LAIQUANGNAM

 

Laiquangnam giới thiệu thơ tiền nhân

LONG THÀNH CẦM GIẢ CA

Nguyễn Du

 

Phần II

Bản văn chữ Hán đă hiệu khảo

và Bản dịch sang thơ Quốc Âm từ văn bản này

 

          Như laiquangnam đă đề cập trong phần một, tại cùng trang web này ( http://www. art2all. net/tho/laiquangnam/lqn_nguyendu_longthanhcamgiaca_1. htm ). Các câu có đánh số là các câu hay nhất đă tinh lọc giữa hai bản văn thuộc nhóm I/(ĐDA) sưu tập gồm Đào Duy Anh, Nguyễn Thạch Giang và nhà thơ Quách Tấn và nhóm II /do công sưu tập của Lăng Nhân Phùng Tất Đắc như đă đề cập tại phần I, “I-Hiệu khảo bản văn Long Thành Cầm Giả Ca” của Nguyễn Du.

 

Bản văn chữ Hán sau đây là bản đă tổng hợp từ hai bản, một từ bản của nhóm Đào Duy Anh và của Lăng Nhân Phùng Tất Đắc như đă nói ở phần 1.

 
I- Nguyên tác

1. 龍城佳人
2. 不記名字
3. 獨善絃琴
4. 舉城之人以琴名
5. 學得先朝宮中供奉曲
6. 自是天上人間第一聲
7. 7-余憶少年曾一見 OK
8. 監湖湖邊夜開宴
9. 9-其時三七正芳年 ok
10. 10-春風掩映桃花面 ok
11. 酡顏憨態最宜人
12. 歷亂五聲隨手變
13. 緩如涼風度松林
14. 清如隻鶴鳴在陰
15. 烈如荐福碑頭碎霹 靋 (ok, )
16. 哀如莊舄病中為越吟
17. 聽者靡靡不知倦
18. 18-盡是中和大內音 OK
19. 西山諸臣滿座盡傾倒
20. 20-徹夜追歡不知曉 OK
21. 左拋右擲爭纏頭
22. 泥土金錢殊草草
23. 23-豪華意氣凌公侯 OK
24. 五陵年少不足道
25. 并將三十六宮春
26. 26- 活做長安無價寶 OK
27. 此夕回頭二十年
28. 西山敗後余南遷
29. 咫尺龍城不復見
30. 何況城中歌舞莚
31. 宣撫使君為余重買笑
32. 席中歌妓皆年少
33. 席末一人髮半華
34. 34-顏瘦神枯形略小 ok
35. 狼藉殘眉不飾粧
36. 36-誰知就是當時城中第一妙 OK
37. 舊曲新聲暗淚垂
38. 耳中靜聽心中悲
39. 猛然億起二十年前事
40. 40-鑑湖席中曾見之 ok
41. 城郭推移人事改
42. 幾度桑田變蒼海
43. 43-西山基業一旦盡消亡 OK
44. 歌舞空留一人在
45. 瞬息百年曾幾時
46. 傷心往事淚沾衣
47. 南河歸來頭盡白
48. 怪底佳人顏色衰
49. 雙眼瞪瞪 空想像
50. 可憐對面不相知



II- Phiên Âm

1. Long thành giai nhân (1)
2. Tính thị bất kư (2) thanh
3. Độc thiện nguyễn cầm (3)
4. Cử thành chi nhân dĩ cầm danh
5. Học đắc tiên triều (4) Cung Trung Phụng Khúc
6. Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh
7. 7-Dư ức thiếu niên tầng nhất kiến
8. Giám hồ (5) hồ biên dạ khai yến
9. 9-Kỳ thời tam thất chính phương niên (NTG)
10. 10-xuân phong yểm ánh đào hoa diện (LN)
11. Đà nhan hàm thái tối nghi nhân
12. Lịch loạn ngũ thanh tuỳ thủ biến
13. 13-Hoăn (6) như lương (7a) phong độ tùng lâm (LN)
14. 14-Thanh (7) như SONG hạc minh tại âm (NTG)
15. Liệt như tiến phúc (8) bi đầu toái phích lịch (9. )
16. Ai như Trang Tích (10) bệnh trung vi Việt ngâm (11)
17. Thính giả mỹ mỹ bất tri quyện
18. 18-Tận thị Trung hoà (12) đại nội âm (LN)
19. Tây sơn (13) chư thần măn toạ tận khuynh đảo
20. 20-Triệt dạ truy hoan bất tri hiểu (LN)
21. Tả phao hữu trịch tranh triền đầu (14)
22. Nê thổ (15) kim tiền thù thảo thảo
23. 23-Hào hoa ư khí lăng công hầu (LN)
24. Ngũ lăng (16) thiếu niên bất túc đạo
25. Tinh tương tam thập lục cung xuân
26. 26-Hoạt tố trường an (17) vô giá bảo (NTG)
27. Thử tịch hồi đầu nhị thập niên (18)
28. Tây sơn (19) bại hậu dư nam thiên
29. Chỉ xích Long thành (20) bất phục kiến
30. Hà huống thành trung ca vũ diên
31. Tuyên phủ sứ quân (21) vị dư trùng măi tiếu
32. Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu
33. Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa
34. 34- Nhan sấu thần khô h́nh lược tiểu (NTG)
35. Lang tạ tàn my bất sức trang
36. 36-Thuỳ tri tựu thị đang đương thời thành trung đệ nhất diệu (22)
37. Cựu khúc tân thanh ám lệ thuỳ
38. Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi
39. Mănh nhiên ức khởi nhị thập niên (23) tiền sự
40. 40-Giám hồ tịch trung tằng kiến chi (NTG)
41. Thành quách suy thôi di nhân sự cải
42. Kỷ xứ tang điền biến thương hải
43. 43-Tây Sơn cơ nghiệp nhứt đán tận tiêu vong (LN)
44. Ca vũ không di nhất nhân tại
45. Thuấn tức bách niên năng kỷ th́
46. Thương tâm văng sự lệ triêm y
47. Nam Hà (25) quy lai đầu tận bạch (26)
48. Quái để giai nhân nhan sắc suy
49. Song nhăn trừng trừng không tưởng tượng
50. Khả liên đối diện bất tương tri.



III- Dịch thơ quốc âm

Đây là Bản dịch sang thơ Quốc Âm thể Song thất lục bát. Trước khi bạn đọc bản văn dịch này bạn đọc lại phần I –
I- Hiệu khảo bản văn Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du
Laiquangnam.

Theo kinh nghiệm cho thấy, bốn câu đầu trong Nguyên tác của Nguyễn Du rất khó dịch, bởi rất dễ làm tầm thường hoá một văn bản của tiền nhân. Nó là dạng thơ ở thể ngâm. Tác giả bước đầu nhằm gây sự sự tập trung cao độ vào người đang lắng nghe rằng : “ _chuyện ǵ vừa xảy ra tại đất Long Thành này vậy ?”. _Th́ có một Giai nhân xuất hiện với các phẩm chất như thế này :

“ Long thành giai nhân
Tính thị bất kư thanh
Độc thiện nguyễn cầm
Cử thành chi nhân dĩ cầm danh.

Quá khó khăn do sự nống câu từ 4 từ sang 7 từ mà không làm lệch ư nguyên tác nhưng phải phù hợp với thể văn song thất lục bát của Việt Nam. Người dịch không được phép làm lệch đi ngữ cảnh câu và ư của người sáng tác ra nó. Ba câu đầu là ba câu “xướng” nhằm tuyên dương người đánh đàn. Nguyễn Du rất có ư khi ông muốn dùng lại điển từ “giai nhân” trong bài “giai nhân ca” (1) thời Hán. Nguyễn Du rất “cao tay “khi dùng lại với điển từ “ ngũ lăng niên thiếu” của Bạch cư Dị trong bài T́ Bà Hành mà laiquangnam đă nêu lên trong bài I ở đoạn sau. Để có thể được tiếp cận với người xưa, các bạn đọc 4 câu dịch này của laiquangnam với quy ước sau “ chữ nào tô đậm th́ đọc to và rơ, chữ nào nghiêng các bạn xuống giọng và đọc khá nhỏ như thể một diễn ngâm giả trong chỗ đông người “.

*Long Thành Giai nhân sao sao lạ,
Tính danh nàng giấu quá kỹ càng,
Một đời diệu thủ Nguyễn đàn
4-Người thành đối nghiệp tặng nàng “ Cầm” danh.

Nếu không hiểu ư Nguyễn Du như thế th́ có khi đọc bản dịch sang thơ Quốc Âm hiện nay trong sách giáo khoa tại Việt Nam hiện nay ta thấy có 4 câu mở đầu quá đổi tầm thường. Chính v́ sự tầm thường như thế khiến cho bài Long Thành Cầm Giả Ca bị lùi lại phía sau, khi 4 câu khởi đầu của bài T́ Bà Hành của Bạch cư Dị qua tài dịch của Phan huy Thực lại quá mượt và đầy thi tứ. Chính bốn câu đầu của bài Long Thành Cầm Giả Ca này là cái bẫy sập, một lỗi phiên dịch mà người dịch thuật vô t́nh là làm tầm thường hoá bản văn gốc rất hay của Nguyễn Du là điều ngoài ư muốn của họ. Tuy nhiên khi ai đó có thi tài, dịch với thể thơ “tự do “ th́ 4 câu đầu này lại là điểm khởi đầu, họ rất dễ vượt qua. Hy vọng bài thơ này sẽ tồn tại song hành với hai nhóm dịch sang thơ Quốc Âm, nhóm văn vần ( giúp học sinh để học thuộc ḷng v́ nhu cầu giáo dục gồm lục bát và song thất lục bát ) và nhóm thể thơ Tự do (dành cho người yêu thơ*. Dịch được qua thể thơ Thơ tự do mà có hồn như các bài 12/6 của Vũ Hoàng Chương, bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác, bài khúc ca Phạm Thái của Nguyễn Đ́nh Toàn th́ đó là một điều quá lư tưởng, laiquangnam rất mong sớm xảy ra. )
 

Nội lực cùng tài hoa của Nguyễn Du tiên sinh kinh lắm. Này nhé là trong hàng ngàn, hàng chục ngàn điển tích của Tàu, Nguyễn Du chỉ chọn hai điển tích. Tài hoa ở chỗ là điển tích này phải nói được cái ư mà câu 6-Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh, tạm dịch, lúc này đây trên cơi trần này nó là bản đàn hay nhất mà tôi đă từng nghe. Dĩ nhiên khi tiên sinh cho là hay nhất, nó phải thể hiện đủ hai mặt. Về mặt âm thanh lẫn về mặt nội dung văn bản. Về mặt âm thanh th́ làm sao nói lên được cái ư “rằng nó thật sự 'hay’nhất “ trong khi nơi đây nó là chỉ là một bản văn viết. Nguyễn Du đă dùng thủ pháp mô tả thái độ người nghe. Một là, Nguyễn Du chọn người nghe là một số đông chứ không phải chỉ một người, hai là bản thân, thành phần xuất thân của người nghe, tức là sức học của họ. Họ là các quan văn vơ của nhà Tây Sơn trong giai đoạn hưng thịnh. Về mặt bản văn, tiên sinh chọn điển tích nào đây khi mà chúng ta lư giải nội dung bản văn, chúng ta phải đồng t́nh với tác giả và xác nhận rằng nó quả là “hay nhất trần gian” về mặt ư nghĩa như câu thơ số sáu mà tiên sinh đă viết ở trên. Công đoạn này càng khó hơn một khi nó phải “phù hợp với bối cảnh của điển tích” lẫn “t́nh trạng thực tế của tác giả “, bởi một khi điển tích mang tâm trạng của tác giả th́ bản văn lập tức trở thành “trang nhật kư “ của chính tác giả. Đó là điều cực kỳ khó, có lẽ ngoài Nguyễn Du khó có ai khác. Từ 50 câu Nguyên tác, laiquangnam chuyển thành 52 câu cho tṛn 13 khổ song thất lục bát. Laiquangnam nống ra tại các câu mang điển tích vốn là hai câu 15, 16. Sự nống câu thêm chữ là điều bắt buộc khó tránh, và dễ bị “hố “ về ư nguyên tác. Mục đích của laiquangnam chỉ là làm cho hai điển tích trong câu trở nên dễ hiểu hơn với thế hệ 1, 5 và hoàn toàn phù hợp với ngữ cảnh của chính nhân vật trong điển tích và của chính t́nh trạng thực tế của tác giả trong bối cảnh xă hội đương thời.

Xin mời bạn đọc toàn văn Bản dịch sang thơ Quốc Âm của laiquangnam.

Long thành cầm giả ca

*Long Thành Giai nhân S(s)ao S(s)ao lạ,
Tính danh nàng dấu quá kỹ càng,
Một đời diệu thủ Nguyễn đàn
4-Người thành đối nghiệp tặng nàng “ Cầm” danh.

Khúc Cung Phụng ḷng thành luyện sơi,
6-Đệ nhất thanh trong cơiNgườiTa,
Thiếu thời nay sực nhớ ra
8-Tiệc đêm hồ Giám, Ai đà ngồi chung?.

Ai ngày ấy ước chừng hăm mốt,
Sắc xuân nồng ran tóc mặt hoa.
Ngây thơ má rượu ráng pha,
12-Năm cung réo rắt tay ngà phím loan.

13-Khúc Khoan!, ”_ lạiNồm đàn thông nhạc”
14-Khúc t́nh ru!, “_ song hạc vờn mây. ’
15-Sửng sờ khúc!, ”_ dậy từng dây”
Sấm rền bia nát, treo ngày công phu!. ”(5)
16-Khúc Bi!, “ _thương thân tù Trang Tịch,
Tiếng quê cha ngâm khúc đời tà”. (6)
17-Chiếu trên chiếu dưới ngà ngà,
18-Khúc đàn đại nội Trung Ḥa là đây!

Quan Tây Sơn ngất ngây ngồi nán …
Tàn đêm hoan hỷ chửa chịu rời
_Tháo khăn đầu, tả hữu bồi,
22_Tiền là phấn thổ!, hồi hồi… phà ra.

Hào hoa quá!, _Công hầu phải chịu,
Đám Ngũ Lăng niên thiếu?, _ nín khan,
Nghe chừng băm sáu cung xuân,
26-Đúc nên quốc bảo Trường An một người.

Hai muơi năm, sau ngày tàn tiệc,
Tây Sơn tàn, phải việc vào Nam.
_Thăng Long, bao bước!_lạ lầm,
30-Trong thành tiệc hát?, _ sao kham, _nỗi ḿnh!

Quan Tuyên Phủ thấm t́nh bày tiệc,
Tuyển ca nhi xinh biết đàn ca,
_Có người ngồi cuối chiếu hoa?,
34_Mặt gầy, da héo tóc đà sang đông!.

Mày phờ phạc, buồn không chải chuốc,
Đệ nhất nhân!, sắc nước một thời,
Khúc xưa rưng rức lệ rơi,
38 Lắng nghe từng tiếng bời bời ḷng ta.

Chạnh ḷng, _ ra!, hai mươi năm trước,
Từng thấy Ai chiếu tiệc Giám hồ!
Người xưa, thành cũ, _ thuở nao,
42) Bể dâu chợp mắt, nhớm bao ngùi ngùi.

Ôi!, một sớm, Tây Sơn mất sạch
Làng đàn ca nay mót một ai!
Trăm năm một tiếng thở dài,
46-Bồi hồi chuyện cũ lệ ai vơi đầy.

Rời Nam về, tóc vây bạc thuếch
48-Trách chi người, nhan sắc không phai.
Trừng trừng ai cố nhớ ai,
50-Thương thay! _đối mặt, ngẫm hoài không ra!

Laiquangnam


IV -Bản văn dịch rất đáng lưu ư khác

IV a-Bản của Học Canh. Học Canh sống vào cuối thế kỷ thứ 19. Bản dịch này không biết viết bằng chữ Nôm hay chữ quốc ngữ?. Chuyện cô Cầm ( tên gốc là Cầm Giả Dẫn ), Học Canh dịch, Đăng trong trang cuả Viện Việt Học. Công sưu tầm là của lăng nhân Phùng Tất Đắc. Ô Học Canh dùng một bản chữ Hán (LN ) như đă đề cập ở phần 1. Nguyên tác 50 câu, cụ Học Canh chuyển thành 56 câu ( 7 khổ song thất lục bát), thêm 6 câu so với nguyên tác.

1. Thành Thăng Long nhớ từ thửa nọ
2. Bậc giai nhân tên họ ai hay
3. Đàn cầm thánh thoát mấy dây
4. Khắp thành quen miệng gọi ngay Nàng Cầm

5. “Cung Phụng khúc” xưa ngâm trong Nội
6. Phổ nên chương tiếng nổi một thời
7. Nhớ ngày đương độ vui chơi
8. Giám Hồ yến tiệc gặp người tài hoa

9. Tuổi hăm mốt nơn nà lộng lẫy
10. Gió xuân êm hây hẩy bông đào
11. Men tô duyên năo nùng sao
12. Nỉ non năm tiếng thấp cao tuyệt vời

13. Theo tay ngọc ḷng người ủ rũ
14. Tiếng bổng trầm to nhỏ miên man
15. Khoan như gió lướt thông ngàn
16. Trong như tiếng hạc lạc đàn kêu sương

17. Mạnh như sấm phũ phàng xé đá
18. Tiến Phúc bia nổ phá ầm ầm
19. Buồn như khúc Việt ai ngâm
20. Nỗi ḷng Trang Tích âm thầm mà đau

21. Điệu êm ấm nghe lâu chẳng mỏi
22. Chính khúc này Đại Nội triều xưa
23. Tây Sơn quân tướng thẫn thờ
24. Ngả nghiêng đến sáng c̣n chưa thỏa ḷng

25. Quăng lụa thưởng tây đông tíu tít
26. Vàng tựa bùn cứ việc vung tay
27. Công hầu hào khí đua say
28. Ngũ lăng niên thiếu một bày sá chi

29. Dạo khúc xuân diễm kỳ lả lướt
30. Băm sáu cung thánh thót xinh xinh
31. Tràng An treo ngọc liên thành
32. Phẩm cao vô giá, tài t́nh riêng ai

33. Thoảng hai chục năm trời từ đấy
34. Tây Sơn thua, ta trẩy Nam Hà
35. Long Thành gang tấc c̣n xa
36. Điệu xưa nhớ mấy cũng là đành thôi

37. Tuyên phủ sứ lại mời dự tiệc
38. Thiếu chi người mày biếc má hồng
39. Cuối bàn phảng phất năo nùng
40. Một nàng đầu tóc h́nh dung bơ phờ

41. Ḿnh gầy vơ mày thưa duyên nhạt
42. Ai biết nàng oanh liệt xưa kia
43. Khúc đâu lệ chảy đầm đ́a
44. Khiến người nghe những đê mê xót thầm

45. Chợt nhớ lại bao năm chuyện cũ
46. Từng bên ai vui thú Hồ xưa
47. Thành tàn duyên cũng xác xơ
48. Ngậm ngùi mấy cuộc biển mờ dâu xanh

49. Rồi một sớm bại thành là thế
50. Cảm khúc ca Trời để một người
51. Trăm năm một thoáng bao dài
52. Ngậm ngùi chuyện cũ cho đời buồn đau

53. Ở Nam về, mái đầu đă bạc
54. Người đẹp xưa cũng khác h́nh xưa
55. Giương đôi mắt ngó mà mơ
56. Thảm thay ai biết bây giờ là ai.

Học Canh dịch


*Bản văn này từ sách của Lăng Nhân –Phùng Tất Đắc, Hán văn tinh tuư, nxb NAM CHI TÙNG THƯ, năm 1965, Saigon. Lê Văn Đặng sao lục tại trang www. viethoc. org.


IVb-Bản dịch của Hoàng Tạo.

Bản văn này dùng trong sách giáo khoa dành cho sinh viên, học sinh và giáo sinh sư phạm trong nước hiện nay. Ông dịch từ 50 câu Nguyên tác sang 50 câu quốc âm. Gồm 12 khổ song thất lục bát + hai câu lục bát kết thúc.

BÀI CA NGƯỜI GẢY ĐÀN Ở LONG THÀNH

1. Đất Long Thành khách giai nhân nọ,
2. Không nhớ ra tên họ là ǵ,
3. Nguyễn Cầm nổi tiếng đương th́,
4. Tên Cầm mượn của đàn kia gọi người,
5. Khúc “Cung phụng” những đời vua trước,
6. Tưởng quân tiên nhă nhặn khôn b́,
7. Nhớ hồi tuổi trẻ xưa kia,
8. Đêm bên hồ Giám một ḱ tiệc vui.

9. Xuân độ ấy đương hồi ba bảy
10. Ánh hồng trang lộng lẫy mặt hoa
11. Năo người vẻ rượu ngà ngà
12. Năm cung d́u dạt này qua phím đàn

13. Tiếng khoan thỏang thông ngàn gió thổi
14. Tiếng trong như hạc gọi xa xăm
15. Mạnh như Tiến Phúc sét gầm
16. Buồn như Tiếng Việt, Trang nằm đau rên

17. Ai nấy nghe nhường quên mệt mỏi
18. Rơ tiếng đàn đại nội Trung Ḥa
19. Tây Sơn quan khách la đà
20. Mải vui quên cả tiếng gà tan canh

21. Tả lại hữu tranh giành gieo thưởng
22. Tiền như bùn ước lược qua qua
23. Vương hầu thua vẻ hào hoa
24. Ngũ Lăng chàng trẻ ai mà kể chi

25. Băm sáu cung xuân kia chung đúc
26. Đất Trường An hạt ngọc liên thành
27. Hai mươi năm, tiệc qua nhanh
28. Tây Sơn sụp đỗ th́ ḿnh về Nam

29. Chốn Long Thành tấc gang chẳng tới
30. C̣n nói chi những buổi đàn ca !
31. Nặng t́nh quan Sứ tiễn ca
32. Tiệc hoa kén những bông hoa nói cười

33. Mé cuối tiệc một người nho nhỏ
34. Tóc hoa râm mặt vơ ḿnh gầy
35. Bơ phờ chẳng sửa đôi mày
36. Tài hoa ai biết đất này không hai!

37. Thỏang mấy tiếng, thầm rơi gịot lệ
38. Lọt tai mà như xé tấc son
39. Giật ḿnh hai chục năm tṛn
40. Tiệc bên Hồ Giám người c̣n chưa quên

41. Cuộc thương hải tang điền thấm thoắt,
42. Cơi nhân gian thành quách đổi dời
43. Tây Sơn cơ nghiệp đâu rồi
44. Mà làng ca vũ một người c̣n trơ!

45. Ngán trăm năm th́ giờ chớp mắt
46. Lệ thương tâm ướt vạt áo là
47. Nam về đầu bạc ngẫm ta
48. Trách ǵ hương phấn bông hoa chẳng tàn

49. Trừng trừng đôi mắt mơ màng
50. Quen mà hóa lạ nghĩ càng thêm thương!
HOÀNG TẠO dịch thơ

Hoàng tạo dịch sang quốc âm từ bản văn gốc của
LÊ THƯỚC, TRƯƠNG CHÍNH, (Thơ chữ Hán Nguyễn Du. )
Laiquangnam sao lục từ giáo sư PTS Lê Thu YÊN, Thơ NGUYỄN DU, Nxb-Đồng Nai, 2003.

Chuyện khen chê là của người đọc. Bạn có thể vào Google search đọc bài viết của Duy Phi về Bản dịch sang thơ Quốc Âm này. Và đọc bài b́nh của giáo sư Lê Bảo dành cho SV của ông trong khoa ĐHSP HANOI, ban VĂN.



Vài gịng tâm t́nh xin chia sẻ cùng lớp 1, 5.

Các bạn sẽ phải đọc tất cả các bản dịch sang thơ Quốc Âm của bài Long Thành Cầm Giả Ca, bởi phải như thế th́ bạn mới tránh được sự lặp lại cái chưa đạt của thế hệ đi trước khi bạn bắt tay dịch thơ bản văn này. Tôi ước mong các bạn sẽ làm công việc c̣n tồn đọng mà thế hệ tôi làm chưa đạt. Thật là xấu hổ khi mà trên đất Việt lẽ nào để một bài thơ Đường T́ Bà Hành của Bạch cư Dị làm mưa làm gió cả trong giới hát ả đào lẫn giới thi nhân lấn lướt nhờ bản dịch sang thơ Quốc Âm của Phan huy Thực, trong khi bản văn chữ Hán bài Long Thành Cầm Giả Ca của thi hào Nguyễn Du ở tầm cao hơn hẳn về nội dung nhưng do v́ không có bản dịch sang thơ Quốc Âm “có hồn”.

Việc dịch sát ư của nguyên tác là điều bắt buộc. Ư nguyên tác là ǵ ?. Có bao nhiêu cáiGọiLà “Ư nguyên tác” được chấp nhận?. Nhớ trong Nam Hoa Kinh có câu chuyện Hiếu Tử. Hiếu Tử nh́n say mê bầy cá lội trong chậu, thích quá ông reo. _ “cá lội vui quá!”. Có một anh tài khôn, quen thói móc họng, một cố tật không bỏ, nói hớt, _” ông có phải là cá không mà ông biết cá vui”. Bực ḿnh, _à cái thằng cha này ngộ thiệt!, rất nhẹ nhàng nhưng hơi mĩa, Hiếu Tử nói _”rằng ông có phải là tôi không mà không biết cá đang vui. ”. Nín khe!. Mỗi người dịch họ là một Hiếu tử. Ok. Nhưng “ông Hiếu tử nào” là người khiến cho bài thơ Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du được phổ biến như T́ Bà Hành của Bạch cư Dị qua công dịch chuyển ngữ của Phan HuyThực mới là điều đáng làm cho người Việt tri ân. Cái hên của T́ Bà Hành là từ dạo xa xưa giới cô đầu tại Hanoi đă mang nó phổ vào ca trù, và giới “hát ả đào” hát nó hằng đêm bên các nhà thơ nhà văn lim dim nằm bên bàn đèn, rồi được “văn thi sĩ tiền chiến” nhắc nhở hoài nên nó trở nên bất tử. Đó cũng chẳng tự hào ǵ bởi bản gốc là từ China. Chỉ khi có một bản dịch sang thơ Quốc Âm tốt th́ sẽ nhiều lời b́nh của thầy cô giáo cùng đám học tṛ của họ mới hy vọng đẩy bài thơ của tiền nhân ta lên tầm cao mới. Giả định nếu như không có bản dịch sang thơ Quốc Âm của Phan Huy Thực th́ bản T́ Bà Hành nguyên tác cũng đă tiêu rồi, tỉ như tại Nhật Bản th́ bản văn hay nhất của Bạch cư Dị là bài Trường hận ca được họ chọn. Việt Nam ắt cũng sẽ thế nếu như không có bản dịch Việt ngữ của Phan Huy Thực. Vậy sự sớm xuất hiện một bản dịch sang thơ quốc âm là việc cần thiết nhất, sau đó ṿng lặp sẽ được lặp lại và sẽ đẩy danh tác này tiến nhanh về phía trước. Ư nguyên tác không buộc ta phải dịch một chữ từ ngôn ngữ nguồn ( Hán) sang một chữ thuộc ngôn ngữ đích (Việt) mà là ngữ cảnh toàn câu ẩn phía sau câu ấy nữa. (4) Ví dụ minh họa, ta thử lấy trường hợp Phan Huy Thực dịch T́ Bà Hành của Bạch cư Dị. Từ 4 câu nguyên tác

Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân
Tương phùng hà tất tằng tương thức
Ngă ṭng khứ niên từ đế kinh
Trích cư ngoạ bệnh Tầm Dương thành (Bạch cư Dị )

Sang thơ quốc âm
==> Cùng một lứa bên trời lận đận
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương đất trích, gối sầu hôm mai. ( PHT)

Rơ ràng các từ Hán (nguồn) khác với các từ Việt (đích).
Chúng ta thử khảo sát câu này “Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân”, tạm dịch nghĩa như sau “cả hai chúng ta đều là kẻ lạc loài, có nghĩa là cả hai đều rơi vào một xă hội mà những người quanh ta không phải là người chúng ta đồng chia sẻ t́nh cảm và sở nguyện “, vậy mà ông dịch ==> Cùng một lứa bên trời lận đận. Lận đận là ǵ?_ lận đận là đường vào đời không suông sẻ, khiến cho ai đó phải cam chịu nhiều vất vả hơn lên. Chúng ta “cùng một lứa “, là cùng một thế hệ tuổi tác, trong khi nguyên tác của Bạch cư Dị có ư là “ hai ta đồng thời là kẻ lạc loài”. “trời lận đận” được hiểu Việt ngữ lung linh hơn hẳn “ thiên nhai luân lạc nhân/ là kẻ lạc loài trong trời đất ”. Phan Huy Thực dịch đạt như thế v́ ông đă am tường tiểu sử của cả hai nhân vật này, một là, thực tế của người đánh đàn qua lời kể trong văn bản, hai là tâm trạng của tác giả Bạch cư Dị lúc nghe bản đàn này, là lúc này ông bị huyền chức, bị đày đi nhận nhiệm sở nơi khỉ ho c̣ gáy. Hai nhân vật này rơi vào cùng một thời điểm th́ họ quả thật là “lận đận”. Trong Việt ngữ từ “lận đận” mang một sức sống rất Việt, đầy cảm xúc long đong, lao đao, cái chi không ra cái chi…. . Rồi câu cuối “Trích cư ngoạ bệnh Tầm Dương thành”, trích là bị lưu đày; trích cư là bị đưa đến ở tại vùng đất lưu đày.
==> nằm liệt giường tại vùng đất lưu đày Tầm Dương (địa danh)
Ông đă dịch thành
=> Tầm Dương đất trích, gối sầu hôm mai.

“gối sầu hôm mai. ” Cụm từ này không hàm chứa nội dung ǵ là Bạch cư Dị đang “đau liệt giường cả “, ấy vậy mà mọi người đều OK. Câu thơ dịch của Phan HuyThực vượt qua nguyên tác v́ ngôn ngữ Việt của ông lung linh quá. Chắc chắn là người Tàu khi họ đọc câu nguyên tác sẽ không cùng thấy được cái lung linh trong ngôn ngữ của Bạch cư Dị như khi người Việt đọc hiểu Bạch cư Dị qua bản văn Việt ngữ. Các nhà thơ của ta khi b́nh bài T́ Bà Hành tưởng rằng đang b́nh thơ của Bạch cư Dị từ nguyên tác, thực ra là họ b́nh bản “tái tạo” bằng thứ ngôn ngữ Việt lung linh của Phan huy Thực, một danh sĩ người Việt đă dồn sức thổi hồn cho nó. Bà Đoàn thị Điểm, người mà thời đệ ngũ, lớp chúng ta đă học, đă chuyển ngữ qua bản chữ Hán Chinh Phụ ngâm của Đặng Trần Côn cũng thế. Vấn đề “tồn tại”là ngôn ngữ Việt dịch có được người đọc “cảm“ được cái thần của nguyên tác mà họ không cần phải t́m bản gốc để đối chiếu mà thôi. Chính v́ bản dịch sang thơ Quốc Âm của Phan Huy Thực quá hay mà khiến cho nhiều người b́nh T́ Bà Hành, dĩ nhiên trên >90% lời b́nh khen hay là do từ bản dịch quốc âm này chứ không từ văn bản nguồn nguyên tác chữ Hán. Đó là một kinh nghiệm mà laiquangnam muốn chia sẻ.
Laiquangnam.


Kỳ tới
Phần III

Phần 3 –những điều chưa biết về bản văn Long Thành Cầm Giả Ca.
Giới thiệu và b́nh về nội dung của “Khúc Cung Phụng”+ điển tích Trang Tịch.
Từ đó bạn sẽ bất ngờ về thái độ rất kẻ sĩ, rất can đảm của một đứa con cưng đất KINH BẮC, Nguyễn Du tiên sinh.


Ghi chú riêng

1-Theo laiquangnam các bạn có thể dùng tạm Bản dịch xuôi của nhà thơ Quách Tấn trên mạng internet hay tại link “hoa sơn trang”. Lư do laiquangnam né v́ bài quá dài, đọc rất ngán, rất “nản ḷng chiến sĩ”. Vả lại việc truy cập internet ngày nay quá dễ dàng, Laiquangnam xin dành lấy th́ giờ quư báu của các bạn đất này để giới thiệu sâu về những ǵ ḿnh hiểu về bản văn này như thế có lợi hơn. Laiquangnam e rằng một lời dịch xuôi không kỷ, không chứa nhiều data sẽ không “hay “ mấy cho những ai đang có ư định dịch lại bản văn này theo cách hiểu của ḿnh.

2-Chữ có màu đỏ giúp bạn t́m tư liệu với Google search qua cụm từ màu đỏ này.
3- S(s)ao S(s)ao lạ, gồm “sao sao “là trạng từ kép, sao sao là một trạng thái bất định. Sao (là Star, là minh tinh), Sao lạ, lúc nghe ngâm tai quan trọng hơn mắt. *sao sao lạ xin hiểu, Sao/sao, Sao sao lạ, Sao, Sao lạ, saosao lạ …. Tiếng Viêt với thứ chữ alphabet thật là tuyệt hảo. Sao vừa là từ cong cụ vừa là danh từ, sao sao vừa là tính từ chỉ trạng thái ….

*Long Thành Giai nhân sao sao lạ,
Tính danh nàng dấu quá kỹ càng,
Một đời diệu thủ Nguyễn đàn
4-Người thành đối nghiệp tặng nàng “ Cầm” danh.

Lên giọng tại hàng chữ đậm cho phù hợp với Nguyên tác và b́nh thường với chữ thường.
Đó là cách duy nhất để hiểu tác giả muốn vinh danh người đánh đàn.

4- Xin đừng mang “chân thiên mỹ “ ấm ớ, lư thuyết trên trời bàn trên mạng mang vào đây.
Bạn gơ Google search “yếu tố tín đạt nhă trong dịch thuật “ hay “yếu tố chân thiện mỹ trong dịch thuật“.
Nghe phát bực.

5- Tiểu sử Nguyễn Du cho biết năm tiên sinh 17tuổi, tiên sinh bắt đầu đi thi, ông theo con đường khoa bảng của cha anh ḿnh. Người anh đang cưu mang ông lúc này là một là đại quan trong triều thời Hậu Lê bỗng nhiên lại bị “bọn kiêu binh” đốt sạch, phá sạch cơ dinh. Gia đ́nh tan nát, ông bị nghẽn đường công danh và phải nương nhờ vào một vơ tướng. Điều này giống như câu truyện “bia Tiến phúc”

6- Gia Long phá Viện Sùng Chính, huỷ việc dùng chữ nôm trong các văn bản hành chánh công quyền, từ nay đất nước này chỉ c̣n độc một thứ chữ Hán được lưu hành trên giấy mà thôi. Dân tộc này mất tiếng nói bởi chính người Việt. Xin mời đọc sự tích Trang Tịch tại phần 3.

7- phích lịch (chữ Tàu) là sét đánh th́nh ĺnh

8-Tại link, http://duyphitho. blogspot. com/2012/05/tho-chu-han-nguyen-du-duy-phi-bien-dich. html?showComment=1394564488964#c1678703912054365605
Có nhiều điều đáng đọc và suy nghĩ.


9- Con số đàng sau một từ có ư ǵ ? Ví dụ tại câu 1
Long thành giai nhân (1)


91) đứng sau từ giai nhân. Từ giai nhân sẽ được giải nghĩa cho rơ qua Việt ngữ. Có tất cả 26 từ cần phải giải nghĩa. Việc giải nghĩa này sẽ nằm trong một phụ trang. Tuy nhiên khi bạn dùng bản dịch xuôi của nhà thơ Quách Tấn th́ Bạn Hiền cũng h́nh dung ra nghĩa của nó một cách tương đối. Tuy nhiên bản của nhà thơ Quách Tấn chú nghĩa cũng sơ sài lắm.

10- Tấm ḷng của HOC CANH không chê vào đâu được khi mà HANOI thời ông, đó đây giới ca trù ngày đêm hát ngâm bài T́ Bà Hành của Bạch cư Dị qua Bản dịch sang thơ Quốc Âm của PHAN HUY VỊNH (PHAN HUY THỰC ?). Ông bực?  Một đất nước văn vật như chúng ta lại không có một bài thơ hay hơn bài thơ của Tàu Hán sao ? Và ông đă để lại một bản “ nguyên tác “ khác. Đáng quư thay.

11-Bạn để ư ngay câu đầu Nguyên tác
Long Thành giai nhân
Tính thị bất kí thanh


Nhà thơ Quách Tấn dịch xuôi

Người đẹp đất Long Thành
Không nghe tên họ


Rơ ràng nhà thơ Quách Tấn đă không chú ư đến hai câu này trong tâm thức của Nguyễn Du tiên sinh.
 

Ư của tiên sinh Long Thành giai nhân ḥan toàn khác với giai nhân của Tàu Hán trong thời Hán cách đây hơn 2000 năm, bài “giai nhân ca “ của Lư Tiên Diên. Nguyễn Du hàm ư giai nhân Lạc Việt phẩm chất cao hơn nhiều. Trong phần 3 bạn sẽ rơ ư của Nguyễn Du khi laiquangnam giải mă. Chính lối dịch xuôi như thế này không giúp ích ǵ cho các thi nhân Việt Nam giới trẻ hiện nay không rành Hán mấy sẽ không có động lực bắt tay dịch thơ văn bản này.

Và Học Canh dịch ==>
Thành Thăng Long nhớ từ thuở nọ
Bậc giai nhân tên họ ai hay ( Học Canh, cuối thế kỷ 19 )

Và Hoàng Tạo dịch ==>

Đất Long Thành khách giai nhân nọ,
Không nhớ ra tên họ là ǵ,
(Hoàng Tạo, giữa thế kỷ 20 )

Do bởi muốn chèn “ tên họ “ ở câu thứ hai nên phải sửa chữ cuối ở câu thứ nhất thành chữ “nọ”.

11- Điều này ta rất dễ thấy trong cách dịch thơ Đường của lớp đàn anh ở Viện Hán Nôm Hà Nội khi dịch thơ đường bằng phép dịch áp 1-1 bài “Tỉnh Dạ Tứ “ của Lư Bạch. Người sau ngôn từ “y chang” với người công bố bản dịch đầu tiên với hai câu cuối ” Cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương”. Chúng ta đă phí th́ giờ với các bản áp dịch này.

12- Vài câu từ hai bản chữ Hán khác nhau dẫn đến hai bản dịch sang thơ Quốc Âm khác nhau.
Dịch xuôi của nhà thơ Quách Tấn là “ Tiếng khoan như gió thoảng qua rừng thông”

12. 1-Câu Nguyên tác Hoăn như sơ phong độ tùng lâm (Đào Duy Anh )
==> Hoàng tạo dịch” Tiếng khoan thỏang thông ngàn gió thổi”

Câu Nguyên tác 13-Hoăn như lương (涼) phong độ tùng lâm(LN)
Học Canh dịch ”Khoan như gió lướt thông ngàn “
rất tiếc là cụ Học Canh là người Bắc ? không phải là dân Quảng Nam quê tôi hay dân Thừa Thiên, dân Trung eo nên cụ không dùng từ lại Nồm.

12. 2 Câu Nguyên tác
Dịch xuôi của nhà thơ Quách Tấn, Tiếng buồn như Trang Tịch ngâm tiếng Việt lúc bệnh,
Hoàng tạo dịch, Buồn như Tiếng Việt, Trang nằm đau rên
Học Canh dịch, Nỗi ḷng Trang Tích âm thầm mà đau

Việt ngữ và Hán ngữ, Ngâm 吟, giọng kéo dài ra như ngâm thơ, giọng kéo dài ==> người Tàu dùng cho ư “rên rĩ “. Việt ngữ có từ, coi chừng bà ấy ngâm lên th́ phiền lắm. Trong ư thơ chỗ này, Nguyễn Du viết thái độ vui vẻ, bởi với kẻ sĩ chết là trở về sau khi mọi sự đă sắp đặt yên bề. Xem tích Trang Tịch tại phần Ba. Người “nô lệ’” vong quốc sử, lúc chết là lúc họ được tự do nhất bởi không c̣n bị sợ tù đày, trả thù… v. v. Rơ ràng các vị tại viện Hán Nôm Hà Nội không mấy cẩn thận. Thời ấy viện HÁN NÔM VNDCCH do anh Tàu Hán mắc dịch VŨ KHIÊU làm viện trưởng nên lăo ta đă làm lơ để cho các “ chú Việt Nam” tự ḿnh làm “người đốt đền “. Câu dịch cúa Học Canh hay hơn nhiều so với bản văn dùng trong sách giáo khoa hiện nay.

Có lẽ lớp đàn anh của laiquangnam đă không chú ư đến mà thi hào Nguyễn Du xác quyết, câu 6, “Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh’ ; bởi tiên sinh là là chứng nhân duy nhất nghe được bản đàn này và hiểu bản đàn này; nay sự xác quyết này giúp chúng ta dựa vào đó mà lư luận, trên Data này cho thấy:


Niềm vui, niềm khoái lạc nhất mà trời đất cho ta “là trời lại nồm tại thời điểm trưa hè oi bức “. Trong 36 thứ khoái của Kim Thánh Thán, danh sĩ đời Thanh cũng kê nó vào hàng đầu. Điều này cho thấy sự xác quyết của Nguyễn Du tinh tế đến mức nào.

Nỗi buồn đau sâu xa nhất của con người là ǵ ? đó là vong quốc sử toàn diện mà ngôn ngữ /”Việt ngữ” là thành tŕ tự vệ cuối cùng mà cũng bị phá hoại xem tích Trang Tích ở phần ba tại trang web này.

13- Câu Nguyên tác
Hoàng tạo dịch, từ Câu Nguyên tác của Đào Duy Anh, Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong ==> Tây Sơn cơ nghiệp đâu rồi.

Học Canh dịch, Nguyên tác 43-Tây Sơn cơ nghiệp nhứt đán tận tiêu vong (LN) ==> Rồi một sớm bại thành là thế, 西山基業一旦盡消亡 9, Tây Sơn cơ nghiệp nhứt đán tận tiêu vong ==> Than ôi, một sớm cơ nghiệp Tây Sơn lại tan tành sạch!.

Và giáo sư đại học về văn học cổ Việt Nam là Nguyễn Huệ Chi mới đây c̣n dịch là “Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan sạch, ” th́ nói ǵ đến lớp sv của ông làm sao có thể hiểu khác ông. Đến đây bạn mới thấy

14-bạn cần vào link này để t́m đọc
http://duyphitho. blogspot. com/2012/05/tho-chu-han-nguyen-du-duy-phi-bien-dich. html?showComment=1394564488964#c1678703912054365605
Xin đọc trang của anh DUY PHI, nay ANH đă măn phần. Anh có than thở về các bản dịch sang thơ Quốc Âm bài Long Thành Cầm Giả Ca trong sách giáo khoa. Như nước đổ đầu vịt. Đáng buồn cho một đất nước có quá nhiều, có đến hàng ngàn tiến sĩ Hán Nôm, người đốt đền th́ quá đông.


Tham khảo
1-Quách Tấn, Tố Như thi, nxb An Tiêm, Saigon 1973
2-Duy Phi, 249 bài thơ chữ Hán Nguyễn Du, nxb VHDT, 2003
3-Nguyễn thạch Giang, Trương Chính, Nguyễn Du, Cuộc đời và tác phẩm, nxb VHTT, 2002
4-http://www. diendantheky. net/2014/02/gsts-tran-van-khe-man-am-am-nhac-trong. html
5-http://www. jaist. ac. jp/~dnthao/index_files/@Books/CoCam NguyenDu. pdf
 

Các “Đỉnh cao” trong nước viết quyển Từ điển văn học (bộ mới), Nxb thế giới, 2004, tr. 1122, nêu ư của GS. Nguyễn Lộc, như sau:


Long thành cầm giả ca là tác phẩm viết về một con người tài hoa một thời, bây giờ nhan sắc tiều tụy, không c̣n ai chú ư đến nữa. Nhà thơ tỏ ḷng xót thương ngậm ngùi của ḿnh, và nghĩ đến cuộc đời dâu bể. . . Bài thơ mang một tinh thần nhân đạo cao cả. Nhưng nó có một khía cạnh rất đáng chú ư là chính trong bài này, lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, Nguyễn Du nhắc đến nhà Tây Sơn. Thái độ của ông thế nào thật khó hiểu. Bài thơ không có tí ǵ gọi là thù địch với Tây Sơn, mà trái lại, trong khi thương xót cho số phận của người ca nữ, nhà thơ lại có vẻ như ngậm ngùi cho sự sụp đổ của họ. Phải chăng đến giai đoạn này, do có nhiều thể nghiệm về cuộc sống, cho nên cách nh́n nhận của nhà thơ đối với triều đại trên có thay đổi gần với chân lư hơn?. . . [6]
 

Bạn hiền t́m được data ǵ qua các ḍng trên ?

Cầm Giả Dẫn, Nguyễn Du, Lê Văn Đặng phiên lục và tŕnh bày tại link:
http://www. jaist. ac. jp/~dnthao/index_files/@Books/CoCam NguyenDu. pdf
LVD có lẽ đă theo sách Lăng Nhân trong Hán văn tinh tuư, trang 305, th́ bài này do Học Canh dịch.

Trần Văn Khê viết “Tuy nhiên, do không phải là người "trong nghề" nên cụ Nguyễn Du không để ư rằng ngoài hai bản "Thập diện mai phục" và "Quá quan" viết cho đàn tỳ bà” ……Trần Văn Khê.

Trong khi đó Nguyễn Du phớt lờ nhạc Tàu trong Long Thành Cầm Giả Ca và ông xác quyết, đây là bản nhạc hay nhất trần gian mà tôi đă từng nghe. Khi viết Đoạn Trường Tân Thanh ( Kiều ) th́ ông cho Vương Thúy Kiều đánh nhạc Tàu Hán.

Nguyễn Du
http://123hoang. wordpress. com/sach/chan-dung-nguyễn-du/chan-dung-nguyễn-du/
Chân dung Nguyễn Du, Từ khảo luận của nhóm học giả thời VNCH // (Khảo luận của Vũ Hoàng Chương – Nguyễn Sỹ Tế – Nguyễn Văn Trung – Trần Bích Lan – Đinh Hùng – Doăn Quốc Sỹ – Việt Tử – Trần Thanh Hiệp – Phạm Thếng – Thanh Tâm Tuyền – Vũ Khắc Khoan – Nguyễn Thị Sâm)


_______

 

 

Giới thiệu Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du

Phần 1 : Hiệu khảo bản văn Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du

Phần 2 : Bản văn chữ Hán đă hiệu khảo và bản dịch sang quốc âm

 

 

www. art2all. net