|
CAO BÁ QUÁT 高伯适 (1809-1854) [1] kẻ sĩ, người con xuất sắc của Kinh Bắc qua một bài thơ SAY
BẠC VĂN TÚY QUY
Xưa nay thi nhân thường
mượn rượu để nói chí ḿnh là chuyện thường t́nh. Ta dễ dàng gặp các bài
thơ này trong ḍng thơ Đường của Tàu mang tư tưởng ấy .
Phong cách của người xưa, một khi có tâm sự u uất, họ
mượn chén rượu để làm vơi nỗi buồn, hoặc muốn nói rơ ư chí ḿnh họ cũng
t́m qua đó. Xưa nay các nhà thơ Tàu và cả ta thường như thế cả. Uống
rượu với hai hay nhiều bè bạn để cùng chia sớt tâm sự, hay nỗi lo của kẻ
sĩ trước sự hưng vong của dân tộc là chuyện thường t́nh. Khi rượu vào là
có lời ra. Rượu lời xảy ra thường song hành trước khi và trong khi uống,
sau khi th́ cực kỳ hiếm hoi.
Ông vua về ḍng thơ uống rượu để nói cái chí ḿnh,
phong cách sống của ḿnh bên Tàu là Lư Bạch. Lư tuy viết khá nhiều nhưng
kém hơn cụ Cao về độ đậm đặc trong ngôn từ và trong tư tưởng gọi ghém
trong 28 chữ. Ư nghĩ, tư tưởng trong thơ được cô đúc trong thể thơ hay
nhất của Tàu là ḍng tứ tuyệt [2] th́ rơ ràng thơ Tàu không có bài nào
qua nổi với bài Bạc Văn Túy Quy của cụ Cao bá Quát Việt
Nam chúng ta.
Có thật không ?
Với Cao thi bá, nỗi ưu tư dằng dặc đeo bám ông đến
tận đường về nhà. Đó là trường hợp "sau khi uống ", điều này cho thấy Cụ
uống măi, uống măi cho đến khi Cụ không c̣n có khả năng uống nữa, hoặc
Cụ đă uống đến từng giọt rượu cuối cùng. Nỗi niềm không hết th́ làm sao
mà ngưng được rượu trừ trường hợp bất khả. Uống để trút, để vơi tâm sự u
uất cùng nỗi ḷng trước sự suy tàn vong của tổ quốc, cụ quá đỗi cô đơn!
Cái lo trước sự ô nhục của giống ṇi Đại Việt theo cụ là không sao tránh
khỏi. Nỗi ô nhục dằn vặt tâm tư cụ hẳn đă lâu, nay c̣n kéo dài măi từ
khi nhập cuộc cho đến tận đường về. Cụ quá say và nỗi ô nhục là quá lớn.
Nỗi ô nhục không hề chịu buông tha cho kẻ sĩ cho đến khi cụ gặp người
quân tử (qua h́nh ảnh tượng trưng hoa sen tinh khiết trong đầm, trong ao,
một h́nh ảnh của người nho sĩ chọn con đường ở ẩn). Được gặp đối tượng
có thể "ngang tầm", có thể lắng nghe, cụ dừng chân để trút lời thỏ thỉ
dài ḍng (có lẽ lẫn vào đó là cả lời xỉ vả rằng: ” Ngươi có c̣n chia
cùng ta trước nỗi nhục này không? Sao ngươi ích kỷ chỉ tự cứu ḿnh lánh
tục. " Có lẽ cuối bài là giọt nước mắt của tiền nhân. Thương quá!
Xin mời Khách thơ đọc lại giai đoạn lịch sử [3] này:
Năm Đinh mùi (1847, đời vua Thiệu Trị, nhà Nguyễn ),
tháng ba (âm lịch) quân Pháp sinh sự tại cửa Đà nẵng, bắn ch́m năm chiếc
thuyền đồng của ta tại đây Lănh binh Nguyễn đức Chung tử trận.
Tháng 10 âm lịch cùng năm, Tự Đức lên ngôi. Tự Đức
thay v́ dưỡng sức dân, khoan thuế để nương sức dân như kế sách kháng
Nguyên của Đức thánh Trần năm xưa th́ lại tập trung quốc khố dùng cho
việc xây lăng tẩm, cho cha, cả cho ḿnh và tiếp tục đổ tiền vào xây dựng
kinh thành Huế để đời. Kinh Thành cho dù đẹp mà sĩ khí quốc gia không
c̣n, dân khiếp nhược th́ làm sao mà giữ được nước. Một ông vua hèn như
thế, ích kỷ như thế, tư cách như thế, vua ǵ mà mỗi khi mở miệng là "mẹ
con trẫm ra sao? Ăn ở đâu ?". Tự Đức ngồi trên ngai những 46 năm, lấy
thơ ca làm niềm vui, đất nước này sao mà không tàn mạt. Một oan nghiệt
của giống ṇi Lạc Việt! Tai trời ách nước cho toàn giống Lạc hồng. Chỉ
có Nguyễn Công Trứ [4] (1778-1858) là xum xoe!
Năm Tân hợi ( 1849 ) dịch bệnh làm dân Bắc Hà chết
589.460 người (hơn nửa triệu); Năm 1851 tại Lạng Sơn dịch bệnh làm chết
hơn 4000 người. Từ năm 1849 đến 1854 ( năm CBQ tử trận v́ khởi binh
chống lại vương triều), không có năm nào dưới triều Tự Đức mà dân ta
không chết v́ đói, v́ dịch bệnh hay v́ tai trời ách nước như vỡ đê, băo
táp, lũ lụt. Dân khổ trăm bề! Vùng biên giới phía bắc, thổ phỉ Tàu
và binh lính Thanh sang quấy phá và dời cột mốc. Cao Bá Quát chứng kiến
quá nhiều chuyện buồn ḷng. Ḷng kẻ sĩ CBQ làm sao không quặn đau. Đọc
đến đây laiquangnam buồn quá không sao đọc tiếp dùm cho Khách thơ giai
đoạn lịch sử u ám này, mong được Khách thơ rộng lượng ...
Xin mời Khách thơ. Cao Bá Quát
高伯适
薄 晚 醉 歸 Phiên âm :
Xin tạm dịch nghĩa
Chiều tà say trở về
Dịch thơ quốc âm
02
*Nh́n sen, lẩm rẩm ri hè:
03
2-.Nguyễn sĩ Đại, Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ
tứ tuyệt đời Đường
3- Đỗ Đức Hùng (Viện sử học) , Việt Nam những sự kiện
lịch sử,NXB Giáo dục ,2006
4-Đàm xuân Thiều ,Trần trọng San , Việt văn độc bản
lớp 11.BGD-TTHL -1971 ( tái bản lần thứ 7)
Chú vài tiếng Việt :
án là chận (ví dụ án ngữ ) ; án gần như đồng
âm vói áng là là tảng,là mảng,là bức dư đồ .
Hử là tiếng gằn thịnh nộ của mà người dân Nam
trung bộ thường dùng .
Xin mời đọc thêm bài Sa hành đoản ca để thấm
nỗi cô đơn của CBQ .link Viết thêm, ngày cập nhật tháng 7, 2014
Hai bài tứ tuyệt thơ Say của Tàu
01. ( Lư Bạch có bài Tương Tiến Tửu quá hay, laiquangnam có dịch và giới thiệu đâu đó, nhưng nó không nằm trong ḍng tứ tuyệt. Tứ tuyệt (đôi khi cho là tuyệt cú, c̣n tranh căi ) là ḍng thơ gồm 4 câu. Thể thơ đ̣i hỏi nén. Ư thơ nén, người Tàu không qua nổi người Việt chúng ta. Người Việt làm thơ nén rất tài hoa, lư do là người Việt kiệm lời khi ḿnh bị mất chữ viết (?), nay phải tạm vay chữ Tàu mà dùng đỡ, giấy mực phải mua từ Tàu, trẻ học có khi phải lấy que củi, thanh tre viết dưới đất học rồi xóa, chỉ có ḍng thơ tứ tuyệt vừa dễ nhớ, dễ thuộc. Sau này trong văn chương truyền khẩu của ta, tứ tuyệt là 2 câu lục bát ( hiếm tỷ lệ áp đảo 60% số câu ca dao lục bát ) hay một câu song thất lục bát.
兩人對酌山花開。
Hai thằng ḿnh uống ngắm hoa,
02
(Ông là một thi nhân đời Sơ Đường,
過酒家(其一)
Quá tửu gia (qua quán rượu )
(lqn ) Khuất Nguyên, danh sĩ nước Sở, dòng họ ông là cột trụ của Vua Sở. Ông hết ḷng v́ vua, v́ nước. Do nghe lời bọn gian thần ăn của đút lót của Tần (China, dịch từ chữ Tần mà ra), vua Sở sang Tần để tỏ t́nh ḥa hiếu, lầm to ! Vua Sở bị cầm giữ tại đó. Gịng họ ông đâu lạ ǵ tính gian trá của người Tần, ông đă hết ḷng can vua nhưng nào có được nghe theo. Ông không đành tâm nh́n nước mất, nhà tan và trầm ḿnh trên ḍng Mịch la vào ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch. ( link: http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_phanchieuhon.htm )
Câu "chúng nhân giai túy, duy ngă độc tỉnh" (mọi
người say cả chỉ riêng ḿnh ta tỉnh!) là lấy từ ư thơ để lại của ông.
Sau Sở bị Tần diệt. Người Sở vong quốc. Ngày mồng 5 tháng 5 trở
thành là ngày tết Đoan ngọ của người Tàu. Tại các vùng quê Việt nam
xưa do c̣n các ông “đồ “ có học chữ Hán, nên đội phong tục Tàu lên đầu,
bắt chước người Tàu mà ăn theo, cũng có đôi người biết chút tích này,
nhưng chẳng mấy ai hiểu rơ nội dung. Thấy bánh ú tro ( ngày 5/5) là
nhớ Khuất Nguyên. Thương thay! Thấy những nguy cơ mất nước chỉ v́ có
vua u mê nghe lời gian tặc làm tay sai cho người mà ḿnh, Khuất Nguyên
là người có ăn có học mà đành phải bó tay. Các “ đồ “ hồi ấy không mấy
ai học được bài học sâu sắc này, trong khi đó, những người nông dân
và những người phụ nữ ít học, họ lại thực tế hơn nhiều. Khi thấy bánh ú
tro, họ biết ngày Đoan ngọ đă đến, họ cuống cuồng lo “mới đó đã nửa
năm rồi”, họ lo tính chuyện mần, chuyện ăn, dành dụm chút tiền cho
ba ngày tết, c̣n phải phải không không với người. Lo cái áo cái quần
cho con mặc đến trường. Đàn bà ngày ấy sao mà giỏi! kê vai gánh vác
chuyện gia đ́nh, c̣n thầy “ đồ “ chỉ giỏi cái uống rượu và nói chuyện
trên trời, "Chúng nhân giai túy, duy ngă độc tỉnh" (mọi
người say cả chỉ riêng ḿnh ta tỉnh!). Ngày ấy không có thanh quyết toán
cuối năm như ngày nay nên ngày Đoan ngọ cũng là cột mốc giúp họ lên lịch
cho những ngày c̣n lại trong năm. Nông dân ta, mẹ chị ta, thế mà khôn!
“Đồ ơi đồ!”. “Đồ đội Hán!”
Thật ra.
Qua =là tôi ,ngôn ngữ xưng hô thân mật của Quảng Nam.
Ḿnh, từ đa ngữ nghĩa. Đó là sự tuyệt hảo của Âm, chữ
phiên âm như chữ quốc ngữ của chúng ta, chữ tượng h́nh của Tàu khóa
nghĩa nên trở nên không hay. Người Việt ḿnh khi đọc chữ Hán có thói
quen đội Hán, nên chơi tṛ chẻ chữ, coi bộ rồi lên giọng dạy đời, chữ
này có bộ này, chữ kia có bộ kia, chữ này bộ hạ, chữ kia bộ nhân… Rách
việc. Hán ơi là Hán! Trần thân là nai cổ, è cổ ra mà gánh việc. Mọi người đều say hết cả rồi, quên việc mất nước trước mắt, dung nhan dân tộc Việt nay trở nên dị dạng, có khi là dị hợm nữa. Ta tỉnh để một ḿnh ta “trần thân” đến quẫn trí à !
laiquangnam
|