam, Bộ Quốc gia giáo dục, Sài G̣n, 1961. 27. Triều Nguyên, Ḥ đối đáp nam nữ Thừa Thiên-Huế, NXB Thuận Hóa, Huế, 1997. 28. Ngô Quốc Tính, Mă Giang Lân, Ngô Thảo, Nguyễn Văn Dinh, Hải Đường, Lê Văn Hảo, Phạm Thị Tịnh Muội, Một số câu ḥ miền Trung, Nghiên Cứu Việt Nam, Huế, số 1 mùa xuân 1966. 29. Trần Văn Khê, Les musiques de l’Extrême-Orient, Nghiên Cứu Việt Nam, Huế, số 5-6 mùa xuân mùa hè 1967. 30. Trần Văn Khê, Phong cách tán tụng trong Phật giáo Việt Nam, báo Giác Ngộ, TP.HCM, số 59 năm 2001. 31. Lê Văn Hảo, Góp phần t́m hiểu ca nhạc Huế, Văn Nghệ B́nh Trị Thiên, số 9, 1977 32. Minh Hải, T́m hiểu vẻ đẹp của nền ca nhạc truyền thống B́nh Trị Thiên, Văn Nghệ B́nh Trị Thiên. 33. Lê Văn Cần, Ư kiến về ca nhạc Huế, ghi chép riêng. 34. Đồng Thành, Bước đầu t́m hiểu về âm nhạc Phật giáo (phattuvietnam.org) 35. Thiện Phước (soạn dịch), Âm nhạc Phật giáo (thuvienhoasen.org). 36. Phạm Minh Khang, Thang âm điệu thức trong âm nhạc truyền thống Việt Nam (vanchuongviet.org). 37. Dương Bích Hà, Âm nhạc cổ truyền xứ Huế trong mối quan hệ bác học và dân gian, tạp chí Sông Hương, Huế, số 125, tháng 7-1999. 38. DVD Nhă nhạc – Âm nhạc cung đ́nh Huế, kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, NXB Âm nhạc, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, Nhà hát Nghệ thuật truyền thống cung đ́nh Huế sản xuất, 2007.
|