|
CUỐN 1: HAI CỬA BÊN KHUNG TRỜI
PHẦN THỨ NHẤT Chương III
Hai chiếc xe ca dừng lại trước cửa, và hành khách đi lên pḥng đợi ở tầng trên bằng hai lối cầu thang trái, phải, cũng có cả thang cuốn đang hoạt động. Vào lúc này, mưa bắt đầu nặng hạt. Thời tiết xấu, rất có thể chuyến bay đường dài qua Mỹ hay Châu Âu sẽ bị hoăn trong một vài giờ. Lên khỏi cầu thang, hành khách rẽ trái vào pḥng đợi. Có máy sưởi, nên mọi người cảm thấy ấm áp. Ở lối cửa ngoài những hàng lang vuông góc, dọc lối đi là những cửa hiệu buôn bán , những quán hàng ăn, quán cà phê, và cũng có một hai kiosque bán sách báo, dĩa phim, nhạc. Nhị Lê nh́n đồng hồ tay, trên truyền h́nh cô xướng ngôn viên đang đọc tin tức quốc tế bằng cả tiếng Hoa và tiếng Anh. Pḥng đợi khá rộng, qua cửa kính nh́n ra trông thấy rơ những chiếc phi cơ đang chịu trận dưới mưa. Và đây, cũng là một bến đậu cho các loại phi cơ lớn. Hành lư mang đi đă được kư gửi. Nhị Lê chỉ giữ cái ba lô và túi xách đeo vai, gọn nhẹ. Ngồi nghỉ chân một lúc , Nhị Lê đứng lên , bước ra phía ngoài đi dạo xem các cửa hàng. Nàng cảm thấy dễ chịu, vui mắt nh́n đèn sáng ở các cửa hiệu có nhiều màu sắc. Sau mấy ṿng đi quanh, Nhị Lê vào quán cà phê. Nàng ngồi ở chiếc bàn bên một góc hẹp nh́n ra, bên kia có một cửa hiệu chuyên bán thuốc lá và rượu. -Có lẽ, ḿnh nên mua vài cây thuốc cho anh Hiếu và Thạnh. Một ly cà phê crème và một chiếc bánh pâté chaud c̣n nóng hổi. Nhị Lê uống cà phê, vừa ăn bánh bằng chiếc nĩa nhựa. Nhị Lê ra đi một ḿnh, không có gặp một ai quen cả. Ngồi đây, nàng h́nh dung ra nơi chốn vùng Little Sài G̣n đó là thủ đô tị nạn của người Việt. Thư của Thạnh và Hiếu cũng mô tả về các khu phố trong vùng này, nên chi, dù chưa đến nơi Nhị Lê vẫn h́nh dung được sinh hoạt thường ngày của cộng đồng của người Việt đang diễn ra trước mắt . Năm đầu tiên từ trại tị nạn mới qua, hai bố con Thạnh ở một khu tập thể được cha xứ nhà thờ Tin Lành bảo trợ. Trong mấy tuần lễ đầu , những chuyến xe riêng của nhà thờ chở người tị nạn tới sở xă hội ở các thành phố Santa Ana, Garden Grove, Westminster, Costa Mesa để khai báo và làm thủ tục xin trợ cấp. Lúc ấy, Thạnh nhận được ngân phiếu 600 và 200 tem phiếu mua thực phẩm. Với số tiền mới nhận, Thạnh và các gia đ́nh khác c̣n được hội WORLD RELIEF cho 250 đồng tiền mặt để mua sắm. Có món tiền trợ cấp, anh mở một account ở nhà băng Well Fargo, c̣n tem phiếu, anh mua 40 đồng, trong đó có cả một két bia lạnh budweiser loại nhẹ, giá rẻ. Nhưng chỉ ở free tiền nhà một tháng đầu thôi, qua tháng sau, người nào lo tự túc chỗ ăn ở cho cá nhân hay gia đ́nh. Santa Ana là thành phố của cộng đồng người nói tiếng Hispanic. Người Việt ở trong thành phố này không có nhiều như các thành phố Westminster, Garden Grove, Fountain Valley. Nhưng, nhà thuê ở đây rẻ hơn đâu hết. Little Saigon có đến ba tờ nhật báo, và báo nào cũng có đăng mục rao vặt giúp t́m kiếm việc làm, mua xe cũ, mướn nhà ở rất dễ dàng. Trước khi rời khỏi khu tập thể do nhà thờ bảo trợ, ngày nào Thạnh cũng đọc báo Người Việt, chú ư mục nhà cho thuê hay share pḥng, và may mắn t́m được chỗ ở mới có lối đi riêng, bao rác và nước, tiền gaz, điện mỗi tháng phụ trả bốn mươi đồng cho chủ nhà. Nơi này, gần trường học tiện cho thằng Phin. Hai cha con rời nhà trong buổi sáng, buổi chiều khoảng bốn giờ mới cùng có mặt ở nhà. Phin đến trường lúc 8 giờ, ăn sáng miễn phí , đến 8.30 vào lớp. 12 giờ ăn trưa, một giờ vào lớp học đến ba giờ. Phin không về nhà, ở lại trường chơi bóng rổ, hay đá banh với các bạn cùng lớp. Phin có khiếu cả thể thao và âm nhạc, thích chơi kèn harmonica. Thạnh rời nhà, sau Phin nửa tiếng. Buổi sáng thức dậy làm cà phê xong nấu cơm ở nồi điện. Trạm xe buưt cách nhà chỉ vài trăm mét, Thạnh đi bộ ra đứng chờ ở trạm chừng mười phút xe tới. Trường GAIN dạy Anh ngữ cho các lớp ESL, có đông học viên, mỗi khóa học bốn tháng. Hết khóa học, trường giới thiệu đến các công ty để các học viên t́m việc. Khi lên xe buưt, Thạnh cảm thấy có niềm vui nhỏ là được thấy quang cảnh sinh hoạt các khu phố trên đường xe buưt chạy ngang qua, hay lúc ở các trạm ngừng. Thạnh c̣n luôn chú tâm về tên những con đường , ghi nhận để đến lúc sắm được chiếc xe th́ ḿnh dễ làm quen với các lộ tŕnh. Con đường từ nhà đến trường học chương tŕnh GAIN đă quá quen thuộc với Thạnh, qua từng ngă ba, ngă tư, nhà ở, cửa hiệu buôn bán, và bóng dáng những hàng cây. Thạnh rất thích sáng tác thơ văn, có nhiều cảm xúc, nhưng anh lại không biết cách dàn trải theo những trang toát ra từ cảm hứng. Tŕnh độ Anh ngữ, sau buổi trắc nghiệm được Thạnh xếp vào lớp B. Thạnh học Anh ngữ, viết và đọc th́ khá, nhưng đàm thoại giao tiếp chỉ mức trung b́nh. Trường GAIN nằm gần Sở Xă Hội thành phố Santa Ana. Santa Ana có một bến lớn, ở đây dành cho nhà ga tàu điện và xe buưt chạy các tuyến đường bốn hướng trong vùng quận Cam. Thạnh chỉ có phương tiện xe buưt di chuyển, giá vé cho hành khách thường hai đồng trọn ngày, c̣n những người như Thạnh được cấp một tấm thẻ miễn phí dùng suốt cả năm. Sau buổi học, Thạnh không về nhà ngay mà thường ghé thư viện, trên đường xe buưt chạy ngang, ngừng xuống, anh vào đó t́m kiếm sách báo bằng tiếng Việt đọc cho qua giờ. Cho đến lúc này, Thạnh vẫn không có cảm giác bị tan biến qua những suy nghĩ của anh về cộng đồng người Việt ở trên đất Mỹ nói chung mà riêng với quận Cam ước chừng chưa đến hai trăm ngàn dân. Vậy mà, một vùng đất c̣n quá nông hẹp, rải rác vài ba thành phố mà người Việt xây dựng nên được môt thành phố Saigon nhỏ, một thủ đô tị nạn thật bề thế. Gần như, Thạnh đă trang bị đủ hết cho ḿnh kiến thức một người dân tị nạn với những thông tin mà anh đă gắn kết với cuộc đời. Không ngạc nhiên sao khi ngôn ngữ tiếng Việt được dùng ở các cơ quan bên cạnh các cộng đồng khác. Những khu chợ, cửa hàng buôn bán, các dịch vụ và những quán ăn, quán cà phê, mỗi thành phố đều có năm đến mười địa điểm dễ ghi nhớ với những băi đậu xe rộng răi, khang trang. Và hơn hết, là văn hóa quê hương vừa tạo nên một phong cách và thu hút rất là đông người Việt ham đọc, hiếu học. Nhật báo, tuần báo, tạp chí, xuất hiện đều đặn ở các nhà sách, đến các khu thương mại cũng có để cho đồng hương dễ mua đọc. Và, một sự kiện văn hóa đáng ghi nhận và trân quư, đó là một số nhà xuất bản tư nhân đă cho in lại gần như toàn bộ các tác phẩm văn học miền Nam nương vào số lượng sách báo c̣n lưu giữ ở các thư viện Mỹ, hay của các cá nhân, hoặc các gia đ́nh đă mang theo được trong chuyến đi xuống tàu vào những ngày cuối 28,29,30 tháng tư Sài G̣n thất thủ. Những nhà văn, các nghệ sĩ tên tuổi c̣n lại ở Việt Nam không mấy nhiều, hầu hết ra đi từ năm 1975, rồi những đợt vượt biên, rồi bảo lănh, tất cả, cùng tập trung về tiểu bang Cali, nhất là vùng quận Cam, nhiều rất nhiều. Những tác phẩm cũ được in lại, những bài hát, cuộn băng cũng đều được sao chép để phổ biến trong cộng đồng. Có thư viện gần nhà, có sách báo cũ miền Nam được t́m thấy, được sống lại, Thạnh có cảm tưởng như quê hương vẫn tồn tại với lương tri của chính ḿnh. Và, bao giờ cũng vậy, mỗi khi đọc những truyện ngắn, hay tiểu thuyết, h́nh ảnh, bóng dáng các nhân vật nữ qua cách tác giả xây dựng từ ngôn ngữ hay tính cách luôn làm cho Thạnh h́nh dung, liên tưởng đến Nhị Lê. Và, cũng trong trí tưởng tượng hiện lên h́nh ảnh đó, anh nhớ Nhị Lê vô cùng. Sinh quán ở Quảng Ngăi, học hết cấp hai, anh theo gia đ́nh ra Đà Nẵng, rồi học ở Huế cho đến khi tốt nghiệp Đại Học ngành sư phạm ban Toán. Mùa hè 72, ra trường nhận nhiệm sở ở trường công lập tỉnh Pleiku. Đây là một tỉnh miền núi đất đỏ, cách Kontum chừng bốn chục cây số, và xuống vùng duyên hải thị xă gần nhất là Quy Nhơn. Khi Thạnh lên đây, t́nh h́nh chiến sự rất sôi bỏng. Ngày đêm thị trấn Kontum luôn diễn ra những trận đánh khốc liệt. Địch quân áp sát các pḥng tuyến quanh thị trấn bằng bộ binh và xe tăng, các loại súng cối lớn. Bên quân đội VNCH giải tỏa bằng các đơn vị thiện chiến gồm nhảy dù, Biệt động quân, Sư đoàn chủ lực 23 , mỗi ngày đêm Không quân thuộc Sư đoàn 6 phối hợp với B52 của Mỹ thực hiện những trận không tập dữ dội , và trận chiến kéo dài hơn ba mươi ngày mới chấm dứt. Trường công lập nằm cách trung tâm thị xă hơn một cây số. Thạnh ở nhà thuê một căn gác rộng ngay trong khu dinh điền. Nơi đây, giá thuê pḥng rẻ, và tiện lợi cho việc gặp gỡ các bằng hữu, hay người đồng hương. Cà phê, thuốc lá, không thể thiếu. Nhờ đồng lương khá ổn định với chỉ số 450 , nên cuộc sống của Thạnh rất nhẹ nhàng, không lo lắng. Thạnh học ngành Toán, anh phụ trách dạy môn Toán từ các lớp mười đến 12. Ở lớp mười, Thạnh dạy môn Đại số, lớp 11, hai môn Lượng Giác và H́nh Học, c̣n lớp 12 môn xác suất, thống kê. Số sinh viên ban Toán của lớp Thạnh có mười người, Thạnh đậu hạng thứ 8 nên không thể chọn trường ở các thành phố thuộc vùng duyên hải, mà phải lên cao nguyên, hoặc dạy tại các trường quận. Thế nhưng, về phương pháp dạy, Thạnh rất thành công trong cách giảng phần giáo khoa và hướng dẫn làm bài tập. Thời gian ra trường cho đến khi cuộc chiến miền Nam kết thúc , tính ra, vỏn vẹn Thạnh mới được hơn ba năm vào nghề. Nhưng cũng không ngờ được, chính nơi xa xôi của miền núi này, Thạnh đă có mối thâm t́nh, cuộc sống bám víu lấy, rồi một ngày, năm ấy, anh được trời thương cho anh gặp, làm quen với Nhị Lê, rồi lấy nàng làm vợ. Chuyện duyên số đă đành, nhưng cả hai cùng có sự may mắn là người cũ của miền Nam. Những ngày tha hương, Thạnh sống với ước mong chờ gặp lại, cùng Nhị Lê đoàn tụ, th́ không khí ngồi trong thư viện đọc sách báo anh luôn có cảm tưởng như Nhị Lê cũng đang ở bên ḿnh. Nhị Lê không chỉ được h́nh dung, liên tưởng qua những nữ nhân vật trong tiểu thuyết thôi, mà nàng c̣n hiện lên một khuôn mặt ngoài thiên nhiên , trong nắng mưa, núi đồi, đồng cỏ, cây cầu, con sông hay những hàng cây trải dài qua mỗi con đường trên từng khu phố. Thư viện Newhope nằm trên đại lộ Mcfadden cách khu phố Thạnh ở chừng quá một dặm. Bên ngoài, có sân rộng, trồng nhiều loại cây lớn phủ bóng im. Bên trong ngăn nhiều dăy, có đặt cả bàn dài, bàn vuông, và phải để ư mới biết, mới thấy là có một gian phục vụ với hai cái bàn dài trên đó đặt hai b́nh cà phê, khăn giấy, sữa bột, đường, nước soda, để ai cũng có thể dùng khi đến thư viện. Cà phê hiệu dolger uống được không tệ, loại cà phê này không đậm đặc như cà phê VN hay starbucks. Santa Ana là một thành phố có đông cư dân người nói tiếng Hispanic, nên chi, trong thư viện này, ngoài sách tiếng Anh ra lượng sách báo bằng tiếng Hispanic cũng khá nhiều. Nơi dăy bàn mỗi khi Thạnh đến là dăy có hai kệ sách tiếng Việt. Ngày đầu tiên, t́m ra được chỗ này, trong góc khuất, Thạnh mừng lắm. Chứ vào một thư viện Mỹ, mà chỉ có sách tiếng Anh khi khả năng chỉ ở tŕnh độ thấp ESL làm sao đọc nổi sách nghiên cứu hay tiểu thuyết của người bản xứ ; mà nếu không đọc nổi th́ ngồi trong thư viện nhiều giờ cũng dễ chán. Nên chi, khám phá một khu vực trong thư viện có sách tiếng Việt, Thạnh rất vui, rất mừng coi như mỗi tác phẩm là một điểm tựa cho văn hóa dân tộc và tinh thần cá nhân. Hôm ấy, Thạnh xuống trạm xe buưt cách xa nhà đến ba ngă tư , bất ngờ, chính nơi này có một bảng hiệu lớn là thư viện của thành phố. Ngay lúc ấy, Thạnh thấy vui, anh liền theo một vài người nữa vào cửa chính. Và, không ngờ được, không khí thư viện như là một niềm tin thầm lặng. Yên ắng, cởi mở, lan tỏa và không gây ồn ào. Thế rồi, thế giới sách báo trước mắt đă dẫn Thạnh đi qua từng dăy bàn, từng khu vực, từng dăy kệ, mỗi một nơi đều trưng bày những loại sách lớn nhỏ, những loại sách b́a cứng, b́a giấy. Sau cùng, Thạnh chợt vô cùng cảm kích khi đứng trước các kệ sách bằng tiếng Việt. Nhà ở, tiền trợ cấp, phương tiện đi lại, cuộc sống vật chất qua từng ngày so với bên nhà, Thạnh cảm thấy nhu cầu tạm đủ. Nhưng ước vọng, dĩ nhiên c̣n nhiều, không hẳn ngay tầm tay, nhưng cũng không quá xa vời vợi. Thạnh không ước ao mua nhà, mà trước nhất, quan trọng hơn hết là học lái xe, và mua xe cũ. Không cần một ai khuyên bảo, khi ngồi trên những chuyến xe buưt di chuyển hàng ngày Thạnh nhận thức ngay là ḿnh phải học, phải biết lái xe, sau đó cần một chiếc xe. Người ta cho bạn một con cá, bạn chỉ ăn được một ngày, nhưng người ta chỉ cho bạn cách đi câu cá, bạn sẽ có cá ăn suốt cả đời. Ở trên trường GAIN dạy Anh ngữ ESL luôn có những câu mẫu như vậy để khuyến khích các học viên t́m kiếm việc làm, mưu sinh. DMV là tên viết tắt của Nha Lộ Vận. Ở đó, có sách báo hướng dẫn người học lái xe thi bằng viết, và những ai đậu xong bằng viết, th́ cũng đến đây thi thực hành. Thạnh chưa thể lái xe, một phần chưa có xe, phần khác nữa anh không muốn học sớm v́ chưa được thuận tiện. Nhưng, ở thư viện New Hope Thạnh thường lui tới, cũng có một số sách học lái xe được DMV cung cấp. Không chỉ sách hướng dẫn thi bằng viết, mà c̣n có sách sửa chữa xe nữa. Nhân viên thư viện New Hope, hầu hết là người Mễ, nhưng họ nói tiếng Anh rất giỏi. Và, Thạnh cũng biết vậy nên không nghĩ ngợi, thắc mắc ǵ cả. Bất ngờ , hôm đó chiều thứ sáu, sau khi tan lớp học trên chuyến xe buưt về, ngừng ở trạm trước thư viện Thạnh ghé vào anh ngạc nhiên thấy một nữ nhân viên người Việt rơ nét, không sợ lầm. Thạnh tới ngày bàn làm việc của văn pḥng ở gần lối cửa ra vào. Mới gặp chào hỏi nhau bằng nụ cười dù chưa biết tên ǵ cả. Cô Melly Nguyễn, cũng bằng độ tuổi cô Thủy cán sự xă hội. Chỉ khác, cô Melly người Bắc và giọng nói nghe sắc, nhưng ấm áp. Thạnh cảm thấy được gần gũi với đồng hương, hiểu nhau dễ dàng trong sự trao đổi nhau bằng tiếng Việt. Ở thư viện New Hope không chỉ có riêng một ḿnh cô Melly mà ba người khác nữa, một nam ba nữ, cùng làm việc bán thời gian. Mỗi người, một công việc. Anh Huy, làm kho sách, cô Vân dạy kèm học sinh học thêm giờ, cô Hương và cô Melly thay nhau về công việc hành chánh. Sau khi ghi tên Thạnh vào cuốn sổ lớn, cô Melly đưa cho Thạnh cái thẻ của thư viện, dùng hàng năm. Xong cô nói: -Mỗi tuần từ sáng thứ bảy qua Chủ nhật có xe của thư viện đến đậu ở trước cổng trường Russell, ông có thể tới đó mượn sách. Thạnh hỏi lại: -Thứ bảy, thư viện có mở cửa không? -Có. Chủ nhật đóng cửa. -Ở xe của thư viện có sách báo tiếng Việt không ? -Có chứ. Nhưng không nhiều lắm bằng đây. Một giọng thân t́nh với cô Melly Nguyễn, Thạnh nói: -Không biết ở các tiểu bang khác sao. Nơi đây, có đồng hương người Việt nên ḿnh cảm thấy không lạc lơng, mà c̣n có được cái t́nh nghĩa tha hương. -Ông qua Mỹ lâu chưa ? -Tôi vượt biên, ở Mă Lai mới qua đây hai tháng. Bỗng cô Melly hỏi Thạnh: -Ông thích uống cà phê không ? Thạnh cười, hỏi lại: -Cô đăi. Melly nói: -Ở đây có sẵn cả. Cô Melly bảo Thạnh đi theo cô ra pḥng giải khát phía sau. Bên cái bàn dài có chiếc tủ lạnh lớn. Trên bàn có hai b́nh cà phê điện. Tuy không nhiều nhưng có đủ thứ cần cho cà phê như đường, sữa bột, ly nhựa vác cả nước lọc, nước ngọt. Thường buổi sáng có thêm bánh donuts. Cô Melly Nguyễn nói: -Những thứ này được sở xă hội cung cấp. Ngồi đối diện với nhau ở cái bàn vuông lớn, hai người tṛ chuyện, vừa thưởng thức ly cà phê và bột kem sữa. Cô Melly không biết rằng Thạnh từng là giáo viên cấp ba đă dạy học trước và cả sau năm 1975, nhưng riêng cô , cũng đă có sự hiểu biết tường tận khi tŕnh bày về cách tổ chức của thư viện, những dạng sách phân loại, và nêu tên những nhà văn nổi tiếng của Mỹ đă từng được giải thưởng văn học thế giới. Một thoáng nhẹ nhàng, đôi khi, Thạnh thoáng nh́n gương mặt cô Melly. Cô Melly có sự chừng mực trong những lời giải thích, và cũng giống cô Thủy, không đẹp lắm nhưng có nét duyên. Từ chuyện sách báo ở thư viện, cô Melly nói đến người Mỹ, và đời sống của họ. Khi nghe phần này, Thạnh trở nên chăm chú. Cô Melly nói: -Người Mỹ có tinh thần, tư tưởng xă hội rất cao đáng cho ḿnh noi theo. Khác với người Việt, cảm thấy sự an phận là hạnh phúc, người Mỹ, luôn năng động, biến cải và óc phiêu lưu nữa. Người Mỹ thích được giúp đỡ người khác mà không đ̣i hỏi sự đáp trả. Và, mỗi con người của họ, hầu như có lương tâm xă hội lên tiếng. Tustin là một thành phố nằm về phía Đông của quận hạt Cam. Thành phố này có nhiều dăy phố cổ, và cũng có nhiều khuôn viên nhà thờ. Mỗi nhà thờ, ngoài việc họp lễ hàng tuần ra c̣n là nơi trường học dành cho nhà trẻ. Bà Hane, làm việc ở chương tŕnh giáo dục cộng đồng, có nhà ở gần nhà thờ Tin Lành và cũng là nơi có khu vực nhà trẻ, vào mỗi tuần, đôi khi hai ba, bà thường đem dụng cụ làm vườn, tới nơi này, làm việc tỉa cây, dọn vườn và trồng cây. Cứ tưởng, bà là nhân viên của nhà thờ, nhưng không, bà làm việc tự nguyện khi muốn cho khu vườn là nơi giải trí, ngoạn cảnh luôn quang đăng. Ông Nghiêm, một người Việt hiện đang làm việc ở Công ty Goodwill, đă kể lại cho cô Melly nghe về một người Mỹ, ông Brea, một hôm đó đem ít thứ quần áo và đồ chơi điện tử đến trạm nhận hàng mà ông Nghiêm đang làm việc. Lúc đó, đă trưa, sau khi cho xong và nhận receipt, ông Brea hỏi ông Nghiêm thích ăn loại bánh và dùng nước soda thứ nào. Nghe hỏi vậy, ông Nghiêm ngạc nhiên, ngần ngại nói ông đă có nước uống và phần ăn đem theo. Tưởng đáp lời như vậy là xong xuôi, nhưng không ngờ được, chừng nửa giờ sau, ông Brea trở lại mang cho người công nhân Goodwill một ly nước coca loại lớn và một gói giấy có bánh Mcdonald, ketchup, và mấy tệp khăn giấy màu vàng. Hết sức lạ lùng, ông Nghiêm nói lời cảm ơn, c̣n ông Brea cho ông Nghiêm biết nhà ông ở đầu góc phố này và gần ngay cầu xa lộ 22. Với một giọng vừa thân t́nh, vừa giải thích, trong mỗi chuyện kể của cô Melly, đă cho Thạnh hiểu ít nhiều về tính cách người Mỹ trong cuộc sống thường ngày và kể cả trong sự giao tế. Sau lần gặp đầu tiên, Thạnh không thường xuyên nhưng vẫn có lúc gặp lại cô Melly. Hôm ấy, vừa kết thúc khóa học bốn tháng, Thạnh gặp cô Melly, hỏi về cách thức phỏng vấn khi xin việc làm và hỏi về những công ty mà khả năng của Thạnh xin làm được. Ngay trong buổi gặp đó, cô Melly đă giới thiệu cho Thạnh tới hăng GT xin việc làm. Người bạn rất thân với cô Melly làm ở đó là một người Mỹ gốc Tây Ban Nha , vừa đẹp, vừa có chức vụ manager. Và, Thạnh thật may mắn, là với thư giới thiệu của Melly, đến gặp cô Laura manager, trong cuộc phỏng vấn hỏi Thạnh một số câu, xong nhận cho làm ngay.
Mới ngày đó, thời gian qua nhanh. Vào làm ở hăng xe
đạp GT, Thạnh phụ trách đóng hàng . Nhưng hai năm sau, hăng GT dời sang
tiểu bang khác, ngay trong t́nh cảnh như vậy Thạnh đi xin việc ở một
Công ty bán hàng thực phẩm Circle K. ở thành phố Garden Grove.
Nguyễn Chí Kham
Xem tiếp Chương 4
|