|
TRẦN DZẠ LỮ
HỒI ỨC
PHẦN 13 - Ở QUY NHƠN
Đất Quy
Nhơn từ lâu xứng danh là Đất Vơ Trời Văn. Nơi sản sinh rất nhiều bậc tài
hoa về thi ca và văn chương. Sau những tiền bối nổi danh như Xuân Diệu,
Huy Cận, Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Yến Lan. Quách Tấn…là hàng hàng lớp lớp
đi sau vô số kể. Rất tiếc là tôi không có duyên hội ngộ với ACE văn nghệ
sĩ Quy Nhơn nhiều nên chỉ cảm nhận vài người tôi quen biết như Nguyễn
Mộng Giác, Lê Văn Ngăn, Trương Văn Dân, Vũ Đ́nh Huy. Phạm Ngọc Dao,
Nguyễn Kim TIến, . Nguyễn Tiết, Lâm Cẩm Ái… HÀN MẶC TỬ, NỖI ĐAU XÉ L̉NG Từ khi bước chân vào bậc trung học tôi đă mê thơ Hàn Mặc Tử. Một giọng thơ xé ḷng của đất Quy Nhơn. Một tiếng chuông hồn vang vọng của kiếp người mà bất cứ ai nghe cũng trắc ẩn. Thơ và cuộc đời của ông th́ biết bao người viết. Ai cũng đọc và cảm nhận. Tiếc là căn bệnh hiểm nghèo đă mang ông về trời lúc c̣n quá trẻ và lúc bút lực đang như sóng lừng. Bài thơ nổi tiếng nhất của ông là bài Đây Thôn Vỹ Dạ. Và bản nhạc hay viết về ông là Hàn Mặc Tử của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Mỗi khi nghe bản nhạc này là tôi nổi gai ốc. Có lẽ nhạc sĩ đă cảm ông đến độ sáng tác một ca khúc hay như thế. Trái tim đến cùng trái tim là một ảm ảnh khôn nguôi. Ḷng gặp ḷng dù tuổi tác và thế hệ cách xa. V́ thế, dù ông cô độc gặm nhắm căn bệnh thời bấy giờ nhưng vẫn có những Nàng Thơ đồng cảm và yêu ông da diết. Tôi không nhắc lại đây v́ mấy mươi năm qua ai cũng biết. Tôi yêu quư ông và cứ ngỡ đă gặp ông ở đất Quy Nhơn. Đau đáu nỗi niềm này cho đến năm 2008 và 2015 tôi mới có dịp về lạy thi sĩ và đứng trầm ngâm rất lâu trước mộ ông trên Đồi Thi Nhân. Nơi an nghỉ của ông chưa có thi sĩ nào được như thế. Âu cũng là sự đăi ngộ xứng đáng của Thượng Đế và cuộc đời dành cho ông. Thật thích thú khi đọc được những câu chữ viết về ông và nhạc sĩ Trần Thiện Thanh:
“Viết về ca khúc “Hàn Mặc Tử” của Trần Thiện Thanh. Bài hát Hàn Mặc Tử đă được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác vào năm 1965. Đây là một trong những ca khúc rất thành công của ông, khi kể về cuộc đời t́nh ái sự nghiệp của một thiên tài trong thi ca Việt Nam, là thi sĩ Hàn Mặc Tử (1912-1940). Bài hát bắt đầu bằng các câu thơ của HMT, được ngâm lên cho đoạn dạo đầu (prélude):
“Ai mua trăng tôi bán trăng cho Sau đó th́ tác giả chuyển qua điệu nhạc Bolero :
“Đường lên dốc đá, nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện
xưa
“Đường lên dốc đá, nhớ xưa hai người đă một lần đến Bài hát “Hàn Mặc Tử” này đă trở nên thật nổi tiếng ở Việt Nam kể từ lúc được ca sĩ Trúc Mai tŕnh bày ở Đại nhạc hội tại rạp hát Thanh B́nh, Sài G̣n vào năm 1965. Sau đó bài hát này được phổ biến rộng răi khắp mọi nơi cho đến tận ngày hôm nay. Đi đâu cũng nghe người ta hát “Ai mua trăng, tôi bán trăng cho…” từ nhà hàng, quán cà-phê, bến xe đ̣, bến phà, các xe bán hàng rong khắp hang cùng ngơ hẻm. Ca sĩ Trúc Mai đă bắt đầu đi hát từ năm 1959. Cô là một trong bốn ngôi sao của pḥng trà Ḥa B́nh, gồm Bạch Yến, Bích Chiêu (chị của Khánh Hà), Thùy Nhiên và Trúc Mai. Giọng hát của cô rất ngọt ngào, đầm ấm. Cô diễn tả bài hát thật nhẹ nhàng, thoải mái như ru nhè nhẹ vào tai người nghe. Nhờ vậy mà Trúc Mai đă tiếp tục sự nghiệp ca hát của cô trong hơn ba mươi năm. Sau một thời gian dài vắng bóng, cô đă tái ngộ khán giả khắp nơi ở chương tŕnh Paris By Night 78 “Đường Xưa” khi song ca với Phương Hồng Quế trong liên khúc “Giọt lệ đài trang”. Đến với chương tŕnh Asia 50 để tưởng niệm Nhật Trường, ca sĩ Trúc Mai sẽ kể lại các kỷ niệm vui buồn của cô trong những năm tŕnh diễn bài hát Hàn Mặc Tử này. Nhưng hôm nay cô không hát lại ca khúc này, mà để cho giọng ca trẻ Y Phụng ngợi ca Hàn Mặc Tử. Trước đây cũng có vài ca sĩ ở hải ngoại đă hát bài “Hàn Mặc Tử” này. Trong đó có cô ca sĩ mang hai ḍng máu Việt-Mỹ là Thúy Hằng đă hát bài này đúng 6. 41 phút trong CD “Thúy Hằng 3: T́nh Thiên Thu” do Mây Productions sản xuất năm 1998. Cuộc đời ngắn ngũi 28 năm của thi sĩ Hàn Mặc Tử đă được không biết bao nhiêu người nhắc đến. Từ những bài báo, tiểu thuyết, cải lương, thoại kịch, phim truyện và hiện nay ở các đài truyền h́nh bên Việt Nam cũng đang cho tŕnh chiếu một bộ phim truyện vài chục tập về cuộc đời Hàn Mặc Tử. Ông đúng là một thiên tài bất hạnh trong làng thi ca Việt Nam. Tên thật của ông là Nguyễn Trọng Trí, sanh tại làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Trị vào ngày 22 tháng 9 năm 1912, trong một gia đ́nh theo đạo Công giáo. Vóc ḿnh ốm yếu, tính t́nh ông hiền từ, giản dị, hiếu học và thích giao du bè bạn trong lĩnh vực văn thơ. Thân phụ ông làm thông ngôn, kư lục nên thường di chuyển nhiều nơi, nhiều nhiệm sở. V́ vậy, Hàn Mặc Tử cũng đă theo học ở nhiều trường khác nhau như Sa Kỳ (1920), Qui Nhơn, Bồng Sơn (1921-1923), Pellerin Huế (1926). Năm 1930 th́ Hàn Mặc Tử thôi học vào Qui Nhơn sống với mẫu thân và năm 1932 th́ ông xin được việc làm ở sở Đạc Điền tại đó. Trong thời gian này ông có yêu một thiếu nữ tên là Hoàng Cúc ở gần nhà, nhưng mộng ước không thành. Người yêu theo chồng ra Huế sống. Buồn t́nh, năm 1935 HMT xin thôi việc vào Sài G̣n viết báo. Từ nhỏ Hàn Mặc Tử đă làm thơ đăng báo khắp nơi và kư các bút hiệu như Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh, Hàn Mạc Tử (người ở sau tấm rèm lạnh: hàn là lạnh, mạc là bức rèm) và cuối cùng là Hàn Mặc Tử (anh chàng với bút mực: hàn là cây viết, mặc là mực). Rất nhiều người vẫn thắc mắc là Hàn Mặc Tử có tất cả bao nhiêu người yêu chính thức? Có người từng nói rằng “thi nhân muôn đời luôn luôn là giống đa t́nh”, nên Hàn Mặc Tử cũng có rất nhiều người yêu và cũng có rất nhiều độc giả yêu thơ của chàng, viết thư làm quen. Trong số đó có Mộng Cầm (tức Huỳnh Thị Nghệ) là một thiếu nữ xinh đẹp từ Quảng Ngải vào và trọ học ở nhà người cậu nơi tỉnh Phan Thiết. Sau nhiều lần trao đổi thơ từ, th́ họ cùng hẹn nhau để gặp mặt. Cuối tuần, Hàn Mặc Tử từ Sài G̣n đi Phan Thiết bằng xe lửa để t́m thăm Mộng Cầm. Họ đă dạo chơi khắp các thắng cảnh của Phan Thiết, trong đó có “Lầu Ông Hoàng”. Trần Thiện Thanh đă viết: “Lầu Ông Hoàng đó, thuở nao chân HMT đă qua". Ai đă ở tỉnh Phan Thiết th́ chắc cũng đă có lần nghe nhắc đến Lầu Ông Hoàng. Đó là một dinh thự to lớn, nguy nga tráng lệ, xung quanh có vườn tược, cây cảnh rất xinh đẹp và nằm trên một ngọn đồi nh́n ra biển xanh. Lâu đài này do một ông hoàng (công tước) người Pháp tên là De Montpensier mua khu đất này và xây cất lên vào năm 1911 để làm nơi nghỉ hè, vui chơi cho gia đ́nh ông. Năm 1917 th́ một doanh nhân Pháp mua lại để làm khách sạn cho du khách thuê. (Trong thời chiến tranh sau này, khu Lầu Ông Hoàng này đă bị bom đạn phá hũy hoàn toàn, nay chỉ c̣n cái nền cao mà thôi). Thuở xa xưa đó, những cặp t́nh nhân thường hẹn ḥ nhau đến khu vực này để ngắm cảnh và tâm t́nh với nhau nơi các băng ghế đá xung quanh vườn, nhứt là trong những đêm trăng sáng. Qua Mộng Cầm, HMT làm quen với cậu của nàng là Thi sĩ Bích Khê (1916-1946) và hai chàng thi sĩ này trở nên thân nhau như tri kỷ. Cuối tuần nào HMT cũng tới ở trọ nhà Bích Khê và hẹn gặp Mộng Cầm (Mộng Cầm ở trọ nhà một người cậu khác). Thời gian đó, không rơ v́ lư do ǵ mà HMT bị bịnh phong cùi (leprosy), hai vành tai ửng đỏ, ngứa ngái khắp nơi. Tuy vẫn thơ từ qua lại, nhưng Mộng Cầm lăng tránh dần thi sĩ, ít khi ḥ hẹn với nhau. Hàn Mặc Tử âm thầm t́m thầy chạy chữa thuốc men, bịnh t́nh cũng thuyên giảm dần dần, và thi sĩ vẫn tiếp tục làm thơ, viết báo ở Sài G̣n. Nhưng qua năm 1938, căn bịnh quái ác này trở nên nặng hơn, nên thi sĩ bèn quay về Qui Nhơn thuê một căn nhà nhỏ trên đồi, sống biệt lập cách xa thành phố, tuyệt giao với tất cả bạn bè. Hàng ngày có một tiểu đồng về nhà mẹ của HMT gần đó lănh cơm nước, thuốc men đem đến cho chàng. Trần Thiện Thanh đă viết:
“HÀN MẶC TỬ xuôi về quê cũ dấu thân nơi nhà hoang,
Từ khi phát bịnh, cơ thể đau nhức đến phát điên, nhứt là vào những đêm trăng sáng. Hàn Mặc Tử lại càng làm thơ hay hơn, như những câu thơ mà Trần Thiện Thanh đă phổ nhạc:
“Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng! Có đêm ông nằm mơ thấy Đức Mẹ hiện về, nên ông đă viết bài “Thánh nữ Đồng Trinh” để tạ ơn:
“Maria! Linh hồn con ớn lạnh Trong lúc cô đơn, tuyệt vọng chán chường, thi sĩ lại nhận được tin Mộng Cầm đi lấy chồng, nên HMT lại càng đau khổ hơn:
“Trời hởi nhờ ai cho khỏi đói Trần Thiện Thanh đă viết lời ca:
“T́m vào cô đơn, đất Qui nhơn gầy đón chân chàng đến.
H́nh như cái bịnh phong cùi này thường làm cho Hàn Mặc Tử đau đớn nhiều hơn trong những đêm có trăng. Thi sĩ đă thức trọn đêm để làm thơ:
Hôm nay có một nửa trăng thôi Có lúc thi sĩ Bích Khê ghé thăm, thấy HMT buồn, nên giới thiệu chàng làm quen với người chị của BK là Lê Thị Ngọc Sương (tức là d́ ruột của Mộng Cầm) để hai người thơ từ qua lại. HMT đă làm liền một bài thơ sau khi nh́n vào tấm ảnh của Ngọc Sương:
“Ta đề chữ NGỌC trên tàu chuối Đây chỉ là một mối t́nh đơn phương, v́ Ngọc Sương không hề yêu HMT nhưng cô cũng khiến thi sĩ sáng tác được nhiều bài thơ hay. Lúc đó lại có nữ thi sĩ Mai Đ́nh (tên thật Lê Thị Mai) yêu HMT tha thiết, t́nh nguyện đến ở bên chàng săn sóc, lo thuốc men. Nhưng thi sĩ đă từ chối và chỉ tiếp chuyện với cô được vài lần. Tuy vậy HMT cũng đă làm những bài thơ trong đó có câu:
“Đây MAI Đ̀NH tiên nữ ở Vu Sơn Thơ từ qua lại với Mai Đ́nh trong hai năm (1938-1939) rồi HMT tuyệt giao. Có lúc tưởng như bớt bịnh, bạn bè đến thăm, lại mang thơ độc giả ái mộ cho HMT xem (1940). Trong đó có một nữ sinh trung học tên Thương Thương đă làm cho HMT cảm động, và thi sĩ lại t́m được t́nh yêu trong mộng, như:
“Sầu lên cho tới ngàn khơi Gần cuối năm 1940, căn bịnh của HMT trở nên nặng hơn. Gia đ́nh đành phải đưa ông vào nhà thương phung cùi Qui Ḥa, cách Qui Nhơn 5 cây số, nơi có các d́ phước người Pháp săn sóc cho bịnh nhân. Lúc này thi sĩ đă bớt điên loạn và dần dần chấp nhận cái chết gần kề. Ông đă mơ ước:
“Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Ông luôn luôn nhớ đến Phan Thiết, nhớ đến Mộng Cầm và
những kỷ niệm thời hoa bướm ngày xưa. Thi sĩ đă viết những câu thơ dưới
đây như những lời trăn trối sau cùng trong đớn đau tuyệt vọng: Rời túp lều hoang không đầy hai tháng, th́ Hàn Mặc Tử yếu dần và tạ thế tại nhà thương Qui Ḥa, ngày 11 tháng 11 năm 1940. Được tin ông mất, các tờ báo trên khắp nước đă viết bài, đăng tin, ra số đặc biệt tưởng niệm thi sĩ tài hoa nhưng bất hạnh này. Bạn bè, người yêu, độc giả khắp nơi đều thương tiếc, nhưng không một ai đến đưa đám tang thi sĩ HMT. Trần Thiện Thanh đă kết thúc bài hát Hàn Mặc Tử bằng:
“Xót thương thân bơ vơ cho đến một buổi chiều kia Khi sáng tác ca khúc “Hàn Mặc Tử” này cách đây đúng 40 năm (1965-2005), có lẽ nhạc sĩ Trần Thiện Thanh không ngờ rằng sau này cuộc đời ông cũng có nhiều điểm giống như thi sĩ tài hoa bạc mệnh này. Nơi tỉnh nhà Phan Thiết, từ nhỏ Trần Thiện Thanh đă cùng bạn bè dạo chơi ở những nơi mà ngày xưa thi sĩ Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm từng in dấu. Nên ông đă viết: “Đường lên dốc đá, nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa, Lầu ông Hoàng đó, thuở nao chân HMT đă qua”. Vào Sài G̣n lập nghiệp, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đă mang theo ông những kỷ niệm này và sáng tác nên “Hàn Mặc Tử”. Trong khoảng thời gian bắt đầu ca hát và viết nhạc từ năm 1958 cho đến năm 1975, ca sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh đă cống hiến cho đời những lời ca tiếng nhạc thật tuyệt vời. Tên tuổi và danh vọng của ông đă sáng rực lên khắp mọi nơi. Đă có không biết bao nhiêu thiếu nữ, khán giả ở mọi lứa tuổi yêu nhạc và yêu thương ông tha thiết. Nhưng kể từ sau năm 1975, th́ sự nghiệp của ông dần dần đi xuống, kể cả khi ra hải ngoại, những sáng tác mới của ông cũng không c̣n xuất sắc được như ngày xưa. Cuối cùng th́ ông lại mắc phải một chứng bịnh nan y là ung thư phổi. Những tháng ngày cuối cùng của ông thật là cô đơn, hiu quạnh. Đâu c̣n thấy lại “ánh đèn sân khấu”, đâu c̣n thấy lại những khán giả thân thương, những bạn bè xưa, người yêu cũ. Ngay cả bà mẹ già 82 tuổi và cô em gái Như Thủy trong ban Tứ ca Nhật Trường ngày xưa, những đứa con, đứa cháu của ông vẫn c̣n ở bên Việt Nam ngh́n trùng xa cách. Những tuần lễ sau cùng, khi đă tuyệt vọng, ông không chịu nằm trong bịnh viện mà muốn trở về nằm nghỉ nơi nhà riêng. Bên cạnh ông trong giờ hấp hối chỉ có người vợ sau là ca sĩ Mỹ Lan và đứa con trai út mới vừa 3 tuổi, tên là Trần Thiện Anh Chí. Ông đă ra đi trong âm thầm lặng lẽ sau mấy tháng chịu nhiều đau đớn, dày ṿ v́ căn bịnh quái ác này. Cho đến ngày 13-5-2005 th́ “trời đất như quay cuồng, khi hồn phách vút lên cao”. Trần Thiện Thanh đă thực sự vĩnh biệt chúng ta khi vừa đúng 62 tuổi đời, là cái tuổi vẫn c̣n rất trẻ trên đất tạm dung Hoa Kỳ. “ Trước mộ ông trên Đồi Thi Nhân tôi đă viết bài thơ như một nén hương ḷng của tôi thành kính ông: THƠ TRẦN DZẠ LỮ TRƯỚC MỘ HÀN THI SĨ
Xin chào thi sĩ họ Hàn
Trần Dzạ Lữ
NGUYỄN MỘNG GIÁC, MỘT NGƯỜI ANH MÀ TÔI LUÔN KÍNH TRỌNG Đọc và biết anh Nguyễn Mộng Giác từ năm 1971 trên các tạp chí SG như Bách Khoa, Văn, Văn học, Khởi Hành …từ năm 1971. Rất quư nhân cách và tài năng của anh. Măi đến năm 1973 anh chuyển từ Quy Nhơn vào SaiGon tôi mới được gặp anh. Sự gặp gỡ của anh em văn nghệ nó lạ lùng lắm. Dễ thương lắm như đă thân t́nh từ lâu lắm. Anh thường hẹn tôi uống cà phê. Mỗi lần như thế là trao đổi với nhau về t́nh h́nh văn nghệ và đời sống. Được biết từ thập niên 70, Hoàng Ngọc Tuấn ( tác giả Cô Bé Treo Mùng thường trú trong nhà anh và anh rất thương, xem như em ruột). Người thứ 2 là tôi. Hễ có ǵ cần giúp đỡ là anh không từ nan. Tôi nhớ măi là sau 75, ai cũng khốn khó. Nhà anh ở Thị Nghè mở một cơ sở sản xuất ḿ sợi. Vậy là anh có chi chúng tôi nhờ nấy cho qua ngày đoạn tháng. Chị Chi, vợ anh là một người vợ tuyệt vời và rất hiểu anh em văn nghệ. Chị cũng không tiếc một thứ ǵ mà anh em cần. Những kỷ niệm ở Thị Nghè thật khó quên. Tôi tin nơi suối vàng bạn tôi Hoàng Ngọc Tuấn cũng thế, không quên anh. Trước t́nh thế khó khăn và biết lo cho vợ, anh Giác đă ngừng sáng tác cho đến năm 1977 mới cầm bút trở lại với tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ đến năm 1981 mới hoàn thành tác phẩm. Năm 1982 anh định cư ở Nam California. Năm 1995 anh có về thăm quê nhà. Tôi có gặp và anh đă động viên tôi in thơ v́ viết trên mấy chục năm chưa có tập thơ nào. Anh đă góp một phần tài chánh để tôi in tập thơ đầu tay Hát Dạo Bên Trời gần cuối năm đó. Tôi biết ơn anh. Năm 2004 Nguyễn Mộng Giác bị ung thư gan. Sau nhiều năm chống chọi với căn bệnh quái ác anh đă qua đời năm 2012. Anh mất đi là một tổn thất lớn với chị Chi mà không thể nào bù đắp được. Nói về anh Nguyễn Mộng Giác cũng cần nhắc lại chị Chi. Tên chị là Nguyễn Khoa Diệu Chi. Cũng thuộc hàng trâm anh. Chị học trường Đồng Khánh Huế. Năm 1963 thầy Giác về dạy trường Đồng Khánh, phải duyên cô gái Huế thùy mị đoan trang và họ đă thành vợ chồng. Năm 1965 anh Giác được điều về Quy Nhơn làm hiệu trưởng trường Cường Để. Chị Chi theo chồng về xứ Nẫu. Xin sơ lược mấy ḍng tiểu sử một người anh mà tôi luôn yêu mến, kính trọng. Một người từ tâm như thế, nơi cơi vĩnh hằng tôi tin anh luôn mỉm cười…
Tiểu sử Nhà Văn NGUYỄN MỘNG GIÁC Ông sinh ngày 4 tháng 1 năm 1940 tại thôn Xuân Ḥa, xă B́nh Phú, quận B́nh Khê (nay là huyện Tây Sơn), tỉnh B́nh Định, miền Trung Việt Nam. Thời kháng chiến chống Pháp 1946 đến 1954, ông học tiểu học và trung học tại vùng kháng chiến. Sau Hiệp định Genève 1954, ông tiếp tục học tại trường Cường Để (Quy Nhơn), trường Vơ Tánh (Nha Trang), rồi học năm chót của bậc trung học tại trường Chu Văn An (Sài G̣n). Sau khi học một năm ở Đại học Văn Khoa Sài G̣n, ông ra Huế học Đại học Sư phạm ban Việt-Hán. Năm 1963, ông tốt nghiệp thủ khoa, khóa Nguyễn Du. Ngay năm ấy, ông được điều đến giảng dạy tại trường Đồng Khánh ở Huế. Năm 1965, đổi ông vào Quy Nhơn làm Hiệu trưởng trường Cường Để. Năm 1973, thăng ông làm Chánh sở Học chánh tỉnh B́nh Định. Năm 1974, chuyển ông vào Sài G̣n làm chuyên viên nghiên cứu giáo dục Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng ḥa cho đến 1975. Về sự nghiệp văn chương, ông bắt đầu viết văn từ năm 1971 [1], đă cộng tác với các tạp chí: Bách Khoa, Văn, Thời Tập, Ư Thức. Năm 1974, truyện dài Đường một chiều của ông được giải thưởng Văn Bút Việt Nam dưới thời Việt Nam Cộng ḥa [2]. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, việc sáng tác của ông tạm gián đoạn. Đến năm 1977, ông cầm bút trở lại, và bắt đầu viết bộ trường thiên tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ, và hoàn thành vào năm 1981. Tháng 11 năm 1982, ông đến Hoa Kỳ, định cư tại Nam California [3], rồi cộng tác với các báo: Đồng Nai, Việt Nam Tự Do, Người Việt, Văn, Văn Học Nghệ thuật ở nước ngoài. Từ năm 1986, ông làm Chủ bút tạp chí Văn Học ở California, Hoa Kỳ. Đến tháng 8 năm 2004, ông phải ngưng công việc làm báo v́ phát hiện ḿnh bị ung thư gan[2]. Sau nhiều năm dài chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo, ông đă qua đời lúc 22 giờ 15 phút ngày 2 tháng 7 năm 2012 (ngày giờ địa phương ở California, tức sáng ngày 3 tháng 7 năm 2012 giờ Việt Nam) tại tư gia ở thành phố Westminster (Orange County, California, Hoa Kỳ), thọ 72 tuổi
LÊ VĂN NGĂN, NHÀ THƠ LƯU LẠC QUÊ NGƯỜI Tôi và Lê Văn Ngăn biết và quen nhau khi c̣n ở Huế. Khi tôi lưu lạc th́ được biết anh vào Quy Nhơn bám trụ quê người. V́ cách xa tôi ít được biết về đời sống của anh. Chỉ thích và t́m đọc thơ anh. Đó là những bài thơ phát tiết cùng lúc giữa trái tim và trí tuệ. Những năm sau này nghe anh rất buồn và thường đạp xe đạp một ḿnh uống cà phê hay vài ly bia ở vỉa hè thành phố Quy Nhơn. Anh lâm trọng bệnh và mất năm 2015. Sau khi anh mất bạn bè đă chung lo in cho anh một tập thơ có tên: THƠ LÊ VĂN NGĂN NXB Thuận Hóa-Huế. Trước đó anh đă có xuất bản tập thơ đáng nhớ: VIẾT DƯỚI BÓNG QUÊ NHÀ NXB Hội Nhà Văn năm 2000. Tôi thích những bài thơ này của anh cùng quan niệm: Giải thưởng của người làm văn nghệ chính là sự chia sẻ niềm rung cảm với mọi người. (LVN ) TRĂNG KHUYẾT
Quê hương đă cho anh một vầng trăng khuyết
Rời cố hương, tôi đă đi qua nhiều chặng đường BÊN HỒ THỦY NGỮ
Gió đưa t́nh ta sang xa nhau Lê Văn Ngăn Bây giờ anh về Trời. Lời hẹn của tôi về Quy Nhơn thăm anh để cùng đi dạo quanh bờ biển một một đêm trăng tṛn không bao giờ thành hiện thực. Thôi cứ là mơ nhé anh Lê Văn Ngăn. Anh yên nghỉ nhưng thơ anh vẫn lung linh trong ḷng người đọc.
VŨ Đ̀NH HUY, HUẾ LẠC TRỜI XA Chỉ mới biết và gặp nhau ở SG sau này nhưng với vẻ trầm ngâm và cũng rất phiêu bồng của Huy đă khiến tôi chú ư và thích. Nhất những bài viết và thơ của Huy nhiều trăn trở. Tôi thích những bài thơ cô đọng ngăn ngắn của Huy dù rất kiệm lời nhưng ư sâu, điệu vần thuần thục. Đọc những bài dưới đây là thấy tôi không ngôn ngoa: THƠ VŨ Đ̀NH HUY BẠI TƯỚNG CA
Dịch Thủy hề…hồng nhan tấu khúc Vũ Đ́nh Huy Hoặc bài:
DOANH DOANH MUỘI
Em ở đâu Vũ Đ́nh Huy
Và bài:
LỤC BÁT NOEL
Đêm nay Vũ Đ́nh Huy Huế lạc xứ người nên Huy luôn đi về Quy Nhơn –SàiG̣n như chong chóng. Thỉnh thoảng gặp nhau ở cà phê 64 hay SàiG̣n Phố “tám “ chuyện đời chuyện thi ca để rũ bỏ bớt bụi phong trần và nợ áo cơm mỗi ngày mỗi trả…
NGUYỄN TIẾT, NHÀ THƠ GIẤU NỖI NIỀM SAU NỤ CƯỜI Đọc và biết Nguyễn Tiết, nhà thơ nữ ở Quy Nhơn và cũng vài lần gặp nhau ở SG. Một người hiền hậu và có nụ cười rất “bồ tát”. Song cô em gái này không giấu được tôi: Đằng sau nụ cười là mang mang nỗi niềm mà cô khéo che đậy. Thảng hoặc cô thả vào thơ ca bằng trái tim và cảm xúc. Mỗi đời người có một số phận khi Thượng Đế trao vào tay mà không thể khước từ. Hạnh Phúc và Khổ Đau. Nếu tôi không lầm th́ Tiết ít oi hạnh phúc mà mà bước qua cuộc trần ai nhiều muộn phiền. Nhưng có hề chi Nguyễn Tiết hỉ? Đă có thơ cứu rỗi cho ḿnh. Tôi thích những ḍng thơ lục bát này. Trong đắng có ngọt. Trong cay có mùi thơm của trầm quế. Trong hoàng hôn chất chứa b́nh minh:
THƠ LỤC BÁT NGUYỄN TIẾT NGHIÊNG VAI
Nghiêng vai rớt gánh đời t́nh
GIỌT NGÂU Theo tôi, lục bát là thế mạnh của Nguyễn Tiết. V́ vậy, ta hăy đăm đắm theo ḍng:
NGUYỄN THỊ TIẾT Nguyễn Tiết Tuy nhiên ở thể thơ khác, tôi cũng bắt gặp và đồng cảm với bài thơ:
MƯA QUY NHƠN
Mưa ở Quy Nhơn, đêm trống vắng Nguyễn Tiết Thơ đă vận vào người và theo ḿnh như một nghiệp dĩ. Cô đơn là thuộc tính của thi nhân. Tôi biết Nguyễn Tiết hiểu rơ điều này. Nhưng tôi cũng rất mong là đi qua trần thế hết nửa đời người, điều kỳ diệu sẽ xuất hiện với nàng thơ xứ đất vơ trời văn. Mong lắm thay!
H́nh 1: Thi sĩ Hàn Mặc Tử
H́nh 2 : Chân dung nhà văn Nguyễn Mộng Giác
H́nh 3: Chân dung nhà thơ Lê Văn Ngăn
H́nh 4:Nhà thơ Vũ Đ́nh Huy và. .
H́nh 5: Nhà Thơ Nguyễn Tiết
|