|
phan bá thụy dương
Qua Ô CỬA của Trần Hoài Thư,
Nghĩ
và Viết Về Thơ Chiến Tranh Miền Nam

Trần Hoài Thư và Ô Cửa
Herbert Hoover vị
tổng thống thứ 31 của Hoa Kỳ đă nói: “Giới lănh đạo già
tuyên bố chiến tranh nhưng chính giới trẻ là người phải
chiến đấu và chịu chết.” [1] Chiến tranh đă tạo nên không
biết bao nhiêu cảnh ly tán, hủy diệt không biết bao nhiêu
sinh mạng một cách oan uổng và làm kiệt quệ trầm trọng tài
nguyên quốc gia. Nhưng, nếu nh́n từ một góc độ khác, chiến
tranh cũng đă sản xuất, tạo nên nhiều vĩ nhân lừng danh
trong quân sử, những văn thi sĩ lỗi lạc trong nền văn học sử
thế giới.
Bài viết ngắn này không phải là một luận đề về thơ chiến
tranh toàn cầu mà chỉ giới hạn trong thơ Chiến Tranh VN,
trong giai đoạn tàn khốc nhất, từ thập niên 60 cho đến ngày
miền Nam rơi vào tay chế độ Cộng Sản Hà Nội. Hạn hẹp hơn nữa,
người viết chỉ muốn truyền đạt, giới thiệu đến bạn đọc một
số cảm xúc, h́nh ảnh, tâm tư... của người lính chiến Trần
Hoài Thư [THT] đă phản ảnh qua tác phẩm của anh: Ô Cửa.
Tuy nhiên, để có thêm hương vị, khải triển chủ đề rộng hơn
đôi chút, người viết sẽ đề cập, dẫn trích thêm một số ít thơ
về chiến tranh của các văn thi sĩ Việt, Mỹ khác - những
người đă trực tiếp cùng THT tham dự cuộc chiến “ư thức hệ”
trong giai đoạn đầy nhiễu nhương đó. Nếu thấy cần thiết, sau
này người viết sẽ trở lại, bàn về đề tài sâu rộng hơn, với
nhiều thi sĩ tiêu biểu cho cả 2 miền Nam Bắc, cùng những
khuynh hướng đối kháng hay quan điểm tương đồng.
Theo lời tác giả, Ô Cửa là một tổng hợp của 5 thi tập: Thơ
THT, Qua Sông Mùa Mận Chín, Tháng Bảy Hành Quân Xa, Ngày
Vàng và Người Lính, mà anh đă xuất bản trước đây - sau khi
nhuận sắc, tuyển chọn lại. Tập thơ dày 380 trang, với 237
bài, in trên giấy đặc biệt, tranh b́a của Thân Trọng Minh,
do Thư Ấn Quán của anh ấn hành. Bản đẹp, dành tặng thân hữu
nên không thấy ghi giá bán.
Danh từ “thơ chiến tranh” kể từ Homer đă trở nên càng ngày
càng phổ biến một cách rộng răi, nhất là sau khi chiến cuộc
VN kết thúc. Hiện nay các quốc gia đồng minh của VNCH và đă
từng trực hay gián tiếp tham chiến trên lănh địa VN, mỗi
nước đều có rất nhiều cơ quan, thư viện… lưu trữ, quảng bá
thi ca viết về cuộc chiến VN, được sáng tác bởi những cựu
chiến binh của họ. Cho đến bao giờ th́ thi ca về thể loại
này của các tác giả miền Nam trước 75 mới được các tổ chức
văn hóa, chính trị hải ngoại hay nội địa dành cho nó một vị
trí nghiêm túc, sáng sủa hơn, để bảo tồn những ấn chứng quan
trọng trong giai đoạn lịch sử đă qua, đă được khép lại?
1. Trực diện với chiến tranh, tiếp cận với tử thần
Bây giờ chúng ta hăy bước qua Ô Cửa, thử đi vào nội dung
cuốn sách để xem người chiến binh này đă tŕnh bày, muốn
chuyển gởi những ǵ tới người đọc, qua những năm dài phục vụ
dưới cờ, trong thời tao loạn, nhiễu nhương:
Gịng sông phân tranh hai vùng thù nghịch. Đêm xuống đồi gặp
con nước nổi. Súng đạn đưa khỏi đầu. Từng con một vượt sông.
Rồi trước khi trèo ngọn Kỳ Sơn. Anh lạc trên cánh đồng trăng
mênh mông. Không biết nơi nào là cơi dữ. Trên đôi vai anh
nặng nề lịch sử. (“Đêm Vượt Sông,” tr 5)
Từ giă giảng đường chật hẹp, nóng bức, người sinh viên mang
đầy lư tưởng, hoài băo và mộng mơ ấy đă chấp nhận đi vào nơi
thâm sâu cùng cốc, theo lời kêu gọi của núi sông. Ngoài
trách nhiệm thi hành nghĩa vụ công dân, có thể anh c̣n coi
việc đó như một lần đi thám hiểm, khai phá về những chân
trời mới, quyến rũ hơn, để thưởng ngoạn thiên nhiên, giao
lưu nhân thế, thử thách định mệnh:
Ở đây đèo ải ngăn sông lộ. Trăm đứa lên có mấy đứa về. Giày
trận bám bùn mưa tối mặt. Mùa hè gió thổi bụi tê tê. Thanh
niên ta bỏ miền trung thổ. Theo mảng mây trời trên bản xa.
Núi dựng. Rừng bạt rừng. Lá mục. Phơi ngàn năm lạnh cắt
xương da. Ta về ngơ ngác cơn sinh diệt. Ngỡ làm tên ẩn sĩ
t́m trầm...(Về Với Núi, tr 55)
Cũng trong ư niệm chấp nhận khoác chinh y để bảo vệ quê
hương, giữ ǵn lănh thổ, từng lớp, từng lớp lớp thế hệ tuổi
trẻ đă đành bỏ cả tương lai, hoài bảo, rồi mang theo cuộc
t́nh để tham dự vào cuộc chiến đấu gian lao, mà tự thân họ
không có quyền lựa chọn, hoặc từ chối:
“…Vào giờ G ta ra mặt trận - nón sắt bần thần theo gót giày
sô - hiu hắt đường mưa tiến về âm phủ - vừa cảnh giác đời,
vừa ủ chiêm bao - khẩu súng cạc bin chúi đầu xuống đất - như
muốn nói ǵ với cánh Rừng Lăng -
Xuân Phổ bên kia chập chờn bóng địch - lập cập hồn ai, bèo
vướng chân mày ? - nước lạnh môi khô lóe lên đóm nhớ - màu
mắt bên màu hoa súng ngày xưa - ta vẫn yêu em, yêu toàn nhân
loại - nên gắng khom lưng, tiến chiếm Xóm Dừa…”
[Luân Hoán *
Trên Đường Lững Thững Hành Quân, Đạn Thù Có lẽ Ngập Ngừng
Tránh Ta]
để lănh nhiệm vụ trấn thủ biên cương xa xăm, tiền đồn heo
hút, dẫy đầy hiểm nguy, bất trắc. V́ chưng, họ đă lỡ sinh ra
vào một giai đọan lịch sữ đen tối, vào thời buổi loạn ly,
máu lửa với đạn bom và nước mắt:
“…Giặc cứ pháo xá ǵ cơn băo giạt - nón sắt che cho đỡ lạnh
mái đầu - đêm nến thắp ánh hỏa châu hiu hắt - sinh nhật ai
máu đỏ giữa canh thâu - đường truông núi hai mươi năm chất
ngất - tuổi lang thang vào xương máu bàng hoàng - mai về phố
với hồn chai lạnh ngắt - mua t́nh vui dồn trống chuỗi mênh
mang - khúc chinh chiến đă từ lâu quên hát - vầng trăng treo
mầu úa hướng mong chờ - mai xuống núi tiếp một ngày phiêu
bạt - t́m lại ḿnh đánh thức một cơn mơ” [Nguyễn Mạnh Trinh
*
Kontum Bài Thơ Cũ]
Có người tuy dấn thân, tham dự vào cuộc chinh chiến với thái
độ thản nhiên, xem đó như là chuyện tai trời ách nước, một
tṛ tiêu khiển, nhưng chắc hẳn trong thâm tâm anh cũng khó
thoát khỏi những ray rức, trăn trở hoặc suy tư, đau xót về
thực trạng rợn người phơi bày trước mắt:
“Bốn bề sương muối bủa quanh - hỏa châu đỏ rực năm canh rợn
người - ta về tham dự cuộc chơi - rựơu cần, súng đạn với lời
kêu thương.” [Huy Lực * Đêm Tiền Đồn Pleime ]
Nghĩa vụ ǵn giữ biên cương, lănh thổ, quả là một gánh nặng
luôn đè trên vai những chàng lính trận tiền phương. Từng hốc
đá, cánh rừng, từng bờ sông, ngọn suối, từng chân núi, triền
đồi măi măi là nơi hiểm địa, tử địa, dể dàng hủy diệt, cướp
đi mạng sống của ḿnh:
Một chút cay cay mà ḷng buồn tủi. Buồn th́ về đừng nán lại
thằng em. Không sao cả lên đồi cao xuống vực. Đất mở rồi ở
lại cũng buồn thêm... Cùng đứng lại hai chân nghiêm cúi mặt.
Đây hàng quân đọc lại thiếu tên em. Người lính trẻ chưa đầy
hai mươi tuổi. Nhớ th́ về cốc rượu để phần em.
(Viết Cho
Thằng Em Cùng Trung Đội, tr 35.)
Nhớ th́ về cốc rượu để phần em. Câu thơ chứa đầy tŕu mến,
thể hiện một thứ t́nh huynh đệ chi binh thắm thiết. Đó là
lời của một người anh dành cho đứa em vắn số, chứ không phải
loại ngôn từ của một cấp chỉ huy nói với kẻ trực thuộc. Thứ
t́nh huynh đệ chi binh và sự tŕu mến này, người ta cũng
thấy hiện rơ nét trong thơ của Pete Agriostuthes dành cho
người tiền sát viên tên Nam qua bài “He was a Chiêu Hồi”,
hoặc qua thơ của Kevin Bowen, Steve Mason, Sarge Lincetum,
Wilfred Owen, Walter McDonald... Đặc biệt là của Yusef
Komunyakka, người đă chiếm Pulitzer Prize năm 94 với tuyển
tập Neon Vernacular xuất bản năm 93, trong đó chứa đựng phần
lớn các bài của tập thơ mang tựa đề Việt ngữ “Điên Cái Đầu”,
vốn đă phát hành từ năm 88.
Súng đạn vô t́nh nào biết né tránh ai. Khi một người chiến
sĩ không may, vĩnh viễn nằm xuống th́ người đời thường cho
rằng anh ta đă vị quốc vong thân, là một người anh hùng, là
kẻ đáng được tuyên dương, ca ngợi. Có đúng vậy không hay ta
cần thử suy gẫm, xét nghiệm lại câu nói lừng danh, mang hơi
hám, tư tưởng phản chiến dưới đây của "papa" tức văn hào
Ernest Hemingway -người đoạt giải Nobel 54 về Văn học, khi
ông phát biểu: “Ngày trước người ta nói rằng: Hy sinh cho
quốc gia của ḿnh là một hành động cao cả và xứng đáng.
Nhưng trong cuộc chiến hiện đại không có ǵ là vẽ vang hay
thích nghi khi anh mất đi. Anh sẽ chết như một con chó cho
một lư do chẳng có ǵ là tốt đẹp.”[2]
Xin mời bạn đọc tiếp những vần thơ nóng bỏng, hồi hộp khác
của chàng thám báo trẻ tuổi THT:
Băng đồng, băng đồng đêm hành quân. Người đi ngoi ngóp nước
mênh mông. Về đây B́nh Định ma thiêng lănh. Mỗi địa danh rờn
rợn oan hồn. Trung đội những thằng trai tứ chiến. Những
thằng bỏ lại tuổi thanh xuân. Diều hâu bôi mặt hù ma quỉ.
Thuở đất trời bày đặt nhiễu nhương. Đêm của âm binh về xứ
khổ. Poncho phơ phất gió hờn oan. Trên vai cấp số hai lần
đạn. Không một v́ sao để chỉ đường. (Trung Đội, tr 31)
Những cảnh tượng bi tráng, nghiệt ngă như thế cũng thể hiện
đầy dẩy trong thi ca của các chiến hữu đồng minh, như Marko
Whiteley đă viết tại mật khu Hố Ḅ qua Lonely in the
Reservoir, Thoughts of War..., như W.H McDonald viết ở Phú
Lợi với “I Learned About War Last Night” hoặc Sarge Lintecum
qua “Ambush” và nhất là bài thơ được phổ nhạc của ông, rất
phổ cập, được mọi người ưa chuộng: "
The Vietnam Blues".
Xin hăy đọc thêm những ḍng diễn tả vừa chân thật, vừa ngộ
nghĩnh, thanh thản của người “lính sữa” trong những ngày đầu
nhận lănh trách nhiệm dẫn dắt đơn vị:
Ta trở về giáp mặt chiến tranh. Đồi cháy lửa mặt trời nhuộm
lửa. Thau rượu đế mừng ta thằng lính sữa. Dzô ông thầy hữu
sự có thằng em. Trung đội ta về hai mươi mấy thằng con. Đứa
gốc người Kinh, đứa Nùng, đứa Thượng... Trên đầu ta mũ rừng
nhẹ hẫng. Trong túi ta một gói chuồn chuồn. Bắt tù binh mời
điếu thuốc thơm. Để thấy miền Nam lính hiền ghê gớm.
(Ta Lính Miền Nam, tr 36)
Qua 2 câu cuối của bài thơ, ta có thể thấy rơ phong cách của
ngựi chiến binh miền Nam khi đối xử với tù binh, hàng binh,
dù mới cách đó không lâu đồng đội của ḿnh đă bị giết, bị
thương. Cũng với tâm trạng, bản chất đó, ta thử đọc xem Tô
Thùy Yên đă tṛ chuyện như thế nào với người tử sĩ bên kia
chiến tuyến trong đoạn thơ dưới đây:
‘…Ở cơi âm nào người vốn không tin. Hỏi nhau chơi thỏa chút
tính bông đùa. Người cùng ta ai thật sự hy sinh. Cho tổ quốc
Việt Nam - một tổ quốc...? Các việc người làm, Người tưởng
chừng ghê gớm lắm. Các việc ta làm, Ta xét chẳng ra chi.”
[Tô Thùy Yên *
Chiều Trên Phá Tam Giang]
Hay những ngôn từ phóng khoáng, thân thiện, chứa chan hào
khí, t́nh giang hồ của một quân nhân VNCH khác khi anh giáp
mặt, trực diện đối phương:
“…Kẻ thù ta ơi, các ngài du kích - hăy tránh xa ra đừng chơi
bắn nheo - hăy tránh xa ra ta xin xí điều - lúc này đây ta
không thèm đánh giặc - thèm uống chai bia, thèm châm điếu
thuốc - thèm ngọt ngào giọng hát em chim xanh - kẻ thù ta
ơi, những đứa xâm ḿnh - ăn muối đá và hăng say chiến đấu -
ta vốn hiền khô, ta là lính cậu - đi hành quân rượu đế vẫn
mang theo - mang trong đầu những ư nghĩ trong veo - xem
chiến cuộc như tai trời ách nước.
Ta bắn trúng ngươi v́ ngươi bạc phước - v́ căn phần ngươi
xuôi khiến đó thôi - chiến tranh này cũng chỉ một tṛ chơi -
suy nghĩ làm ǵ lao tâm khổ trí - lũ chúng ta sống một đời
vô vị - nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau - mượn trời đêm
làm nơi đốt hỏa châu - những cột khói giả rồng thiêng uốn
khúc - mượn bom đạn chơi tṛ pháo tết - và máu xương làm
phân bón rừng hoang.” [Nguyễn Bắc Sơn *
Chiến Tranh và Tôi]
Chiến tranh. Ôi chiến tranh. Người ta đă nhân danh nó để hủy
diệt không biết bao nhiêu nguồn sinh lực sáng lạng của quê
hương, triển vọng của tổ quốc. Người ta đă nhân danh nó để
làm tan ră không biết bao nhiêu cuộc t́nh nồng thắm và mái
ấm gia đ́nh. Ḷng không mang hận thù, họ là các chiến binh
VNCH đi bảo vệ lănh địa, cương thổ. Họ là những cán binh
“quân đội nhân dân” bị tuyên truyền, xô đẩy, lôi cuốn vào
t́nh huống bi thảm “sinh Bắc tử Nam” để giới chóp bu CS mau
chóng thực hiện ư đồ cướp đất, xăm lăng miền Nam. Bản thân
họ nào được ǵ ngoài những thua thiệt, mất mát:
“Em hỏi anh bao giờ trở lại - Xin trả lời mai mốt anh về -
Không bằng chiến trận Pleime - Hay Đức Cơ - Đồng Xoài - B́nh
Giả - Anh trở về hàng cây nghiêng ngă - Anh trở về ḥm gỗ
cài hoa - Anh trở về bằng chiếc băng ca - Trên trực thăng
sơn màu tang trắng - Mai trở về chiều hoang trốn nắng -
Poncho buồn liệm kín hồn anh - Mai trở về bờ tóc em xanh -
Vội vă chít khăn sô vĩnh biệt.
Mai anh về em sầu thê thiết - Kỷ vật đây viên đạn mầu đồng -
Cho em làm kỷ niệm sang sông - Đời con gái một lần dang dở -
Mai anh về trên đôi nạng gỗ - Bại tướng về làm gă cụt chân -
Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân - Bên người yêu tật nguyền
chai đá - Th́ thôi hăy nh́n nhau xa lạ - Em nh́n anh - ánh
mắt chưa quen - Anh nh́n em - anh sẽ cố quên - T́nh nghĩa cũ
một lần trăn trối.” [Linh Phương *
Kỷ Vật Cho Em]
Trong một cuộc nội chiến tương tàn mà bản thân những chiến
sĩ miền Nam có lúc phải phân vân, tự vấn, suy tư:
“…những thằng lính thời nay không mang thù hận - bạn hay thù
chẳng có một lằn ranh - thôi hăy uống. mọi chuyện bỏ lại sau
- nếu có thể ta gầy thêm cuộc nhậu - bày làm chi tṛ chơi
xương máu - để đôi bên nuôi mầm mống hận thù - ta chán lắm
rồi ba chuyện ruồi bu - chỉ có bạn, có ta là người thua
cuộc.
người yêu của bạn ở ngoài phương bắc - giờ này đang hối hả
tránh bom - hay thẫn thờ dơi mắt vào Nam - để chờ người yêu
ḿnh trở thành liệt sĩ - rồi cũng sẽ quên, như bao điều suy
nghĩ - t́nh yêu như một thứ điểm trang - che đi chút dối
ḷng, nhẹ bớt đi chút nhọc nhằn - uống với bạn hôm nay ta
phải thật say - để không phải c̣n nh́n nhau hận thù ngun
ngút.” [Phan Xuân Sinh *
Uống Rượu Cùng Người Lính Bắc
Phương]
Đọc những áng thơ hiền ḥa, nhẹ nhàng kia, tôi tự nhiên như
thấy lại bóng dáng của 2 người bạn gốc "cùi" là Vĩnh Nhi thủ
khoa khóa 17, Hoàng Thọ Khương khóa 19 của trường Vơ Bị Lâm
Viên - Đà Lạt và người bạn trẻ yêu thơ Trần Phước Chí khóa
18 của đồi Tăng Nhơn Phú - Thủ Đức, hiển hiện về trước mắt.
Những chiến sĩ can trường thuộc Sư đoàn Phượng Hoàng này,
khi bắt tù binh, họ luôn luôn cho đối phương ăn uống tử tế,
mời mọc thuốc lá, rồi mới chuyển giao về hậu cứ. Họ không
bao giờ cho sĩ quan an ninh đánh đập, dù đôi khi cần khai
thác tin tức sơ khởi tại mặt trận. Rất tiếc, 3 chiến hữu
tốt, hiền ḥa này đều lần lượt ra đi, trước và sau biến động
Tết Mậu Thân không lâu trước mắt tôi, trong những ngày tôi
c̣n dấn thân, phục vụ tại khu chiến Tiền giang. Người viết,
lúc đó, chẳng biết làm ǵ hơn ngoài việc viết bài chiêu niệm
trên trang Văn Nghệ Quân Đội và mục Viết Cho Người Nằm Xuống
để an ủi linh hồn người chết, và gia quyến họ.
Những biểu tượng đầy nhân bản tính trên đối với người khác
giới tuyến của họ, cộng với sự thái độ, cảm nghĩ của THT,
TTY, NBS, PXS... khiến tôi nhiều lần thấm thía tự thầm hỏi
ḿnh. Phải chăng những quân nhân này và c̣n nhiều, c̣n nhiều
những anh em, chiến binh trong các quân binh chủng khác, đă
luôn luôn mang theo trái tim loại “grand coeur” của
d’Amacis, trên đường hành quân? Hay họ là những đệ tử ngoan
của cụ Winston Churchill - vị anh hùng, nhà chính trị khét
tiếng của thế kỷ 20, người đă được trao giải Nobel năm 53,
v́ họ luôn tuân thủ lời khuyên của ân sư: "Tác phong là một
việc nhỏ, nhưng nó tạo nên những khác biệt lớn lao. Biểu lộ
một chút lịch sự, tử tế cũng chẳng tốn kém, mất mát ǵ."[3]
Sau khi Sàig̣n thất thủ, tôi thường nghe thiên hạ bảo nhau:
Một trong những yếu tố quan trọng đưa đến việc mất nước là
v́ dân quân miền Nam đă quá hiền ḥa và đối xử nhân đạo với
kẻ thù. Những người cùng chung một tiếng nói bên kia lằn
ranh gịng sông chia cắt, bên kia vĩ tuyến có phải là kẻ thù
của chúng tôi không? Thật sự, chúng tôi có cần xem họ là kẻ
thù không, sau khi cuộc đụng độ đă tàn, khói lửa đă nguội
tắt, chỉ v́ họ bị cưỡng bức làm những con chốt đáng thương,
trong ván cờ tham vọng bành trướng chủ thuyết CS lỗi thời
Mác-Lê-Mao?
Mời bạn đọc thử xem qua những h́nh ảnh đáng trách, dễ làm
nản ḷng người đang dấn thân ở các tuyến đầu. T́nh trạng
tương phản ấy đă được phản ảnh dưới góc nh́n của tác
giả Ô Cửa. Lời thơ tuy có man mác nỗi uất hận, phẩn nộ nhưng
cũng đầy thương cảm, ngậm ngùi như một khúc bi ca:
Đất nước ta cường quốc bán buôn. Hậu phương ăn chơi biểu
t́nh, đảo chánh. Lúc đồng đội ta chết lên chết xuống. Một
đám ở nhà nhảy nhót thâu đêm. Lănh chúa ta ăn trước ngồi
trên. Hùng hổ lắm nhưng mạt hèn cũng lắm. Khóa của ta trên
mấy trăm thằng t́nh nguyện. Đi Nhảy Dù, Thủy Bộ, Thám Báo
"ác ôn". Đứng đợi cả ngày để bắt lá thăm. Toàn thứ dữ mà vui
như chợ Tết. Có đứa mang bằng kỹ sư về nước. Chọn Cọp Ba Đầu
Rằn làm lính tiền phong. Ta lính miền Nam hề vận nước ngửa
nghiêng. Ta cũng lênh đênh cùng cơn mạt kiếp. Ta trèo lên
cây hỏi rừng có biết. Có người lính nào bi tráng hơn lính
miền Nam? (Ta Lính Miền Nam, tr 36)
Giữa lúc vận nước lâm nguy như thế th́ dường như một số giới
lănh đạo chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng tư, một số người hậu
tuyến chỉ lo hưởng thụ, phó mặc việc giải trừ, giải tỏa áp
lực dồn dập của Bắc phương trong tay những quân nhân thiếu
kém quyền lực, tiền bạc, lúc nào cũng đứng trước đầu sóng
ngọn gió, ồ ập vũ băo.
Trong lúc người lính chiến VNCH đang trực diện với sự sống
chết để bảo vệ lănh địa th́ đồng minh của anh ta đă đóng vai
tṛ ǵ trong việc ngăn chống sự xâm nhập, mưu đồ thôn tính
của giới lănh tụ Hà Nội, với sự trợ giúp không ngừng của các
nước CS đàn anh Nga, Tàu? Hăy thử nh́n qua bối cảnh, hoạt
động hằng ngày của những người lính chiến Mỹ từ những ḍng
thơ mang đầy tử khí của Marko Whiteley thuộc Tiểu Đoàn
1/TQLC trong
"Thoughts of War":
“Cuộc chiến đấu thật khốc liệt khi lâm vào trận phục kích.
Sự sôi nổi rồi cũng tan biến đi trong những ánh mắt sáng
ngời. Lúc này chẳng phải riêng ǵ đối phương mà cả anh cũng
mất mạng. Màn đêm đă sắp buông, đó là lúc thuận lợi cho địch
quân. Họ biết rằng địa thế không thể nh́n rơ ràng về đêm.
Qua màn đen của đêm sâu thăm thẳm. Kẻ bị thương th́ rên rỉ,
người c̣n lại th́ tiếp tục đánh nhau. Tâm trí khởi sự báo
trước một nỗi kinh hoàng”.[4]
Những t́nh cảnh đó có khác xa bao nhiêu trong "Đêm Đột Kích
ở Nho Lâm" (trang 42), "Đêm Đột Kích" (trang 157), hay
"Những Ngày Quân Về Những Ngày Quân Đi" (trang 168). Hay thử
nh́n sang tâm trạng phân vân của người "Đánh Núi" trong hoàn
cảnh, t́nh huống tiến thối lưỡng nan:
Tiến lên lại sợ phục. Rút về sợ lột lon. Hét hoài cổ họng
khan. Chỉ ḿnh ta lănh đủ. Đi lên dao mở lối. Gai xước rách
thịt da. Đau quá tức chửi cha. Những thằng già ngoài Bắc.
(Đánh Núi, tr 147)
Qua bao lần đụng trận, đánh nhau ác liệt như thế, có mấy ai
tránh khỏi viên đạn vô t́nh thoát đi từ ṇng súng của người
bên kia? Cho nên THT - cây sậy mỏng manh trước những cơn băo
tố của chiến trường, cũng đă hơn một lần bị đổ máu, dập vùi,
lưu dấu các vết tích đạn thù trên thân thể c̣m cỏi:
Viên đạn đồng đă cắt thịt tôi. Tôi đau quá mà em không xót.
Khi tôi biết ḿnh vừa thoát chết. Tôi cuống cuồng sợ hăi
thành điên. Lần bị thương đầu tôi vẫn anh hùng rơm. Lần bị
thứ hai tôi nằm thin thít. Tôi đang ở pḥng trần gian hậu
chiến. Đêm cứ trôi hoài từng giọt hồi sinh. Tôi ước đến điên
cuồng một giọt lệ em. (Trong Pḥng Cấp Cứu, tr 311)
Tuy có áy náy, lo sợ, nhưng sau 3 lần bị thương với những
ngày phép dưỡng bệnh ngắn ngủi sau khi xuất viện, người lính
thám báo THT vẫn thản nhiên trở về với cương vị của một
người chiến binh, tiếp tục hiến thân phục vụ dưới cờ cho đến
ngày nước mất, quân tan.
2. Ghi nhận về chiến tranh qua những ngày dưỡng quân, những
giờ chuyển quân
Cuộc sống của người lính trận luôn gắn liền với những lần di
chuyển bất ngờ, bất định. Có khi chuyển quân ra trận mạc.
Cũng có khi được điều động tới các địa điểm gần chiến trường để
làm nút chặn, làm lực lượng trừ bị, sẵn sàng tiếp ứng cho
những đơn vị cơ động đang giao tranh. V́ để bảo toàn tối đa
bí mật quân sự, cho nên đôi lúc nhiều cấp chỉ huy đơn vị nhỏ
chỉ nhận được lệnh hay sơ đồ hành quân vào phút chót, trước
giờ xuất phát, di quân. Những vần thơ sau đây đă thể hiện
đầy đủ vai tṛ và thân phận nghiệt ngă của các chiến sĩ tiền
phương đó:
Những lần chuyển quân dù chẳng biết về đâu. Nhưng chúng tôi
biết những ǵ chờ đợi sẵn. Như thể khi viên đạn đồng trong
ḷng cơ bẩm. Xẹt ra khỏi ṇng rồi kiến cắn tê mê. Chỉ khi
nào anh cảm nhận đau tê. Có nghĩa là anh biết ḿnh vẫn c̣n
sống sót. Anh hănh diện là đă đi về phía trước. Là máu hồng
anh đă đổ xuống tặng em. Và khi anh trở về ôm lấy vết
thương. Anh mới biết đời vô cùng độ lượng. (Người Lính Trở
Về Với Chiến Trường, tr 7)
Ta hăy xem thêm thi sĩ họ Trần đă ghi nhận lại những mất mát
nào qua “Chia Tặng Chung Nhau” (trang 128), hay trong những
h́nh ảnh máu lửa tiêu biểu của chiến trường mà anh vẽ lại
dưới đây - máu lửa, bom đạn, tiếng kêu đau thương, tuyệt
vọng:
Xin trả lại bên trời vầng trăng đỏ máu. Và tiếng dội ầm ầm
của đám trực thăng. Và cả một biển rừng lửa bốc xung quanh.
Và sườn lũng cháy đen thành than củi. Người lính cũ mắt nh́n
trong bóng tối. Nghe văng vẳng bên ḿnh lời rên rỉ: Cứu em.
(Xin Trả Lại, tr 11)
để từ đó anh bồi hồi, ngậm ngùi trước những hoang phế, điêu
linh rồi nghi vấn, suy tư về thân phận ḿnh và kiếp người…:
Mặt trận đổ theo b́a Đệ Đức. Nghe cận kề lửa hưóng Tam Quan.
Bồng Sơn mây ám toàn tin dữ. Chiều chưa buông quận đóng năm
giờ. Giặc chiếm cận sơn người chạy loạn. C̣n bên cầu trơ
trọi cây đa. Cây đa có mặt khi nào nhỉ. Có phải nơi này là
quê hương. Có phải mỗi con người trôi dạt. Cất trong tim
bóng mát thiên đường. Cây đa vươn giữa trời bi lụy. Những
thổ thần hoang lạnh lư nhang. Lửa cháy Trường Lưu đ̣ đă
chặn. Chị ra sông ơi ới đoạn trường. (Cây Đa Bên Cầu, tr 20)
Địch tan, chiếm lại đất đai chưa kịp vui mừng th́ người lính
trận lại phải đương đầu, đối diện trước những bức tranh mang
đầy dấu vết hoang tàn, đổ nát, trước “những điều trông thấy
mà đau đớn ḷng”:
Ta đă về dành lại quê hương. Dành lại quận đường hoang tàn
đổ nát. Dành lại ngôi trường lời ca tiếng hát. Ta đă về nh́n
bầy chim cút côi. Nhưng ta lại không dành được em gái ta
yêu. Chúng ủ rũ như ḷng ta ủ rũ. Lũ bé qú bên xác người cô
trẻ. Đặt chùm hoa mếu máo gọi cô về... Em bé quê ơi cho ta
một nhánh bông. Một nhánh bông qú vàng như màu áo. Ta đặt
tên em. Trống trường ảo năo. Như những hồi mặc niệm em tôi.
Ta đă về và đă trễ em ơi. (Đêm Tiếp Cứu Chợ Huyện, tr.28)
"Ta đă về và đă trễ em ơi". Câu thơ như một tiếng kêu thống
thiết, chứa chan huyết lệ, thể hiện t́nh quân dân cá nước.
Một h́nh ảnh thê lương khác đă được Anh Thuần - người phóng
viên chiến trường gan ĺ của Cục Tâm Lư Chiến và Đài Phát
Thanh Quân Đội, đă phát họa lại đậm nét khi anh đang bám trụ
trên "quốc lộ máu" năm 72 để ghi nhận, tường thuật về tin
tức chiến sự:
“Em về đâu, hỡi người em lạc lơng - chiều đă buông và mây đă
giăng mờ - trong lửa đạn máu tanh thời chiến loạn - c̣n mong
ǵ t́m được chốn an cư.” [Anh Thuần * Chiều Chiến Loạn]
Sống ở, thác về. Người lính trận miền xa nào mà chẳng ư thức
được số phận mỏng manh của ḿnh. Bởi v́, người xưa đă trải
nghiệm rồi truyền lại: “cỗ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, th́
sự mất c̣n đối với họ cũng chỉ như lẽ tan-tụ tất yếu của mây
nổi, của hoa biển. Trong ḷng kẻ trấn thủ lưu đồn - lúc nghĩ
ngơi, có chăng là nỗi nhớ nhung về những con đường t́nh đă
qua và hoài niệm về sự mất mát của bạn bè, đồng đội:
“Nằm đây thương những con đường - kể em nghe chuyện chiến
trường được chưa - ḷng anh thơ dại bóng cờ - ngủ yên đâu
dám định giờ xuất quân - đă lâu vơ nghiệp quen dần - thấy
người đi cũng ân cần muốn đi - hỏi người: ai chết đêm khuya
- bảo: không, ngựa lạc đường về cơi xưa.” [Hoàng Lộc * Đêm
Đóng Quân Ở Định Quán]
Cùng những ngỡ ngàng của thi nhân Trần Tuấn Kiệt, người đă
chiếm giải nhất về thơ của Tổng Thống năm 71, qua các cảnh
tượng ảm đạm của những ngày biến loạn xảy ra ngay tại các
vùng ven đô của Saigon đầu Xuân Mậu Thân 68:
“…Ra nh́n khói lửa đạn bay - khói lên từng cụm đạn cày mênh
mông - qua đêm ngủ giấc say nồng - tỉnh ra bốn phía chập
chùng núi non - trời xa mây bạc vô cùng - sao ta nằm ngủ
giữa vùng máu xương.” [Trần Tuấn Kiệt * Tết Mậu Thân Nhậu
Với Bùi Giáng]
THT tuy là người chiến sĩ dạn dày phong sương, nhưng lời thơ
của anh lại rất nhẹ nhàng thi vị, man mác tâm t́nh của một
nghệ sĩ yêu người, yêu đời và yêu quê hương sâu sắc, đậm đà:
Tôi về đây. Tôi đă trở về đây. Đồi xưa tôi gọi đồi không
hay. Ai đi bỏ lại hoàng hôn lạnh. Đỏ ối đồi xưa ôm lấy
mây... Có ai như thể người binh Thượng. Ngồi khom trên bờ đá
thổi kèn. Hôm qua có những hồn ma lẻ. Lạc t́m về buôn bản
cao nguyên. Có ai dưới lớp mồ hoang dă. Nằm xuỗi chân mắt mở
trợn trừng. Chiều nay sao mọc về phương Bắc. Sao ruột ḷng
vứt bỏ phương Nam. Cỏ tranh lớp lớp che đường dốc. Pḥng
tuyến buồn hiu nhuộm nắng chiều. Trận đánh cũng đi vào quên
lăng. Sao c̣n rờn rợn những hồn xiêu.
(Đồi Xưa, tr 43)
Cảnh tượng nào sau chiến trận mà không thê thảm. Không có
chiến trận nào mà không có người phải hy sinh? Ngay cả những
chiến sĩ đồng minh sang phụ giúp chúng ta - để chống sự xâm
lược, dành dân chiếm đất của Việt Cộng vào lănh thổ VNCH,
cũng không tránh khỏi rơi vào tuyệt lộ bi thương nói trên.
Xin hăy đọc thử bài thơ “As The Sun Sets In The Dark Sky”
của Guy L. Jones thuộc tiểu đoàn 43 Truyền Tin. Người lính
chiến Hoa kỳ này đă nghe thấy, cảm nhận ǵ trong cảnh "hồn
tử sĩ gió ù ù thổi," trong cảnh tịch mịch dưới màn đen, trời
mờ Pleiku:
“…Khi ánh thái dương ch́m khuất trong bầu trời u ám, tôi
nghe âm thanh của những người lính chiến đang đi đều bước và
kêu gọi nhau từ một khoảng xa. Tôi nghe họ bảo rằng đừng nhỏ
lệ v́ họ, bởi những nỗi đau đớn của họ giờ đă tan biến cả
rồi và hiện giờ họ đang đi về với Thượng đế trong cảnh an
b́nh vĩnh cữu.
Khi ánh mặt trời lan dần về phía chân trời, h́nh ảnh của
những người di hành đó đă vượt khỏi tầm mắt của tôi, nhưng
không phải là những lời trối trăn mà họ đă nói, v́ những di
ngôn của từng mỗi người đó tôi vẫn ghi giữ măi trong tiềm
thức.
Tôi đă th́ thầm đáp lại cho cho họ biết là tôi sẽ thông
truyền những lời trối trăn ấy tới mọi người, cho bất cứ
những ai muốn nghe di ngôn của họ do tôi tường thuật lại.
Công việc này tôi xin hứa với tất cả các anh, tôi sẽ làm măi
măi khi mà tôi vẫn c̣n sinh tồn. Xin chào vĩnh biệt các
chiến hữu, xin chào”[5]
Nhà toán học, nhà tư tưởng siêu quần Blaise Pascal đă từng
ví von nhận định rằng: “Con người là một cây sậy, loại mềm
yếu nhất trong vạn vật, nhưng là một cây sậy biết tư duy”
[6]. Thân phận người chiến binh ngoài tuyến đầu dĩ nhiên
mong manh, nhưng là người biết suy tưởng, có t́nh cảm, th́
dù ở trong cảnh trạng khói Iửa đạn bay đi nữa, mấy ai tránh
khỏi nỗi niềm mơ ước. Mơ ước, hoài vọng về một viễn ảnh sớm
chấm dứt chiến tranh, đất nước sớm an b́nh:
“…giọt máu trên ngọn cỏ mềm - của ai không biết nằm im như
tờ - đằng xa sau lớp bụi mờ - mới nh́n tôi tưởng con cờ thí
thân - toán tôi vừa tới b́a rừng - đă nghe đạn nổ muốn bưng
cái đầu - rạp ḿnh xuống đất nâu nâu - mặt tôi chạm nắm cỏ
khâu xanh ŕ.
ừ th́ chú cũng như tôi - cũng khiêng sông núi trên đôi vai
ḿnh - mong cho đất nước thanh b́nh - chớ ai mong cảnh chiến
tranh bao giờ - ừ th́ anh cũng như em - cũng đem tổ quốc
treo trên ngọn cờ - buồn buồn bày đặt làm thơ - vui vui th́
lấy súng phơ một tràng…” [Phan Ni Tấn *
Rừng Tâm Sự 5 Năm
Lính]
Dẫu rằng vấn nạn ấy chỉ là mộng con hay loại “nhược đại
mộng” của người lính xa nhà, trong đêm buồn tênh gối súng,
nằm ngắm trăng sao, mây nổi rồi mơ ước cảnh đoàn viên:
“…Trước thượng đế hai đứa đồng cúi lạy - xin Hoa-Thương-Yêu
nở khắp mọi nhà - ruộng đất không c̣n làm băi tha ma - sắt
thép loài người đem xây tổ ấm - dưới sương gió mây ngàn bên
xóm vắng - riêng chúng ḿnh t́nh tự ngắm trăng non - sớm sớm
chiều chiều em sẽ dạy con - bài hát đầu tiên ngợi ca
T́nh-Ái.” [Phan Bá Thụy Dương * Nói Với Người Mang Tên Một
Loài Chim Mùa Xuân]
Đời sống của những người lính trận, v́ thường xuyên phải đối
diện với thần chết nên mỗi lần được nghĩ phép, dưỡng quân là
cơ hội bằng vàng cho họ t́m gặp bằng hữu, anh em để cùng
nhau ngă nghiêng, ngất ngây bên ly rượu, hầu tạm quên những
giây phút ác liệt, nghẹt thở, bâng khuâng ngoài chốn tiền
phương:
Nửa đêm như thể ngày xưa ấy. Mấy thằng trải chiếu dưới đêm
trăng. Trăng sáng phơi trên hàng kẽm lạnh. Rồi chảy vào bát
rượu bâng khuâng. Nửa đêm mấy đứa chưa buồn ngủ. Buồn ngủ
làm sao, ta chiêm bao. Lính trận dưỡng quân nhờ tí tửu. Để
mai nằm xuống hồn bay cao. Nửa đêm doanh trại đèn leo lét.
Người lính canh ngồi như tượng đêm. Ma quỉ muốn chơi xin
hoăn chiến. Để ta cùng đụng với anh em.
(Nửa Đêm Uống Rượu
Với Bạn Bè, tr 149)
Cũng không ít anh em quân nhân quan niệm rằng : Đánh trận
xong rồi th́ ta đánh chén. Trong lúc rănh rỗi, dưỡng quân
th́ ta đánh chén trước, rồi chờ ngày đánh trận sau. Lính và
rượu. Rượu và lính cơ hồ như đôi t́nh nhân luôn luôn gắn bó
mật thiết. Cho dù kẻ ấy là lính “ṭ te” mới ra “ḷ” hay là
người đă dạn dày chiến trận, khí phách, coi thường sinh tử.
Lời thơ trích dẩn dưới đây, tuy bộc lộ rơ nét ngang tàng,
khoáng đạt ấy, nhưng dường như phần nào cũng mang mang ư
niệm, tư tưởng hiện sinh. Bởi v́, như ai cũng biết, từ hạ
bán thập niên 50 trở đi các tác phẩm hiện sinh, lăng mạn như
“Bonjour Tristesse”, “Dans Un Mois, Dans Un An”, “Un
Certaine Sourire”… của nữ văn sĩ Francoise Sagan đă ảnh
hưởng khá sâu đậm như thế nào với xă hội, đặc biệt là với
giới trí thức trẻ, miền Nam:
“…hăy cụng ly chết bỏ - tôm cua cá lươn ṣ - lương ta c̣n
nguyên vẹn - c̣n cả cái Seiko - Cửu long giang ra biển - sẽ
chẳng trở về đây - chiến tranh hề gặp gỡ - có chắc lần thứ
hai - lai mỗi thằng mỗi ngă - thằng Cà Mâu Năm Căn - thằng
B́nh Dương, B́nh Giă - thằng địa ngục thiên đàng - nhưng ta
không sợ chết - (hơi ngán què đôi chân).
c̣n mày sao lại khóc - cứ cười lên đi con - ta anh hùng tứ
xứ - há thua những bông hồng - nơi rừng U Minh Hạ - c̣n dám
nở dưới bom - cứ cười như họng súng - bắn cuộc đời vỡ
toang...” [Hà Thúc Sinh *
Hành Quân Qua Bến Phà Mỹ Thuận Gặp
Bạn Đánh Chén, Say Mèm]
Dĩ nhiên bên cạnh đó c̣n có sự tác động mạnh mẽ hơn của các
triết gia hiện sinh hàng đầu như S. Kierkegaard, JP Sartre,
F. Nietzche, A. Camus… Có thể cũng với tâm trạng, khái niệm
yêu cuồng sống vội, bất kể ngày mai ấy, cùng với sự cảm nhận
về nỗi bấp bênh của ḿnh trước đầu tên mũi đạn, nên tác giả
Ô Cửa nghĩ rằng có thể ngày mai anh sẽ không c̣n cơ hội sinh
tồn. Nên hôm nay có rượu th́ chết bỏ, hăy cứ hăng hái tiếp
nối cuộc vui “đưa cay” với bạn bè, ngay cả với linh hồn
người khác địa đầu chiến tuyến:
Xin cô hàng thêm một két bia. Hôm nay lănh lương tôi dành
đăi hết. Cô hàng ơi một mai tôi chết. Ai tiêu dùm tôi ba
tháng lương... Cô hàng ơi cho một ly không. Tôi rót mời một
người lính Bắc. Hắn nằm băm thây dưới hầm bí mật. Trên người
c̣n sót lại bài thơ. (Một Ngày Không Hành Quân, tr. 45)
4 câu thơ chót là 4 câu thơ đă nói lên đầy đủ tính chất nhân
bản. Phải chăng đây là một tuyên ngôn? Tuyên ngôn về t́nh
người - t́nh người không biên giới, t́nh chung giống ṇi,
huyết thống VN.
Làm lính trận miền cao là sống với rừng núi khô cằn, bụi
mốc. Có mấy ai khi được nghỉ ngơi về với phố thị tránh khỏi
sự rung động, khi nh́n những tà áo tha thướt, phất phơ bay
bay trong gió của giai nhân, của em gái hậu phương:
Thành phố nọ trở về vui một bữa. Quán cà phê và bạn hữu tao
mày. Phố xanh hồng sáu chục cũng c̣n say. Huống bọn trẻ ở
trên rừng vắng gái. Gác chân lên bàn đôi giày vạt đế. Cốc
xây chừng ngầy ngậy giọt bơ thơm. Ánh mặt trời đọng lại
trong ly con. Gió sông thổi tà áo màu tha thướt. Vỉa phố
trời cho rộng vài ba thước. Đường phố không dài nên đi xuống
đi lên. Muốn theo gót nàng nhưng không dám làm quen. Thôi
chỉ biết ngồi ĺ ṃn cả ghế. Để cố uống một lần mai từ giă.
Những mái trường, những cửa tiệm, đám đông. Đàn bướm màu làm
đẹp cả hoàng hôn. Để ǵn giữ làm của thời tuổi trẻ.
(Về Với
Phố, tr 162)
3. Thân phận, kiếp sống gian lao và nỗi u hoài của người
chiến binh sau ngày miền Nam bị nhuộm đỏ
Sau khi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và bào đệ của ông bị thảm
sát do nhóm tướng lănh chóp bu đảo chánh ngày 1/11/63, t́nh
h́nh chính trị và an ninh miền Nam dần dần rơi vào trạng
thái càng ngày càng bất an. Có phải cái chết của cụ Ngô như
là hồi chuông báo tử trước cho Tổng Thống Kennedy và sự cáo
chung của chế độ VNCH? Chỉ hơn một năm sau khi người Mỹ rút
khỏi miền Nam, cắt đứt viện trợ, th́ quân lực Cộng hoà càng
lúc càng bị trói tay, thúc thủ, do thiếu quân cụ, nhiên
liệu, đạn dược... Thêm vào đó là với lệnh buông súng “lạ
lùng, khó hiểu” của tướng "big Minh" đă dễ dàng đưa toàn
quốc rơi vào tay lực lượng xăm lăng CS.
Trước và sau ngày dâu biển đó, người ta truyền tụng khắp nơi
rằng không biết bao nhiêu quân nhân các cấp đă tự tuẫn tiết
v́ chẳng chịu đầu hàng. Đa số những người khác th́ v́ vướng
bận thê nhi, cha mẹ... đă bị đưa vào các trại tập trung lao
động, tẩy năo, mà kẻ chiến thắng gọi là trại cải tạo, kể cả
những viên chức dân sự. Bối cảnh náo loạn, bi đát của ngày
tàn chiến cuộc ấy đă được thi sĩ Diên Nghị xúc cảm
ghi lại một cách sâu sắc:
“Tháng 4 - vợ ngóng chồng đầu ngơ. Nón sắt giày sô vất bỏ
dọc đường. Mưa sớm khai mùa tuôn xối xả. Đất trời xúc động
nỗi tai ương. Thương binh lê lết ra y viện. Tà quyệt nào tha
phận tật nguyền. Đơn vị ră hàng tàn chinh chiến. Hỏi người
nhân đạo với nhân danh. Có người lính trẻ không buông súng.
Ngẩng mặt hiên ngang trước kẻ thù. Thà ngă dưới cờ tṛn danh
dự. Dày trang sử Việt sáng thiên thu”. [Diên Nghị * Tháng
Tư]
Cũng như những quân cán chính khác, bạn tôi, một người vừa
là người làm báo, vừa là một cưu quân nhân ngành quân báo đă
lâm vào thế bị cưỡng bức tập trung. Anh cũng như nhiều người
khác tin tưởng rằng chiến tranh đă kết thúc th́ việc xách
khăn gói đi tŕnh diện học tập trong mười ngày, một tháng
theo lệnh của ủy ban quân quản CS là một điều tất yếu, để
sau đó mọi người trong nước cùng nhau nối ṿng tay lớn xây
dựng, hàn gắn lại quê hương. Nhưng tất cả những kỳ vọng ấy
đă được trả bằng những sự đói rét, khổ nhục trường kỳ và
những đ̣n thù khắc nghiệt:
“Heo hút đồi cao bụi phủ mờ - những thân c̣m cơi dáng chơ vơ
- bốn ṿng gai sắc như dao nhọn - đâm suốt hồn ai nhát hững
hờ - đă mấy Mùa Xuân trong đớn đau - cao su vàng lá úa u sầu
- bọn ta chung kiếp tù tăm tối - ngày tháng chừng trôi qua
rất lâu...” [Vũ Uyên Giang * Bài Gửi Dương Hùng Cường]
Nếu không có sự tin tưởng này th́ với lực lượng quân dân cán
chính can trường, bất khuất bị lường gạt ấy sẽ ứng phó ra
sao? Giới cầm quyền mới có dễ dàng, yên ổn thu gọn cuộc
chiến thắng mà họ đă luôn tự hào, rêu rao là thần thánh kia
chăng? Việc CS dồn người, đem giam giữ vào các trại tập
trung xa xôi, ngấm ngầm để các nơi, các cơ cấu phụ thuộc tổ
chức đưa người vượt biên hoặc cho phép các cựu tù miền Nam
sang Mỹ định cư chẳng phải là nhằm vào mục đích giải trừ,
tránh đi hậu hoạn về những sự đối kháng, nổi dậy nguy hiểm
hay sao? Hơn ai hết, nhóm đầu năo lănh đạo phương Bắc có thể
tiên liệu, biết chắc chắn là mối họa này không thể không xảy
ra?
Rồi con số người bị hành hạ, chết chóc trong các trại cải
tạo mỗi ngày một gia tăng. Con số người dân t́m đường vượt
thoát chế độ độc tài càng ngày càng nhiều, dù họ đều biết
rằng ḿnh có thể sẽ vùi thây trong ḷng biển cả hay một xó
rừng, góc núi nào đó. C̣n những kẻ sau thời gian bị nhục
h́nh trong các trại tập trung trở về, người th́ bị đày lên
vùng kinh tế mới, kẻ th́ lâm vào cảnh "anh hùng lỡ vận lên
nguồn đốt than", t́m trầm quế, "chém tre đẵn gỗ trên
ngàn"... dọc theo dăy Trường Sơn hay tiếp tục những gánh
nặng oan khiên khác bằng nghề đẩy xe thồ, đạp xe xích lô...
tự an ủi ḿnh bằng ư nghĩ "không có nghề nào tồi tệ, xấu xa,
chỉ có con người tồi tệ, xấu xa thôi" [7]. Những h́nh ảnh
được tŕnh dẩn dưới đây là một trong những minh chứng về
chánh sách đọa đày, ngược đăi đối với những người cựu tù
sống sót đă được họ tha, cho về từ những ḷ ô nhục mà ngôn
ngữ kẻ chiến thắng gọi là trại cải tạo:
“Cơng con dắt vợ leo đồi - phá rừng làm rẫy cất cḥi tịnh
tâm - vợ con tắm vũng trâu nằm - lưng gùi tay rựa quanh năm
cuốc cày - đầu trần chân đất hôm nay - mai sau rồi cũng bóng
mây lưng đèo.” [Trần Văn Sơn * Tù Về, Lên Rừng Làm Rẫy]
Nơi các trại tù tập trung lao động cũng có nhiều người bất
khuất, không chịu được sự ngược đăi đă liều ḿnh bỏ trốn. Có
nhiều người bị bắt lại, bị giết. Cũng có nhiều người vùi
thây nơi vùng Việt Bắc, nơi rừng sâu nước độc, hoang dă đầy
sương lam, chướng khí trên đường t́m về. Cũng có nhiều người
vượt thoát sau bao đói khổ, truân chuyên được hội ngộ với
gia đ́nh. Nguyên Hoàng Bảo Việt là một trong số những người
may mắn hiếm hoi đó. Anh là một trong những người đầu tiên
đă chiếm giải Văn Chương Toàn Quốc trong thập niên 60. Hiện
nay anh là nhân vật quan trọng trong Ủy Ban Bảo Vệ Nhân
Quyền và trung tâm Văn Bút Âu Châu. Nhờ “Kẻ Sống Sót” này mà
chúng ta có thể h́nh dung được thảm cảnh oan khiên của những
người “ngă ngựa” phải chịu đựng triền miên trong địa ngục
trần gian. Trong một nơi cực khổ, đói lạnh dai dẳng, thiếu
ánh sáng:
“…Đêm đă xuống - Trên đường trốn về Nam - T́m sao để định
hướng - Con chim Việt c̣n nhớ cành - Sau lưng tôi - Bạn bè ở
lại - Giữa trại tù tập trung - Nào ai biết - Dù màn sắt hay
màn tre - Ngục h́nh của Cộng sản - Ngàn lần hơn Lao Bảo -
Trăm lần hơn Côn Nôn - Luật rừng thời trung cổ - Khổ sai và
tẩy năo - Chung thân - Chết đói và tuyệt vọng - Muôn năm -
Xích xiềng và liềm búa - Khua vang - Khua vang…” [Nguyên
Hoàng Bảo Việt * Kẻ Sống Sót]
Tác giả Ô Cửa th́ may thay được cho về sớm để rồi bùi ngùi
nh́n cảnh đổi thay, vợ con nheo nhóc. Người lính thám báo,
người giáo sư yêu đời năm xưa đă mạnh dạn t́m phương tiện
sinh nhai bằng một nghề mà người có học, kẻ sĩ trên khắp
hoàn vũ nằm mơ, hoang tưởng mấy cũng không thể h́nh dung,
ngờ được. Nhưng có lẽ nhờ tâm hồn nhạy cảm, dể rung động của
thi nhân cùng với một nhân sinh quan cởi mở, nên có lúc THT
cũng t́m thấy được phần nào nét trào phúng, ư nhị nhỏ nhoi,
hài ḥa trong công việc dăi dầu mưa nắng. Dẫu sao anh cũng
c̣n cảm thấy được phần nào tự do, sung sướng hơn những năm
bị lưu đày:
Ta trở về ôm những nhánh tang thương. Cúi đầu bước đi giữa
ḷng phố cũ. Con phố của ta ruột rà trăm ngơ. Sao bây giờ
mỗi khúc mỗi đau. Ta đă trở về bốn năm phù du. Hồn hóa đá
người thành dă thú. Ta dỗ dành ta tai trời ách nước. Thôi đă
hết rồi món nợ tiền khiên... Sau cuộc chiến tranh làm tên
sống sót. Sau cuộc tội tù đi bán cà rem. Ta bán cà rem hề,
ta bán cà rem. Lắc chiếc chuông đồng khua vang làng xă...
Chiếc áo trận xanh xạm màu khói lửa. Chiếc mũ rơm đan vương
miện tội tù. Ta qua những miền thiên cổ âm u. Ta đập vào
thùng nghêu ngao ca hát. Ta bán cà rem hề, kem đường kem
chảy. Thêm kem oan cừu chất ngất miền Nam. (Ta Bán Cà Rem
Hề, tr.24)
Lời thơ tuy êm êm, lăng đăng như sương khói đầu cành, nhưng
sao lại ẩn tiềm, phảng phất đâu đây một nỗi cay đắng tái tê.
Những ḍng thơ chuyên chở những sắc thái ư nhị này người đọc
có thể phát hiện dễ dàng trong toàn tuyển tập Ô Cửa của anh,
điển h́nh như: “Sợi Tóc Nhớ Nhung” (tr. 108), “Tôi Đă Về Em
Ạ Đêm Nay” (tr. 165), “Xa lạ” (tr. 201), “Hoàng Hôn Trên Bản
Địa” (tr. 313)...
Trận đánh nào rồi cũng đi vào quên lăng. Thời gian nhọc
nhằn, tủi nhục nào rồi cũng ch́m lắng, nhạt nḥa dần với
thời gian. Kết cuộc có c̣n chăng là những nỗi niềm u uẩn,
cay đắng khôn nguôi, những vết sẹo măi măi hằn in trên thân
thể gầy ṃn của người lính tiền sát bị thất trận oan ức:
Những mảnh đời như những cơn giông. Đă xé toạc cả tiếng đời
tục lụy. Đă dữ dội như trăm ngàn tạc đạn. Đă rũ mềm lê lết
cất không lên... Bụi th́ mù, mây th́ phủ tai ương. Con ngựa
đứt dây, hí hoài trên núi. Bàn tay cắt vào mảnh chai tươm
máu. Hồ trường này đây, đập cốc. Về đâu? Ta th́ ngậm cả tang
hồ rách nát...(Cuồng Ngâm Của Tên Thất Trận, tr 124)
và có c̣n chăng trong ḷng, trong kư ức sâu kín là niềm kiêu
hănh, sự tưởng niệm mang mang, thấm thía:
May mà tôi vẫn c̣n một hoài niệm xanh. Dù chỉ là nỗi niềm tự
hào buồn bă. Trên ngực lép vẫn c̣n chiến thương ngày cũ. Như
đáp đền ân lượng của quê hương. (Niềm Kiêu Hănh Buồn Bă, tr
233)
Người bạn đồng minh James M. Hopkins thuộc Sư Đoàn 1 BB -
người đă từng dẫm chân trên các nẻo đường hành quân vùng
B́nh Dương, Tây Ninh, khu “tam giác sắt” cũng có chung một
tâm trạng như “Đêm Mất Ngủ” của THT (trang 252). Nhưng trái
với sự mong đợi. Khi anh và các chiến hữu trở về không may
đă bị các lực lượng phản chiến hung hăng thời đó coi như
những tội đồ, thậm chí là kẻ sát nhân. Do mặc cảm tội lổi
hay v́ tâm trạng chua chát, tái tê trước phản ứng phủ phàng
của dư luận mà bài thơ mang tựa “SONG” diển tả về tâm trạng
của người lính hồi hương này đă mang nặng màu sắc bi thảm,
bi quan, chán chường, để rồi anh ta phải dấu kín tâm tư,
không thổ lộ được cùng ai:
“…Người lính chiến không quên được. Có lẽ -trong nhiều năm-
anh ta sẽ trăn trở trong mỏi mệt. Chờ đợi giấc ngủ, chẳng
bao giờ đến. Không ai có thể thoát khỏi được. Những ǵ anh
ta đă chứng kiến, và những sự việc anh ấy đă dự phần, đều bị
chôn vùi trong những giấc mơ, trong thầm lặng và câm
nín…”[8]
Sao người ta lại nh́n tác động, hiệu quả của chiến trận dưới
con mắt đạo đức để chỉ thấy mặt trái, đàng sau của tấm huy
chương? Điều đó có oan ức cho những người v́ nhiệm vụ phải
thi hành trong lúc đối diện địch quân? Hơn nữa trong lúc
chiến đấu, giết giặc - ít nhất, cũng để bảo toàn được mạng
sống của ḿnh, mà cũng bị xem là một hành vi tội lổi, phi
đạo đức được chăng và như vậy th́ sự công b́nh đối với tha
nhân ở đâu?
Những ray rứt về những ngày ngang dọc, gian truân xa xưa như
cứ đeo đẳng, bám sát tâm trí người lính trận THT. Cho dù đến
nay anh đă trở thành công dân của một quốc gia khác, mà quê
huơng yêu dấu cũ th́ đă ngàn trùng cách ly. Nỗi hoài nhớ này
được dàn trải qua 2 bài lục bát ngắn gọn dưới đây:
Bên kia lạnh nến hai hàng. Phố kia và những con đường lặng
im. Nhà kia đóng cửa im ĺm. Sao ta không đóng nỗi niềm muội
mê. (“Hỏi ḷng,” tr 256)
Tôi lạc rồi em biết không. Tôi đang quờ quạng giữa vùng mù
sương. Cũng v́ cái ngạnh cái ương. Ngỡ ḿnh là lính tiền
phương thuở nào. (Lạc Đường, tr257)
Dù tập thơ quá dày không thể giới thiệu thêm, nhưng người
viết nhận thấy ḿnh sẽ thiếu sót lớn nếu không đề cập đến
bài thơ mang tựa của tuyển tập, mang linh hồn của cả 5 ấn
phẩm mà tác giả đă chọn, gom góp lại thành một kiệt tác:
Ngôi trường cũ có bao nhiêu ô cửa. Để tôi về đếm những đám
mây bay. Tôi sẽ gọi một bầy chim sẻ nhỏ. Những con chim từng
xa vắng lạc bầy. Tôi sẽ đứng như một người thiên cổ. Lớp học
buồn như từ cơi cô đơn. Thầy ngồi đó đôi vai gầy tóc bạc.
Chút ngậm ngùi cơn nắng đọng hoàng hôn... Tôi sẽ nhớ một
người tôi yêu dấu. Người nào đâu về lại buổi hôm qua. Dấu
chân nhỏ như vết hài vạn cổ. Đôi mắt nào theo măi cuộc đời
tôi... Và người ấy qua ḍng sông sương muối. Tôi lên rừng
theo ḍng thác binh đao. Và người ấy theo sông về với biển.
Tôi về Đông, về Bắc, biết về đâu? Trăng thiếu phụ tôi mang
vào song cửa. Cho một lần, cho vô tận ư thiên thu. (Ô Cửa,
tr 14)
Tôi đoan chắc những hoài niệm triền miên, những ray rứt về
các mất mát trên với niềm kiêu hănh buồn bă nọ sẽ măi măi
vương vấn trong tâm hồn, kư ức của người thi sĩ đa cảm, đa
t́nh này. Tuy phần lớn trong số 237 bài là thơ chiến tranh -
trực hay gián tiếp, nhưng trong Ô Cửa cũng có nhiều bài thơ
t́nh nồng nàn, rất đáng cho người đọc ngâm nga, thưởng ngoạn
như: “Nha Trang” (tr. 30), “Con đường Trăng” (tr. 52), “Thơ
của Văn” (tr. 62), “Dư niệm” (tr. 196), “Từ buổi ta về” (tr.
268), “Hẹn ḷng” (tr.350)
4. Lời kết
Ai cũng biết con số người Việt Nam làm thơ chiến tranh không
phải là ít. Nhưng theo tôi, THT là người đă sáng tác nhiều
nhất Trong nhiều tác phẩm mà tôi có trong tay do anh gởi
tặng, tôi thấy hầu như bài nào, cuốn sách nào, anh cũng vẽ
cho người đọc thấy những h́nh ảnh linh hoạt, bi hùng của
nhũng người lính chiến như anh, sự thống khổ của đồng bào mà
anh và những chiến hữu khác thuộc quân lực miền Nam có nhiệm
vụ bảo vệ, che chở bằng tất cả nhiệt t́nh, nhiệt huyết.
Ô Cửa là một tuyển tập thi ca có tầm vóc lớn. THT lại biết
tự chọn cho ḿnh một hướng đi, một bản sắc riêng về thi
loại, đề tài: chuyên biệt về Chiến Tranh. Thơ anh được cấu
tạo bằng những thi ngữ, ngôn từ qui ước b́nh dị, chân
phương. Nhưng bằng những cảm xúc nồng ấm, cùng lối kết từ
điêu luyện, nên Ô Cửa dễ dàng lôi cuốn người đọc vào những
t́nh tự tan hợp, những biến động tràn ngập máu lửa, khói
súng trong thời loạn lạc đă qua, mà anh là một nhân chứng
sống. Chất liệu ṇng cốt trong thơ anh là t́nh nghĩa, dành
cho đồng đội, t́nh yêu thương, tŕu mến dành cho người t́nh,
cho những người dân lành ở khắp các làng mạc, thị trấn lẻ,
mà gót chân anh đă từng in dấu.
Thơ chiến tranh là một thi loại đặc thù, khó gây được sự
rung cảm sâu xa trong tâm hồn người đọc. Nhưng nhờ sự biết
phối hợp, hài ḥa các thi ảnh, thi ngữ vào tác phẩm đúng mức
nên thơ của anh trở nên dịu vợi hơn và dễ thẩm thấu vào nội
tâm người thưởng ngoạn. Ô Cửa xứng đáng là một tập thơ có
giá trị cao, hiếm hoi trong nền văn học hiện đại.
¤ Vài nét về Trần Hoài Thư.
THT là một người có ḷng với nền văn học miền Nam. Từ khi
định cự tại một tiểu thuộc miền Đông Hoa kỳ đến nay anh đă
lặn lội đi các thư viện lớn để suy tầm tác phẩm của các nhà
văn, nhà thơ cũ để in ấn lại và lưu truyền ở hải ngoại bằng
phương tiện thô sơ khiêm tốn qua Thư Ấn Quán của ḿnh.
Ngoài ra anh và một số thân hữu c̣n chủ trương tập san Thư
Quán Bản Thảo cứ ba rồi bây giờ là 2 tháng một lần - từ
nhiều năm nay, để đăng tải các tác phẩm của bằng hữu. Đặc
biệt là của những cây bút c̣n ở tại miền Nam VN. Tập san này
không bán mà chỉ biếu tặng theo yêu cầu của những người mến
mộ các văn thi sĩ cũ trước tháng 4 năm 1975.

Trần Hoài Thư tên thật Trần Quư Sách, sinh ngày 6.12.1942
tại Đà Lạt. Anh khởi viết năm 1960 và nguyên là cựu sĩ quan
VNCH ngành Thám báo. Tốt nghiệp cao học toán tại Hoa kỳ. Cựu
chuyên viên điện toán của công ty điện thoại AT&T. Hiện hồi
hưu và an cư tại tiểu bang New Jersey.
Một số tác phẩm tiêu biểu đă xuất bản:
Nỗi Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang ( Ư Thức)
Những V́ Sao Vĩnh Biệt (Ư Thức)
Ngọn Cỏ Ngậm Ngùi (Ư Thức)
Một Nơi Nào Để Nhớ (Con Đuông)
Ra Biển Gọi Thầm (1995)
Ban Mê Thuộc Ngày Đầu Ngày Cuối (1997)
Về Hướng Mặt Trời Lặn (1998)
Thơ Trần Hoài Thư (1998)
Mặc Niệm Chiến Tranh - Ô Cửa (2006)…
PHAN BÁ THỤY DƯƠNG - 5/2010.
_____________________________
•
trích thơ của các tác giả:
Anh Thuần,
Diên Nghị, Hà Thúc Sinh, Linh Phương, Hoàng Lộc, Huy Lực,
Luân Hoán, Nguyên Hoàng Bảo Việt, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn
Mạnh Trinh, PBTD, Phan Ni Tấn, Phan Xuân Sinh, Tô Thùy Yên,
Trần Tuấn Kiệt, Trần Văn Sơn, Vũ Uyên Giang.
•
tạm dịch
từ nguyên bản:
[1] Herbert
Hoover: The old men declare war. But it is the youth who
must fight and die.
[2] Ernest Hemingway: They wrote in the old days that is
sweet and fitting to die for one’s country. But in the
modern war, there is nothing sweet nor fitting in your
dying. You will die like a dog for no good reason.
[3] Winston Churchill: Attitude is a little thing that
makes a big difference. It costs nothing to be polite.
[4] Marko Whiteley: Right onto the ambush the fighting is
fierce. The wildness is gone the glint in the eyes. For now
it is you not just them to die. Through the blackness of the
deeping night. The wounded scream the rest to fight. The
mind starts to scream a terrible warning.
[5] Guy L. Jones: As the sun sets in the darken sky. I hear
the voices of those who march off to the distant and calling
one to another. I hear them say do not weep for us for our
pain is over with now and we go to our God in peace. As the
sun passes over the horizon, the image of these marching men
pass from the light of my eyes but not the words they said,
which I hold onto and the memory of each and very one of
them. I whisper back to them I’ll pass on your words to all
who hear them from me. This I promise to all of you as long
as I live.
Farewell my friends, farewell.
[6] Blaise Pascal: L’homme est un roseau, le plus faible de
la nature, mais un roseau pensant.
[7]
Winona Ryder: il n’y a pas de sot métier, il n’y a que de
sottes gens.
[8] James M.
Hopkins: The combat soldier, do not forget who (for perhaps
years) will toss sweat, waiting for sleep, that won’t come.
No one escapes. What his eyes have seen, and the things he
has been, are buried in dreams, mute and dumb.
phan bá thụy dương
art2all.net
|