LAIQUANGNAM

 

Laiquangnam giới thiệu thơ tiền nhân

LONG THÀNH CẦM GIẢ CA

Nguyễn Du


 

Phần I

HIỆU KHẢO BẢN VĂN

LONG THÀNH CẦM GIẢ CA

CỦA NGUYỄN DU

 

          Nguyễn Du không chỉ có Đoạn Trường Tân Thanh (Kiều). Ḍng thơ chữ Hán của ông cũng là một tài sản vô giá về văn chương. Trong số 250 bài thơ bằng chữ Hán của ông để lại cho đời sau, bài Long Thành Cầm Giả Ca là một bài hay nhất, bí ẩn nhất và tam sao thất bổn nhất. Ngày nào mà ta c̣n học sử c̣n nhớ đến kinh đô cũ là Thăng Long (rồng bay), Long (龍) là con Rồng th́ ngày đó chúng ta c̣n nhắc lại bài thơ này.

Hiện tại việc truy cập internet dễ dàng và nay chữ Hán đă trở nên tử ngữ bởi chữ quốc ngữ tiến lẹ quá, thế nên một lần nữa có sự tam sao thất bổn trên các văn bản đánh máy không sao tránh được khi ta copy & paste bản văn này từ internet về .

Ngoài ra chưa kể bản chữ Hán được ghi có tuy cùng âm nhưng dị nghĩa, vài từ khác hẳn với từ trong bản quốc âm đi kèm theo trên cùng một trang viết. Đâu có ǵ phải buồn, bởi mọi người đều xem việc mang bỏ lên mạng là chuyện “ăn cơm nhà bao đồng chuyện thiên hạ”, họ làm được như thế đă là một điều quá quư, đă có tấm ḷng tử tế với thế hệ sau rồi.

Một bản văn cổ như bản văn Long Thành Cầm Giả Ca này mà không có bản chữ Hán đi kèm đôi khi khiến bạn đọc cảm thấy khó chịu(1). Ví dụ từ kỷ th́, ḱ th́. Cùng là “kỷ, ḱ th́” cả trong cùng nguyên tác nhưng hoàn toàn khác nhau về nghĩa. Có nhiều từ Việt ngữ xưa khi nghe ta h́nh dung được, nhưng cũng có từ nay nó đă trở thành tử ngữ, lư do ta không có điểm tựa, hay v́ từ này nay không c̣n được dùng hằng ngày nên ta thấy thiêu thiếu, kỳ kỳ. Ví dụ: nói sơ phong (gió thoảng có người biết nhưng nói lương phong (gió nồm hay lại nồm) th́ không mấy ai hay. Tuỳ ngữ cảnh, lương phong hay hơn sơ phong nhiều lắm nếu như ta biết rơ nghĩa của nó.

Tại sao lại có sự tam sao thất bổn như thế?

Có bốn lư do sau :
1-Một là, Bối cảnh chính trị và chính sách trả thù tàn bạo của Gia Long khi Gia Long mang luật ThanhTriều ( luật đô hộ dân bị trị ) để cai trị chính dân tộc ḿnh.
2-Hai là, Nguyễn Du viết thơ chữ Hán như là trang nhật kư nên sự sao chép bằng tay tác phẩm thi ca của tiên sinh có lẽ phải ở trong ṿng bí mật.
3-Ba là, Việt Nam thời ấy giấy mực đều phải nhập từ China, kể cả việc khắc bản thế nên sách vở do người Việt sáng tác đều khó phổ biến rộng răi.
4-Bốn là, Chữ Tàu là thứ chữ mà người Việt vay mượn, học chữ nào th́ đọc được chữ ấy, thế nên có nhiều chữ mà tŕnh độ người sao chép hạn chế nên họ đọc không ra, dẫn đến hiện tượng đoán ṃ. Vả lại đọc một văn bản chữ Tàu qua bản chữ “thảo”/ viết láu (tháu) hay chập nét viết chấm phẩy nhất là các chữ nhiều nét gói trong một không gian nhất định nên rất khó đoán là chữ ǵ.

Đă có 15 vấn đề xuất hiện khi khảo sát bài thơ chỉ gồm có 50 câu toàn văn bản. Laiquangnam nay làm công việc là t́m chữ nào mà ḿnh cho cho đúng nhất trong câu ấy khi có nhiều bản văn cùng nội dung của thi hào Nguyễn Du hiện diện. Tuy việc này nó không là phải công việc to tát xứng tầm của một người làm công việc “hiệu khảo”, hiệu khảo là sửa lại cho đúng một bản văn, nhưng việc này tôi thấy là cần thiết bởi v́ trong ḷng người Việt nhiều người thuộc đôi câu Kiều của Nguyễn Du.

Laiquangnam dựa trên nguyên tắc sau để làm công việc hiệu khảo. “Từ nào đúng nhất trong các từ đó? Tại sao lại cho nó là đúng ? laiquangnam đưa ra lập luận để bảo vệ ư kiến ḿnh và tuyệt đối không thay từ mới đă có do lớp đàn anh đă khổ công sưu tầm và sắp xếp. laiquangnam chỉ chọn từ đă có sẵn mà thôi.” Việc này chỉ nhằm làm cho các thi nhân có ư định muốn dịch văn bản này có được một văn bản đáng tin cậy trước khi bắt tay dịch, hay khi thầy cô giáo cần giảng cho học sinh, sinh viên của ḿnh hiểu ư một bản dịch sẽ có được một tư liệu khả dĩ tin cậy để khai triển rộng ra.

Laiquangnam cho rằng các tác giả sau đây là người có thẩm quyền nhất về văn bản Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du, đó là các vị:

1-Đào Duy Anh (ĐDA), Thơ Chữ Hán, Nguyễn Du, nhà xuất bản Văn học, Hanoi, 1988, bài Long Thành Cầm Giả Ca xuất hiện tại các trang từ 189 đến 195.

2-Nguyễn Thạch Giang (NTG)- Trương Chính, Nguyễn Du, Cuộc đời và Tác Phẩm nxb VHTT, Hanoi, 2001. Trương Chính là người đă cùng với Lê Thước dịch và công bố thơ chữ Hán của Nguyễn Du vào năm 1965. Cũng cần biết Lê Thước là người bắt tay sưu tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du vào năm 1924 một cách có hệ thống. Nguyễn Thạch Giang là PGS Hán Nôm. Rất tiếc là sách này lại không có bản văn chữ Hán trong sách.

3-Quách Tấn (QT), Tố Như Thi trích dịch, nxb An Tiêm (in lần thứ nhất), Saigon, trang 232-235. Nay bạn có thể t́m trên trang web “hoasontrang”.
http://www.hoasontrang.us/vietcothi/index.php?loi=1

4-Lăng Nhân (LN), Hán văn tinh tuư, nxb NAM CHI TÙNG THƯ, năm 1965, Saigon. Do không có sách gốc, tôi xử dụng bản văn của Ông Lê Văn Đặng công bố tại trang www.viethoc.org. Tại đây có bản dịch xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ 19 của cụ Học Canh, ông là người đầu tiên dịch Cầm giả dẫn (một tên khác của bài Long Thành Cầm Giả ca). Có lẽ dạo ấy giới ca trù Hanoi đă hát suốt bài T́ Bà Hành qua bản nôm của Phan huy Thực không chừng,việc này khiến ông bực? Là một tấm ḷng rất đáng tri ân. Cụ Lăng Nhân sinh năm 1907 –mất 2008 tại Anh quốc có lẽ sưu tập được văn bản này tại nhà cụ Học Canh?  Cần để ư bản văn của cụ Lăng Nhân Phùng Tất Đắc rất quư giá và xuất sắc .

http://www.viethoc.org/phorum/read.php?11,9893

Sau khi đọc bốn bản “nguyên tác?” Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du từ các sách đă được công bố của quư ông bên trên, gom lại chỉ có hai nội dung mà thôi; một là, ba văn bản giống nhau đó là các bản của Đào Duy Anh (ĐDA), Nguyễn Thạch Giang (NTG)- Trương Chính và của Quách Tấn(QT), hai là bản văn của Lăng Nhân (LN). Bản văn của LN có nhiều câu xuất sắc hơn bản của ĐDA hay QT nhiều, tuy rằng bản văn của ông ít được người biết hơn.

V́ sao việc này không được làm sớm hơn? V́ sao? V́ phải có một bản văn gốc hay th́ bản dịch sang thơ Quốc Âm mới hay được (4*). Bản dịch nôm hay th́ “trẻ mới yêu thích” và trân trọng văn học văn tài của tiền nhân ta. Nếu có bản dịch tốt th́ lời b́nh sẽ nhiều và nhiều vấn đề sẽ sáng ra nhất là chỉ c̣n vài mươi ngày nữa là ta qua năm 2015, là năm LHQ kỷ niệm 250 năm ngày sinh, (đồng thời cũng là 200 năm ngày mất) của danh nhân văn hoá thế giới :Thi Hào Nguyễn Du của dân tộc Việt Nam. Long Thành Cầm Giả Ca là một bản văn đă được sáng tác với 50 gịng thơ qua một thứ chữ vay mượn rất hạn chế từ kẻ thù Tàu Hán mà đă hay như thế huống ǵ khi “Tiền nhân ta” được đùa nghịch, vẫy vùng trong “đai dương bao la“ của ngôn ngữ Việt với thứ chữ quốc ngữ tuyệt hảo như ta thấy từ sau 1930. (5*)

 

Tôi không hiểu, lớp đàn anh của tôi trong giới văn học sử nhiều người đă dựa vào bài này để truy t́m t́nh cảm riêng tư, nhân sinh quan cùng là quan điểm chính trị của ông về ba triều Lê, Tây Sơn và Nguyễn Gia Long nhưng “tôi linh tính,“ có khi họ cũng c̣n lờ mờ ” cỡi ngựa xem hoa”; hay là họ kê vào cho có?  Đôi khi “ai đó” trong giới văn học sử cũng không nhận ra tính đa dạng ẩn tàng trong một bài văn Long Thành Cầm Giả Ca nên lầm tưởng bài ca chỉ nhắc về một người phụ nữ với t́nh trạng vật đổi sao dời khiến ḷng “nhân” của tiền nhân ta Nguyễn Du lay động, trong khi bản văn của tiên sinh là một trang nhật kư với nhiều nước mắt của một kẻ sĩ ưu tư về vận nước cho ta biết nhiều hơn thế. Đáng tiếc!

Trong việc hiệu khảo có các từ sai lệch rất nặng tỉ như giữa lương phongsơ phong, giữa câu “Xuân phong yểm ánh đào hoa diện” (LN) với câu “Hồng trang yểm ái đào hoa diện”(ĐDA), hay thiếu từ “nhứt đán” như câu 43 “Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong” (ĐDA) so với câu “Tây Sơn cơ nghiệp nhứt đán tận tiêu vong” (LN). C̣n đa phần nhẹ hơn không thay đổi nhiều về ngữ cảnh ví dụ kỷ thời, thử thời, tiện thị, tận thị…. Sau khi đọc tôi định lại từ sai lệch ấy, laiquangnam xin được chia sẻ với những ai yêu Nguyễn Du của ḿnh.

Bài Long Thành Cầm Giả Ca, nguyên tác có 50 câu. Các câu mang số thứ tự sau 7, 9, 10, 13, 14, 18, 20, 26, 34, 36, 40, 43, 45 là có sự lệch từ cần hiệu khảo, bởi cho dù chỉ một độ lệch rất nhỏ cũng có thể làm câu thơ mất một phần nào đó độ lung linh của nó khi mà ta giảng xuôi cho học tṛ ḿnh qua Việt ngữ ngày nay. Các Bản dịch sang thơ Quốc Âm sẽ bị hạn chế từ và thi luật nên đành hy sinh các từ “công cụ“ (6*) ấy. Nhưng trong các bản văn dịch xuôi của bốn tác giả trên th́ laiquangnam không thấy mấy ai để ư để giúp các “ thi nhân tài hoa “cảm để rồi từ đó họ sẽ chuyển bản văn gốc của tiền nhân ta thành một bản dịch với chất giọng quốc âm xuất sắc hơn những Bản dịch sang thơ Quốc Âm trước , đó là điều mà chúng ta đang chờ mong. Ngày nào mà trên xứ ta bản văn này át bản văn T́ Bà Hành của Bạch cư Dị là ngày đó giới “yêu thơ của Nguyễn Du có thể tự xoa tay gác kiếm được rồi.

Dĩ nhiên việc này của laiquangnam là vô nghĩa nếu sau này ta t́m được văn bản chính tay Nguyễn Du viết.


I- Bắt tay khởi sự

1- Có hai tiêu đề, chọn tiêu đề nào? Cầm Giả DẫnLong Thành Cầm Giả Ca. Tại sao lại có sự tam sao thất bổn như thế?

Tiêu đề Cầm Giả Dẫn, xuất hiện trong sách của LN , kèm theo bản dịch của Học Canh là người sống vào cuối thế kỷ thứ 19. Tại sao lại mất chữ Long Thành?

Năm 1803, trên dưới một năm Gia Long cầm quyền và củng cố được ngai vàng, ông lập tức ban lệnh đổi Thăng long (龍) Rồng sang Thăng Long (隆) Thịnh. Mục đích ǵ phải đổi tên một cố đô? Gia Long có vẻ sợ nhân sĩ Bắc Hà và trấn áp họ. Đổi để biết ai khiếp sợ, ai là kẻ c̣n có ư muốn chống lại vương quyền của ông.

Nguyễn Du chức ǵ trong thời điểm đó?
Năm 1803: đến cửa Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh, Trung Quốc, (quan văn, bộ Lễ ). Năm 1805: thăng hàm Đông Các điện học sĩ.
Năm 1807: làm Giám khảo trường thi Hương ( chấm đỗ cử nhân ) ở Hải Dương, Cai bạ dinh Quảng B́nh (chức vụ hành chính, rành luật lệ đương triều ).
Năm 1813: thăng Cần Chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh sứ đi Trung Quốc, viết tập Bắc Hành Tạp Lục.

Nguyễn Du cố t́nh nhắc Long Thành, Long là (龍) Rồng trong bài này là thái độ của một Kẻ Sĩ. Người sao chép lại tiêu đề bài thơ đă giản lược đi thành ra “Cầm Giả Dẫn” có lẽ v́ sợ nhà cầm quyền nên đă bỏ hai từ Long Thành đi trước nó chăng?

Long Thành là hai từ vô cùng quan trọng với tâm tư Nguyễn Du.

 

Một là thành Thăng Long (rồng bay) rất yêu quư đối với ông bởi suốt khoảng đời ấu thơ cho đến lúc trưởng thành ông đă sống tại nơi đây. “Nguyễn Du sinh năm Ất Dậu (1765), niên hiệu Cảnh Hưng, tại Thăng Long. Tổ tiên ông là Nguyễn Xí là đại công thần khai quốc nhà Lê, do đó sáu bảy thế hệ viễn tổ trước ông đă từng đỗ đạt làm quan. Nguyễn Du thuộc về một gia đ́nh khoa hoạn nổi danh ở làng Tiên Điền về thời Lê mạt. Thân phụ ông là Nguyễn Nghiễm (1708-1775), đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), tước Xuân Quận Công dưới triều Lê sống vinh quang tại đây” ( theo vi-wikipedia). Măi đến năm 1796_1797 , nghĩa là lúc ông trên 30 tuổi ông mới rời nơi đây để về lại Tiên điền. Ông là người con của Thăng Long (rồng bay).

 

Hai là, tiêu đề “Long Thành Cầm Giả Ca” bởi nó quá quen thuộc, là một thương hiệu quá phổ biến từ trước 45, nói ǵ ngày nay ai cũng biết tên này mà không mấy ai biết “Cầm giả dẫn”.

Thế nên tiêu đề phải là “Long Thành Cầm Giả Ca”, Bài ca về người nữ danh cầm (hay Cầm) tại kinh thành Thăng Long.

2- Tại câu © 7- 余(X )少年曾一見

7-Dư tại (在) thiếu niên tằng nhất kiến.(LN),
tạm dịch nghĩa như sau, Thuở thiếu thời từng một lần được chứng kiến tại đây.

7-Dư ức (憶 ) thiểu niên tằng nhất kiến (ĐDA) (100%)
tạm dịch nghĩa như sau: Trong kư ức c̣n sót lại thuở nhỏ đă một lần chứng kiến.
Từ “ức” hay hơn, mang chất thơ hơn. Vả lại ức là từ khá thân quen với người Việt như kư ức .

7-Dư ức (憶 ) thiểu niên tằng nhất kiến (ĐDA) => Thiếu thời nay sực nhớ ra


3- Tại câu © 9-(X ) 時 三 七 正 芳 年

9-“Thử th́ (此 ) tam thất chính phương niên” (LN )
Thử th́ đang ở 21 tuổi .

9-“Kỳ (其) th́ tam thất chính phương niên” (ĐDA)
Tạm dịch nghĩa như sau “ước chừng khoảng độ 21. “ Điều này phù hợp với câu (2) Nguyên tác , 獨善絃琴 bất kư danh tự, chẳng chịu nói tên th́ làm sao biết chính xác tuổi. (chọn 80%)

9-“Kỳ (其) th́ tam thất chính phương niên”(ĐDA) => Ai ngày ấy ước chừng hăm mốt


4- Tại câu © 10-(X ) (X ) 掩 映 桃 花 面

10-“Xuân phong (春風 ) yểm ánh đào hoa diện” (LN) chọn 100%
Tạm dịch nghĩa như sau “ Xuân phong yểm ánh,” Sắc vẻ tuổi xuân sắc tăng sắc hồng của mặt hoa đào vốn đă đỏ. Sắc xuân sức sống trẻ. Câu mạnh mẽ có sức sống hơn. Rất có ư khi mà tác giả vốn đă có cảm t́nh với người đánh đàn. Chọn 100%

Tôi cho rằng có sự “đánh lừa“ rất khéo và cố ư của tác giả khi viết lời tiểu dẫn đă dùng một thứ ngôn ngữ thật trần trụi so với lời thơ. Lời thơ th́ ngôn từ chọn lọc, ngôn ngữ rất thơ.
Xuân phong (春風 ) yểm ánh đào hoa diện là câu thơ đẹp.

9-“Kỳ (其) th́ tam thất chính phương niên” (ĐDA)
10-“Xuân phong (春風 ) yểm ánh đào hoa diện (LN)
=> Ai ngày ấy ước chừng hăm mốt,
Sắc xuân nồng ran tóc mặt hoa.( dịch hai câu 9,10)


Hồng trang (紅妝 ) yểm ái đào hoa diện “(NTG) ((ĐDA)
Hồng trang hoặc quần áo màu hồng, hoặc phấn hồng trên má, như trong tiểu dẫn.
Cách điểm trang màu hồng làm tăng vẻ đáng yêu trên mặt hoa đào.

5- Tại câu © 13 緩 如 ( X) 涼 風 度 松 林

Câu 13 và câu 14 liên quan đến khúc Cung phụng
Ta cần dừng lại đây một chút.

Các tác giả thường dùng thủ thuật mô tả một “nốt” nhạc, một đoạn nhạc bằng cách so sánh và đối chiếu với một âm đă có sẵn trong thiên nhiên, tả tiếng đàn trong T́ Bà Hành và trong Đoạn Trường Tân Thanh ( Kiều ) dùng thủ thuật này.

Trong như tiếng hạc bay qua ( Kiều) 481
Đục như nước suối mới xa nửa vời ( Kiều) 482
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,( Kiều) 483
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa ( Kiều) 484

Tấu khúc “Cung phụng khúc” là khúc nhạc hay nhất trần gian mà tác giả đă xác quyết rằng ḿnh từng được nghe:

6-Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh => Đệ nhất thanh trong cơiNgườiTa

13-Hoăn như lương (涼) phong độ tùng lâm(LN)
Lương là gió mát do có hơi nước. Gió mát do có hơi nước là gió biển đông, hướng gió là hướng đông nam thổi vào nước ta. Lương phong chính là ngọn gió nồm. Ngọn gió mà mọi người đều mong đến với ḿnh trong tiết hè nóng bức. Đây là câu nằm trong ngữ cảnh của Khúc Cung Phụng, tiểu khúc “Hoăn như”. Người được chút khoan thai, nhàn nhă không ǵ sướng hơn cho họ là khi trời đang nóng mà trời “lại nồm”, gió thổi qua rung ngàn thông trên băi cát tạo thành những âm thanh reo vui dễ chịu.(7*)
Thế nên hoăn như là một tiểu khúc chứ không như trong Đoạn Trường Tân Thanh (Kiều) là một tiếng đàn. Đă là tiểu khúc th́ cần thời gian dài để đàn cho hết một khúc.

13-Hoăn như lương (涼) phong độ tùng lâm”(LN) chọn 100 %
=> Khúc Khoan!,”_ lại Nồm đàn thông nhạc”


13-Hoăn như (初) phong độ tùng lâm (ĐDA)
Sơ phong, cơn gió nhẹ cũng được. So ra không sao bằng được khi trời lại nồm. Rơ ràng “lại nồm” lương phong thời lượng dài hơn cơn gió thoảng sơ phong. (z*1)


6- Tại câu © 14- 清 如 (X ) 鶴 鳴 在 陰

14-Thanh như chích (隻) hạc minh tại âm. (LN )
Chích là chiếc, là cái, là con, chích hạc là cái hạc, con hạc.
Trong như tiếng hạc bay qua có thể tương thích với câu này “Thanh như chích (隻) hạc minh tại âm.”

Nhưng, Tấu khúc “Cung phụng khúc” là khúc nhạc hay nhất trần gian mà tác giả đă xác quyết rằng ḿnh từng được nghe: 6-Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh=> 6-Đệ nhất thanh trong cơiNgườiTa. V́ vậy đây phải là một tiểu khúc mà “hai con hạc” thể hiện.

14-Thanh như song (双) hạc minh tại âm. (ĐDA).
Song là hai. Tại sao phải là hai con hạc. Hạc là loài chim thiên di. Trống (Chồng) đâu mái (vợ) đó. Hạc là loài sống chung thuỷ nhất trong các loài sinh vật. Chung thuỷ là điều ước muốn của mọi cặp t́nh nhân thực sự yêu nhau kể cả con người. Thanh như song (双) hạc là ước lệ của T́nh yêu. Lư Thương Ẩn trong một bài thơ của ḿnh, ông rất yêu vợ , khi vợ lâm chung ông không có mặt tại chỗ ,ông buồn phiền và than rằng ,phải chi ông và vợ ông được như đôi uyên ương (tức song hạc ) cùng bay đi bay về với nhau khi trời thu đến. T́nh như thế là tuyệt đẹp.(8*)

Nên tại đây ta hiểu là một khúc t́nh, thay v́ là một âm thanh mô phỏng như trong Đoạn Trường Tân Thanh( Kiều ) “trong nhu tiếng hạc bay qua” ( Kiều) mà là

14-Thanh như song (双) hạc minh tại âm. (ĐDA)
=> 14-Khúc t́nh ru!, “_ song hạc vờn mây.’


Rơ ràng “song hạc" tâm t́nh thời lượng dài hơn gấp bôi một tiếng kêu của một con hạc lạc loài .

7- Tại câu © 18-(X ) 是 中 和 大 內 音
18-Tận thị (盡 ) Trung Ḥa Đại Nội âm (LN)

Tận thị, đúng rồi, bắt tận tay, tận mặt, chính xác không trật đi đâu được. Chọn, 70%.
Tận thị (盡 ) Trung Ḥa Đại Nội âm (LN) =>Khúc đàn đại nội Trung Ḥa là đây!

Tiện thị: tiện đây nói luôn, ngữ cảnh không quả quyết như tận thị .


8- Tại câu © 20-徹 夜 追 歡 不 知 (X )

20-Triệt dạ truy hoan bất tri hiểu (曉) (LN)
曉 hiểu là buổi sáng, bất tri hiểu là chẳng hay trời đă sáng, say mê quên thời gian, chọn 55%

20-Triệt dạ truy hoan bất tri băo (飽 ) (NTG)(ĐDA)
飽 băo là no, bất tri băo= chưa đă, c̣n tḥm thèm.
Do câu 19, từ cuối là đảo, câu 20 là băo. Lấy âm khi ngâm, đảo (cuối câu 19) => băo (cuối câu 20). Tuy nhiên người ngâm sẽ dùng thời gian ngừng, ngắt, th́ âm hiểu cũng dễ nghe và dễ ngâm .*

Câu này nằm trong ngữ cảnh 4 câu 19, 20, 21, 22 thể hiện tính cách của người Tướng sĩ người Đàng Trong, Quảng Nam-B́nh Định. Cách chơi này và tính cách này khiến họ đánh quân Tàu xâm lược với một khí thế mà chưa từng bao giờ dân Việt đạt được khí thế “ phấn khích, hết ḿnh, chơi chết bỏ, đánh chết bỏ “ như thế, sớm hơn kế hoạch dự định.
“Nê thổ (15) kim tiền thù thảo thảo”
=> Tiền là phấn thổ!, hồi hồi phà ra !

19-Tây sơn chư thần măn toạ tận khuynh đảo
20-Triệt dạ truy hoan bất tri hiểu (LN)
21-Tả phao hữu trịch tranh triền đầu
22-Nê thổ kim tiền thù thảo thảo
==>
19- Quan Tây Sơn ngất ngây tận sáng
20- Hút hồn theo, tâm trạng đầy vơi (câu 20)
21-Tháo khăn đầu, tả hữu bồi
22- Tiền là phấn thổ!, hồi hồi phà ra !



9- Tại câu © 23-豪 華 意 氣 凌 (X ) 侯

23-Hào hoa ư khí lăng công (公) hầu (LN)
Công hầu là điển từ, nhắc nhớ bài T́ Bà Hành của Bạch cư Dị
Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu

Ngũ lăng là nói về 5 tước hầu. Ngũ lăng là nơi có 5 lăng mộ của người mang tước “công hầu ” thời Hán. Họ không mang tước “Vương”. Tôi không tin Nguyễn Du nhầm lẫn. Ngũ Lăng niên thiếu là đám thiếu niên con ông cháu cha cấp cao.

Nguyễn Du có ư khi nhắc đến khách tham dự của Bạch Cư Dị nay bị khớp bởi sự hào hoa của viên chức Tây Sơn. Điển từ Nguyễn Du dùng T́ Bà Hành như là một “văn bản dựa” v́ nó là văn bản cổ, nhiều người đă biết. Đó là thủ thuật nén ư mà người làm thơ sau th́ dùng điển từ của người đi trước đă có tiếng tăm. Đó là một thủ thuật của Đường thi. Chọn 100%

Điển từ ngũ lăng nhắc nhớ thơ Bạch cư Dị:
Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu (Bạch cư Dị )
Nhất khúc hồng tiêu bất tri số

==>

Ngũ Lăng, chàng trẻ ganh đua
Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn
(PHV)

Sang thơ Nguyễn Du trong Long Thành Cầm Giả Ca th́
"Ngũ lăng niên thiếu bất túc đạo" (Long Thành Cầm Giả Ca )

23-Hào hoa ư khí lăng công hầu .
24-Ngũ lăng niên thiếu bất túc đạo
==>
23-Hào hoa quá!,_Công hầu phải chịu,
24- Đám Ngũ Lăng niên thiếu?,_ nín khan


Với từ “Ngũ lăng” giúp Nguyễn Du đă mở rộng ư thơ của ḿnh ra khá xa. Bạn có thấy ư tưởng độc đáo khi Nguyễn Du dùng lại từ Ngũ Lăng của T́ Bà Hành. “Cùng là khán giả“ Ngũ Lăng” mà khi bọn họ ngồi nghe T́ Bà Hành th́ c̣n hiểu đôi chút, c̣n rục rịch, c̣n ném khăn gấm, thẻ tiền tưởng thưởng, nhưng khi ngồi nghe “ Khúc Cung Phụng “ trong Long Thành Cầm Giả Ca th́ đám khán giả Ngũ Lăng này lại ngồi “ xếp xương”. Tại sao? Có ba lư do; một là, Khúc Cung Phụng khó nghe quá, nó là khúc nhạc có tầm cao chỉ dành cho người có ưu tư về t́nh yêu tổ quốc. Khúc Cung Phụng là niềm vui, là nỗi buồn, nói xa gần về chuyện nước non, chuyện hết sức to tát chỉ dành cho Kẻ Sĩ, nó không dành cho người b́nh thường chỉ nghĩ đến chuyện vụn vặt trong cuộc sống hàng ngày; hai là, tài năng người đánh đàn giỏi quá, lôi cuốn quá, ba là Quan tướng Tây Sơn lịch lăm quá. Câu 22-Nê thổ (15)kim tiền thù thảo thảo ==> tiền là phấn thổ hồi hồi phà ra !. “Nê thổ kim tiền” có nghĩa là ‘tiền là phấn thổ”, đó là nửa câu ngạn ngữ, “tiền là phấn thổ nghĩa tự thiên kim”, tiền là phấn là bụi đất chỉ có “Nghĩa t́nh “ mới đáng quư mà thôi. Nguyễn Du là người rất tài hoa khi xử lư ngạn ngữ và ca dao Việt ngữ trong các danh tác của ḿnh. Đó là một thái độ của một Kẻ Sĩ học rộng không đội Hán, Vọng Hán, Khớp Hán bao giờ. 9*.


23-Hào hoa ư khí lăng vương (王 ) hầu (ĐDA)
Không phù hợp với ngữ cảnh ngũ lăng niên thiếu .

10- Tại câu © 26-(X ) (X ) 長 安 無 賈 寶

26-Hoạt tố (活) (做 ) Trường An vô giá bảo ((ĐDA)
Hoạt tố là tố chất sống. Tố chất Trường An là tố chất sống của người tại kinh thành. Hoạt tố Trường An vô giá bảo, tạm dịch nghĩa như sau Tố chất linh hoạt của người tại kinh thành Trường An là vô giá.

Như đă nói Nguyễn Du là người yêu Thăng Long (rồng bay) . Với ông Thăng Long ( rồng bay ) là nhất, thế nên ông hoàn toàn hănh diện về “Hoạt tố của con người Trường An” trong ông. Bạn đọc lại phần đầu tiểu sử và tâm tư ông gắn bó với Thăng Long thành. Bạn đọc ngữ cảnh 2 câu 25, 26.

25-Tinh tương tam thập lục cung xuân .
26-Hoạt tố Trường an vô giá bảo
.

Tinh là chắt lọc ra. Chắc lọc lại Tam Cung Lục Viện, mỹ nữ của quốc gia, th́ người đang đánh đàn kia, người đang mang hoạt tố, tố chất sống mạnh mẽ kia của người Tràng An kia là vô giá.

=> 25-Nghe chừng băm sáu cung xuân,
26-Đúc nên quốc bảo Trường An một người.


“Hoạt tố của con người Trường An”! Là niệm hănh diện của người Kinh Bắc.. Chính v́ vậy mà Gia Long lệnh đổi Long (龍) là con Rồng thành Long (隆) là Thịnh,

Thế nên câu
26-Hoán thủ (換 ) (取 ) Trường an vô giá bảo (LN)
Hoán thủ là hoán đổi, đổi lấy. Thủ 取là chọn lấy. Câu không mấy hay. Loại bỏ từ này trong câu.

11- Tại câu © 34-顏 (X ) 醜 神 枯 形 略 小

34-Nhan (醜) thần khô h́nh lược tiểu (LN)
醜=xú =xấu quá, xấu tệ. Việt ngữ có từ xú uế.
Chữ này người đàn ông dùng cho một người phụ nữ nào đấy thật là ác mồm ác miệng, cho dù từ XÚ có xuất hiện trong phần tiểu dẫn của Nguyễn Du.

Có hai t́nh huống khi người đàn ông dùng từ xú.
1. Xú xuất hiện lần thứ nhất, khi người đàn ông nh́n người phụ nữ và bật miệng một cách vô thức. Nguyễn Du đă nhắc trong tiểu dẫn, tuy nhiên khi đặt bút viết thành thơ th́ từ này không c̣n xuất hiện nữa, xú được chuyển thành sấu ngôn ngữ hàm ư chia sẻ và cảm thông. Ḷng người đà thay đổi. Có thể Nguyễn Du đă cố t́nh dùng từ này trong phần tiểu dẫn chăng? .
2. Xú không phải là ngôn ngữ thơ của người xưa trong ngữ cảnh này. Đối với người phụ nữ b́nh thường tiên sinh vốn đă tử tế huống ǵ nay đối với người đánh đàn mà ông vốn đă có nhiều kỷ niệm này. Từ Xú bị lược bỏ trong câu.

34-Nhan sấu (瘦 ) thần khô h́nh lược tiểu (ĐDA)
瘦 sấu =gầy, tiều tuỵ. Nhan sấu=nhan sắc tiều tuỵ.
Ngôn ngữ thi ca, từ “sấu” đúng với t́nh cảm của ông.

34-“ Nhan sấu thần khô h́nh lược tiểu “
=> 34_Mặt gầy, da héo tóc đà sang đông!.


12- Tại câu © 36- 誰 知 (X ) 便 是 當 年 城 中 第 一調

36-Thùy tri tiện (便) thị đương niên thành trung đệ nhứt điệu (LN)
誰知便是當年城中第一調 (LN)
Tiện (便) trong Việt ngữ, ví dụ: tiện thể, được dịp tiện thị, phải nói rằng ….
“Thuỳ tri tiện thị đương niên thành trung đệ nhất điệu” => Tiện đây, ai có biết cho rằng cô là người tài t́nh nhất trong thành vào thời ấy không ?
Diệu là khéo léo, tài t́nh, Tựu, Việt ngữ có thành tựu, tựu là làm nên.

36-Thuỳ tri tựu thị đang đương thời thành trung đệ nhất diệu
誰知就是當時城中第一妙 (ĐDA) .
Tựu (就) thị =Đă được là như thế, như thể, ví dụ: tựu thể, thành tựu.

Thuỳ tri tựu thị đang đương thời thành trung đệ nhất diệu (22) .
==> Tạm dịch nghĩa như sau “Ai có biết rằng cô đă là người “tài t́nh” nhất trong thành như thế vào thời ấy.”
Trong trường hợp này hai từ đều được. Tuy nhiên chữ tựu thị từ nhẹ và thanh hơn tiện thị.

36-“Thuỳ tri tựu thị đang đương thời thành trung đệ nhất diệu”
=> Đệ nhất nhân!, sắc nước một thời,


13- Tại câu © 40-監 湖 ( X) (X ) 曾 見 之

40-Giám hồ tịch (席 ) trung (中) tằng kiến chi (ĐDA)
席 tịch là chiếc chiếu, tịch trung là giữa (trong ) vuông chiếu. Vuông chiếu được trải ra cho khách tham dự ngồi vào đó, ngoài ra nó c̣n hàm nghĩa là một chiếu tiệc, buổi tiệc. Kư ức nay trở nên chính xác và gần gủi hơn. Vả lại từ tịch trung, vuông chiếu tiệc làm cho câu thơ đẹp hơn. Chọn 100%

Xét câu
40-“Giám Hồ hồ biên tằng kiến chi “(LN)
Tại câu 8 “Giám Hồ hồ biên dạ khai yến”. Hồ biên đă được nhắc. Khai tiệc th́ bên hồ Giám, cảnh quan đông người, tả tổng thể, và nhập tiệc th́ ngồi vào vuông chiếu, chú ư đến nhân vật trung tâm.

Ở đây cũng cho thấy ngôn ngữ trong thơ đẹp hơn ngôn ngữ của tiểu dẫn nhiều, và khác bối cảnh cũng có phần hơi khác chút ít với tiểu dẫn. Trong tiểu dẫn th́ tác giả đứng lấp ló sau cánh cửa để xem tại đây th́ tác giả thấy rơ hơn, có lẽ lúc này t́nh cảm và sự cố nhớ ra “ xem ra ai đó nghe chừng quen quen”.

40-Giám hồ tịch trung tằng kiến chi (NTG)
==> Từng thấy Ai chiếu tiệc Giám hồ

Toàn văn ngữ cảnh

Mănh nhiên ức khởi nhị thập niên (23) tiền sự
40-Giám hồ tịch trung tằng kiến chi (NTG)
Thành quách suy thôi di nhân sự cải
Kỷ xứ tang điền biến thương hải
==>
Chạnh ḷng,_ ra!, hai mươi năm trước,
Từng thấy Ai chiếu tiệc Giám hồ!
Người xưa, thành cũ,_ thuở nao,
42) Bể dâu chợp mắt, nhớm bao ngùi ngùi.



14- Tại câu © 43-西 山 基 業 一 旦 盡 消 亡 (LN)

43-Tây Sơn cơ nghiệp nhứt đán tận tiêu vong (LN)

Đây là câu quan trọng nhất trong bản văn của LN. laiquangnam tuyên dương cụ Lăng nhân Phùng Tất Đắc. Đây là sự đóng góp vô giá trong việc giải mă t́nh cảm của Nguyễn Du đối với nhà Tây Sơn khi hai từ “ nhất đán “ xuất hiện.

Về ngữ cảnh, câu này hợp lư hơn câu của ĐDA bởi lẽ nó phù hợp với Tiết tấu của câu. Sự hiện diện của nó thúc đẩy bài ca trở nên đồn dập đầy cảm xúc hơn. Sau một hồi đều đều gồm 7 từ, ngữ điệu được chuyển sang “tông” với các câu dài hơn gồm 9 từ. Vai tṛ của 9 từ khiến câu dài thêm ra và người ngâm sẽ truyền cái thần của nội dung đến cho người nghe do bởi thời gian dài ra vào lúc diễn ngâm.

Long Thành Cầm Giả Ca là “bài ca” là vậy. Khoảng này khá dồn dập, chỉ sau ba đến bốn câu đều đều gồm 7 từ là đến ngay câu 9 từ. Ta lần lượt gặp tại câu 31 (9 từ), 36 (9 từ), 39 (9 từ), 43 (9 từ). Tại câu 43 hai từ than tiếc “nhất đán” xuất hiện kịp lúc, đúng lúc, “nhất đán“ đă kết thúc sự lên giọng bất thường sau đó là các câu thất ngôn (7 từ) cho đến khi hết bài ca.

Nhất đán, đán là buổi sớm. Nhất đán là một buổi sớm. Chuyện quá đột ngột. Trong ngôn ngữ của người miền Trung, hai từ “nhất đán” là từ t́nh cảm chứa vẻ lo âu, chia sẻ nay vẫn c̣n dùng. Ví dụ: _nhất đán mà mai này tôi có mệnh hệ ǵ th́ … . Nhất đán là từ chỉ điều không may xảy ra, xin đừng thay bằng từ trần trụi là “ đột ngột, bỗng nhiên“. Khi Nguyễn Du dùng từ nhất đán tại câu số 43 là ḷng Kẻ Sĩ đă nhiều cảm xúc lắm rồi. Dần theo ngữ cảnh toàn văn nếu ta biết rơ các sự thật như thế này th́ ta sẽ hiểu.

1. Thần sắc người đánh đàn trước và sau khi Gia Long lên ngôi 1802, thời Tây Sơn và thời Nguyễn Ánh có khác.

2. Từ cách nghe nhạc, cách chơi hết ḿnh của quan tướng Tây sơn ngồi nghe đánh đàn vào khoảng đầu thập niên 90 của thế kỷ 18 (1786-1792?) khi họ xem “tiền là phấn thổ, nghĩa tợ thiên kim” hoàn toàn khác với đám tướng “đàn gẫy tai trâu“ thời Gia Long. Các viên chức tân triều không biết ǵn giữ viên ngọc quư lại cho văn hoá dân tộc, một điều đáng lên án. Khúc nhạc đă mất, cây đàn Nguyễn (10*) cũng mất và người chơi đàn cũng mất. Mất sạch rồi. Một tân triều đội Hán lên ngôi. Một tai hoạ được dự báo trước, chính v́ thế mà Nguyễn Du đă năm lần bẩy lượt xin từ quan mà Gia Long không cho. Tuy Nguyễn Du không ra quyết định cho chính sách quốc gia nhưng tham gia vào chính quyền ra chính sách ấy cũng là “dấy máu ăn phần”. Thái độ rất kẻ sĩ của một người “nghệ sĩ ” thật là đáng kính. Nguyễn Du chỉ tội nghiệp cho chúng ta là những kẻ sinh sau đẻ muộn không c̣n có cơ hội được nghe bản nhạc hay nhất trần gian của dân tộc này, không c̣n được thấy cây đàn Nguyễn đặc trưng của vương triều nhà Hậu lê 1428 -1800 nữa. Cả người đánh đàn với các kinh nghiệm học từ cấm cung nay cũng không c̣n cùng bản nhạc. Tội ác này cũng lớn như tội bán nước vậy.

3-Xem thử danh sách quan tướng Tây Sơn tham dự lần ấy là ai? Là danh tướng Trần Quang Diệu, là đô đốc Lộc cộng với nhân sĩ Bắc Hà thuộc cánh Ngô Gia Văn Phái và người ẩn sĩ Nguyễn Thiếp.

Trấn thủ Long Thành lần sau là ai vào thời Gia Long? Đó là bọn Lê Chất, Nguyễn Huỳnh Đức cộng với tên " đầu ḅ “ Đặng Trần Thường. Đặng Trần Thường là kẻ đă ḷng dạ nhỏ nhen đă dùng roi đánh chết một văn tài lỗi lạc nhất của đất nước thời ấy. Chắc chắn rằng cái chết của Ngô Thời Nhiệm đă gây cho những người từng là bạn thân của ông có ảnh hưởng đến Nguyễn Du. Đó là anh ruột ông, tiến sĩ Nguyễn Nễ, là anh vợ tiến sĩ Đoàn Nguyên Tuấn và danh sĩ Nguyễn Thiếp, học tṛ cưng của cha ông. Tất cả họ đều buồn phiền lẫn phẫn nộ. Những vị này là các quan văn rất gần gũi với vua Quang Trung –Nguyễn Huệ. Họ đă đóng góp nên trận Đống Đa năm xưa cùng việc xây Viện quốc âm Sùng Chính, san định và dịch sách chữ Hán sang chữ Nôm. T́nh cảm đối với Tây Sơn từ các vị này chắc đă tác động lên tư tưởng Nguyễn Du sau khi ông được triệu ra làm quan cho Gia Long. Trong đời làm quan với Gia Long ông đă ba lần t́m cớ từ quan mà không được. Cuối cùng ông tự sát vào năm 1820 khi chối từ uống thuốc, lúc này ông mới 54 tuổi. Xem lại bài Thái B́nh Mại Ca Giả đă viết.

Câu này làm cho ta rơ thái độ Kẻ Sĩ của Nguyễn Du. Lư ra Nguyễn Du phải ngợi ca chế độ đă cho ḿnh vinh hoa áo gấm về làng, ăn cơm chúa múa tối ngày. Không. Đâu là chân hạnh phúc của Kẻ Sĩ? Sống thử vài năm với chế độ mới là Kẻ Sĩ biết mùi. Tổ quốc phải vinh quang là điều kiện “CẦN “để Kẻ Sĩ ngợi ca chế độ. Tổ quốc phải vinh quang, chiến tranh phải lùi xa, để mọi người được cùng hưởng trong đó có vợ con ta, bè bạn ta, gia đ́nh ta, đồng bào ta. Việc cho ta (Kẻ Sĩ) vài ưu đăi tấm áo miếng cơm chỉ là chuyện nhỏ nhặt, giúp sống qua ngày, không có nó ta vẫn sống được. Nói ǵ khi ta nhận tham chính là ta đă bỏ phiếu thuận cho tân triều bất nhân. Ta đă là kẻ gián tiếp tiếp tay với tội ác. Khác nhau rất xa giữa Kẻ Sĩ và Trí thức là vậy. Kẻ Sĩ luôn luôn sợ sự “ô nhục đến muôn đời sau cho con cháu ḿnh.“ Trí thức có thể th́ ờ cứ sướng trước đă nên đa phần họ nhắm mắt cộng tác với tân triều gian ác, bất nhân. Chuyện “ô nhục đến muôn đời sau cho con cháu ḿnh” xa xôi quá đối với họ (Trí thức)..

15- Tại câu © 45-瞬息百年(X ) 幾 時

45-Thuấn tức bách niên năng (能 ) kỉ th́(NTG) (60% chọn)
Tằng, năng đều là từ mang ư so sánh nhưng năng th́ xác quyết hơn .
Năng là hẳn là, theo lẽ thường, năng là từ mà ta thường gặp khá nhiều trong các câu thành ngữ, tục ngữ.

Kỉ là nhỏ xíu . Kỉ th́, kỉ thời là khoảng thời gian rất ngắn ngủi. “bách niên năng (能 ) kỉ th́ ==> trăm năm chỉ là một cái chớp mắt, chỉ là một hơi thở‘.

45- Thuấn tức bách niên năng(能) kỉ th́
46.Thương tâm văng sự lệ triêm y
=>

45-Trăm năm một tiếng thở dài,
46-Bồi hồi chuyện cũ lệ ai vơi đầy.


45-Thuấn tức bách niên tằng (曾 ) kỷ th́ (LN),Tằng là từng, là như .


II- Kết luận

Các câu khi có cùng độ chọn do chủ quan tuy có lệch chút ít 55, 60 % th́ về mặt ngữ nghĩa cũng không làm thay đổi nội dung câu. Từ nào cũng được. Tuy nhiên theo tôi điều này cũng có thể dẫn đến các bản văn dịch của những người dùng nó để dịch sang thơ quốc âm sẽ bớt độ lung linh đi chăng?

Laiquangnam đă làm bảng kê trên trong điều kiện không tốt lắm, phương tiện làm việc, môi trường làm việc, cá nhân làm việc. Rất tiếc phải chi có bạn bè laiquangnam hỗ trợ th́ ḿnh có thể làm tốt hơn . Hy vọng bản này sẽ giúp một phần nào đó cho lớp sau, lớp em tôi, lớp người Việt 1.5 sẽ có cơ sở tiến xa hơn và hoàn chỉnh hơn.

Tôi hoàn toàn đặt niềm tin vào các bạn.
Hăy bước lên vai chúng tôi mà trèo cao hơn, nhảy cao hơn, xa hơn. Chúng ḿnh cùng đẩy những di sản của tiền nhân lên một tầm cao mới cùng thiên hạ.

Xin mời đọc tiếp phần 2, Long Thành Cầm Giả Ca , Bản văn gốc hay nhất
Sau khi đă hiệu khảo .

 

III- Tham khảo và chú thích

*-Chữ có màu đỏ giúp bạn t́m tư liệu với Google search qua cụm từ màu đỏ này.

1-Đào Duy Anh (ĐDA), Thơ Chữ Hán, Nguyễn Du, nhà xuất bản Văn học, Hanoi, 1988, bài Long Thành Cầm Giả Ca xuất hiện tại các trang từ 189 đến 195.

2- Nguyễn Thạch Giang (NTG)- Trương Chính, Nguyễn Du, Cuộc đời và Tác Phẩm nxb VHTT, Hanoi, 2001. Trương Chính, là người đă cùng với Lê Thước dịch và công bố thơ chữ Hán của Nguyễn Du vào năm 1965. Cũng cần biết Lê Thước là người bắt tay sưu tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du vào năm 1924 một cách có hệ thống. Nguyễn Thạch Giang là PGS Hán Nôm.

3. Quách Tấn (QT), Tố Như Thi trích dịch, nxb An Tiêm (in lần thứ nhất), Saigon, trang 232-235 .lưu ư bản của nhà thơ Quách Tấn là bản do Trụ vũ bạn ông sao chụp từ thư viện Paris ,Pháp quốc gởi về cho ông .

 

Khi ta bị mất nước về tay người Pháp, sách văn học của ta được chính quốc Pháp mang về c̣n lưu trữ tại đó, trong khi người Tàu chiếm đoạt của Ta th́ lập tức người Tàu biến thành tài sản trí năng của họ. Tàu có một sự lưu manh đáng sợ. Vậy mà nhiều người có ăn học lại nhận người Việt là đồng văn với Tàu nghĩ cũng lạ. Sau 75, tôi cũng đă thấy nhiều sách quư tại thư viện Quốc gia Việt Nam Saigon được các Giáo sư mượn đọc và họ giữ làm của riêng và khi họ vượt biên th́ sách mang ra bán chợ trời. Giáo sư đại học Việt mà tư cách tệ thế hay sao? Xin dừng tay đừng ăn cắp sách quư của thư viện quốc gia nữa. T́nh trạng tại Hanoi có lẽ cũng tương tự như thế chăng?

4- Lăng Nhân (LN), Hán văn tinh tuư, nxb NAM CHI TÙNG THƯ, năm 1965, Saigon. Tôi xử dụng bản văn của Ông Lê Văn Đặng công bố tại trang www.viethoc.org, (5-http://www.jaist.ac.jp/~dnthao/index_files/@Books/CoCam%20NguyenDu.pdf )

 

Trong sách này có bản dịch xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ 19 của cụ Học Canh, người đầu tiên dịch Cầm Giả Dẫn (một tên khác của bài Long Thành Cầm Giả Ca). Có lẽ dạo ấy giới ca trù Hanoi đă hát suốt bài T́ Bà Hành qua bản nôm của Phan huy Thực không chừng. Cụ Lăng Nhân sinh năm 1907 –mất 2008 tại Anh quốc. V́ người chép sợ bị trả thù nên bỏ chữ Long Thành. Dùng long/thịnh th́ ḷng người không muốn mà dùng long/rồng th́ họ lại sợ bị h́nh phạt thảm khốc.

4* văn bản của LN hay hơn văn bản của Đào Duy Anh nên cụ Học Canh dịch hay hơn cụ Hoàng Tạo.

5-Các nguồn chính có bài “Long Thành Cầm Giả Ca” của Nguyễn Du như đă kể trên tự trung đều giống nhau về nội dung câu chữ được xếp vào hai nhóm chính là ĐDA và Lăng Nhân. Mỗi nguồn chép tay đều có sai sót không bản văn nào gọi là hoàn hảo. Bản tổng hợp của laiquangnam chỉ mới khắc phục được một phần nào đó mà thôi. Việc cân nhắc để có một bản gốc tương đối là điều cần để văn giới có thể tự t́m hiểu thêm “đàng sau gịng chữ nghĩa từ Nguyên tác”. laiquangnam hy vọng rằng lớp sau 1,5 sẽ làm lại chu đáo hơn. Chúng tôi chỉ là sĩ quan “delot” ,bắn khói chỉ điểm mà thôi, lợi ích lâu dài là con cháu của các em. Mọi việc phải rơ ràng trắng đen không nhập nhằng. Đất nước này c̣n có quá nhiều những người đốt đền trong văn giới hay trong giới sử học, tỉ như Trần Quốc Vượng, Bùi Duy Tân, Phan Đăng Quế, Trần Thanh Mại ..vv. nhiều lắm và sao kể hết được .

5*-từ khi Tự Lực Văn Đoàn xuất hiện

6- Ở đây cần lưu ư, trên mạng internet đă có diễn giả giảng qua video rằng “truy hoan” là sex bạo. Trong ngữ nghĩa chính, truy là đuổi theo, hoan là cuộc vui. Truy hoan là đuổi theo một cuộc vui, tỉ như các thính giả trong đêm nghe nhạc này. Nơi diễn ra đêm âm nhạc hát ḥ là ‘Hồ giám, Văn miếu thuộc kinh thành Thăng Long (rồng bay), nơi đây đâu phải là “nhà chứa hay bia ôm ngày nay ”. Một lời giảng đầy xúc phạm đến nhà Tây Sơn và người Đàng Trong, nhất là trong giới tướng lănh có người Quảng Nam đáng kính như vợ chồng danh tướng Trần quang Diệu & Bùi Thị Xuân và nhiều danh sĩ B́nh Định khác. Xuyên tạc Tây Sơn mà dùng nguồn tư liệu từ các giáo sĩ Tây phương đang ủng hộ NguyễnÁnh cơng rắn cắn nhà, với chủ trương dành lấy chính quyền bằng mọi thủ đoạn cho dù bán nước cũng được, th́ Bạn Hiền cũng nên xem lai nguồn gốc dân tộc của ông cha sử gia này và người có lẽ cả bọn họ là những người đă chịu ảnh hưởng từ Tạ chí Đại Trường?

6* từ công cụ là các hư từ , các nhóm từ chức năng tỉ như giới từ. liên từ …

7- Bạn đọc tích Trang Tích bạn sẽ hiểu thế nào là chuyện nước non của Kẻ Sĩ
7* lương phong , “lại nồm “ là thú khoái trời cho các dân tộc Việt Nam kể cả China. Trong 36 thứ khoái trên đời, Kim Thánh Thán cũng xếp “lại nồm” vào hàng thứ nhất. Điều này cho thấy Khúc Cung Phụng của Ta rất tinh tế. Rất tiếc khúc đàn này nay không c̣n v́ người người đánh đàn của không c̣n được nậng niu như thời Tây Sơn .

_Có người ngồi cuối chiếu hoa?,
34_Mặt gầy, da héo tóc đà sang đông!.

Mày phờ phạc, buồn không chải chuốc,
Đệ nhất nhân!, sắc nước một thời,
Khúc xưa rưng rức lệ rơi,
38 Lắng nghe từng tiếng bời bời ḷng ta.
….
Ôi!, một sớm, Tây Sơn mất sạch
Làng đàn ca nay mót một ai!


Và Nguyễn Du than:
Trăm năm một tiếng thở dài,
46-Bồi hồi chuyện cũ lệ ai vơi đầy.

…..

8-Các “Đỉnh cao” trong nước viết quyển Từ điển văn học (bộ mới), xuất bản năm 2004, nêu ư của GS. Nguyễn Lộc, Từ điển văn học (bộ mới), Nxb thế giới, 2004, tr. 1122 như sau:
Long thành cầm giả ca là tác phẩm viết về một con người tài hoa một thời, bây giờ nhan sắc tiều tụy, không c̣n ai chú ư đến nữa. Nhà thơ tỏ ḷng xót thương ngậm ngùi của ḿnh, và nghĩ đến cuộc đời dâu bể...Bài thơ mang một tinh thần nhân đạo cao cả. Nhưng nó có một khía cạnh rất đáng chú ư là chính trong bài này, lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, Nguyễn Du nhắc đến nhà Tây Sơn. Thái độ của ông thế nào thật khó hiểu. Bài thơ không có tí ǵ gọi là thù địch với Tây Sơn, mà trái lại, trong khi thương xót cho số phận của người ca nữ, nhà thơ lại có vẻ như ngậm ngùi cho sự sụp đổ của họ. Phải chăng đến giai đoạn này, do có nhiều thể nghiệm về cuộc sống, cho nên cách nh́n nhận của nhà thơ đối với triều đại trên có thay đổi gần với chân lư hơn? “

 

Bạn hiền t́m được data ǵ qua các ḍng trên ? Thực tế nếu như không có Đoạn Trường Tân Thanh( Kiều ) th́ văn bản này cũng làm cho thi hào Nguyễn Du sống măi với chúng ta bởi bản văn này chứa rất quá nhiều điều “ muốn nói, muốn nhắc nhở cho lớp hậu bối” của tiên sinh .

8* thơ Lư Thương Ẩn
Uyên ương khả tiện đầu câu bạch,
Phi lai phi khứ yên vũ thu
., bài Đại tặng
==> Ḷng ham thích ước được như đôi uyên ương kia t́nh đầu ư hợp bên nhau đến lúc đầu bạc, Được bay tới bay lui trong làn mưa khói của mùa thu.
==> Uyên ương t́nh tận bạc đầu …
Bay đi bay lại mưa mầu khói thu …


Uyên ương là đôi chim trống mái do Tàu Hán tưởng tượng. Song hạc, thuộc loài hồng hạc thiên di là loài chim có thực tế đối với người Việt và đây là loài chung t́nh nhất trong muôn loài. T́nh đẹp là t́nh hanh thông, hài ḷng với sự chọn lựa ban đầu. Ai thích “ Đời chỉ đẹp khi t́nh dang dở “ th́ cứ theo . C̣n theo laiquangnam có lẽ đại đa số dân Việt Nam ta th́ muốn được theo lời thơ của Nguyễn Du . 14-Khúc t́nh ru!, “_ song hạc vờn mây.

9*Hoàn toàn khác đám Hán Vườn như hiện nay. Trong văn giới người Việt sau này dầu họ có Tây học hơn.vậy mà đầu Đội Hán, tâm Vọng Hán, ḷng Khớp Hán lại nặng hơn lớp xưa quá xa. Thật là khó hiểu. KHÓ HIỂU

9-Vài nét về tác giả Học Canh
- Học Canh (cuối thế kỷ XIX) đă dịch 80 ḍng Thu dạ lữ hoài ngâm bằng Hán tự của Nguyễn Văn Cẩm (1874 – 1929) ra 80 ḍng STLB Nôm, ngoài ra chính ông là người đầu tiên dịch bài Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du mà Lăng Nhân PTĐ sao lục.

10-Các từ Ok, you, copy & paste là các từ ngày nay rất thân quen với người Việt chúng ta, xin đừng chấp nhất.

10* – Đàn Nguyễn chính v́ cây đàn Nguyễn đă bị mất, không c̣n ai được thấy nữa, thế nên giáo sư âm nhạc Trần Văn Khê đă nhất mực quy chiếu cây đàn Nguyễn chính là cây đàn Nguyễn Hàm từ bên Tàu. Ông giáo sư có lẽ đă lầm. Nguyên lư sáng tạo Đàn dây bao giờ cũng có ba phần, thùng đàn để âm được cộng hưởng, h́nh dạng thùng tṛn, vuông, tam giác hay chữ nhật mọi dân tộc đều chấp nhận, lẽ nào h́nh tṛn phải là đàn nguyệt của Tàu, là dáng đăng kư độc quyền của Tàu? Phần dây tạo âm thanh, mỗi dân tộc có một chất liệu một kinh nghiệm xử lư khác nhau, độ căng và khoảng cách giữa các gối phụ thuộc vào người lỗ tai người nghệ sĩ. Tai người Việt khác tai người Tàu, đời Lư đă nêu ra lư luận này rồi. Sau khi dành độc lập vào năm 1428, Nguyễn Trăi đă lên tiếng về âm nhạc dân tộc ta. Giáo sư Trần Văn Khê không thấy cây đàn Nguyễn của ta trong bài Long Thành Cầm Giả Ca ra sao mà vội quy chiếu vào cây đàn Nguyễn Hàm của Tàu thật là một “người đốt đền “ điển h́nh đối với tiền nhân ta vậy. Tiền nhân ta đă làm cho quốc gia này tồn tại đến bây giờ, trong khi 100 ḍng bách Việt phía nam China đều bị Tàu Hán tiêu diệt sạch, đó không là luận cứ vững chắc về một sức sống của giống dân Lạc Việt này sao?

 

Đàn Nguyễn là thương hiệu Việt, chắc ǵ là “Nguyễn” này trùng với thương hiệu Tàu “Nguyễn” trong Nguyễn Hàm. Tôi nêu ra vấn đề này để các gíáo viên đứng lớp khi giảng về cây đàn Nguyễn th́ đừng quy chiếu về cây đàn Nguyễn Hàm, trừ khi ai đó trưng ra bằng cớ là cây đàn Nguyễn mà Nguyễn Du dùng trong bài Long Thành Cầm Giả Ca nay vẫn c̣n. OK?

11* http://duyphitho.blogspot.com/2012/05/tho-chu-han-nguyen-du-duy-phi-bien-dich.html?showComment=1394564488964#c1678703912054365605
 

Xin đọc trang của anh DUY PHI, nay ANH đă măn phần. Anh có than thở về các bản dịch sang thơ Quốc Âm bài Long Thành Cầm Giả Ca trong sách giáo khoa. Như nước đổ đầu vịt. Đáng buồn cho một đất nước có quá nhiều, có đến hàng ngàn tiến sĩ Hán Nôm, người đốt đền th́ quá đông.
 

12 -Tạp chí Văn, Nghiên cứu và Phê b́nh văn học, năm thứ nhất, đệ tứ tam cá nguyệt 1967, tập 3
Đặc san Văn – Nghiên cứu và Phê b́nh Văn học, số Đặc biệt về Nguyễn Du
Bạn có thể dễ dàng t́m qua Google search qua công của Talawas .


________________

 

 

 

Giới thiệu Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du

Phần 1 : Hiệu khảo bản văn Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du

Phần 2 : Bản văn chữ Hán đă hiệu khảo và bản dịch sang quốc âm

 

 

www.art2all.net