NGUYỄN CHÍ KHAM

 

 

 

VÙNG ĐẤT MỚI

 

CUỐN 1: HAI CỬA BÊN KHUNG TRỜI

 

PHẦN THỨ HAI

Chương I

 

 

          Có mấy ai nghĩ được rằng, sau cơn băo nạn chiến tranh cuốn sạch mất miền Nam, những lớp người tị nạn trên đất Mỹ từ năm 1975, với cuộc sống c̣n bơ vơ đơn độc ở xứ người, nỗi nhớ quê hương đứt từng đoạn ruột, vậy mà, chính những lớp người này đă xây dựng nên cho quê hương đổi mới của ḿnh một cộng đồng với cả tâm t́nh, tiếng nói, sự đoàn kết, ngày càng thêm vững chắc.

Người ta luôn nhớ măi về phố Việt buổi ban đầu, khởi sự hai bên con đường c̣n trống vắng, hoang sơ, trải dài và rộng những băi đất trồng dâu, vậy mà, cũng chính từ con đường này người Việt xây dựng nên được không chỉ là một thành phố thôi, mà c̣n cả một khu thị tứ và đặt thành tên Little Saigon.

Phước Lộc Thọ là một ṭa nhà lớn rộng nằm ngay trung tâm của thị tứ. Bolsa, con phố chính đi qua ṭa nhà này. Hai bên đường, mỗi bên đều có nhà ở, chợ, các quán ăn, quán cà phê, và rất nhiều văn pḥng dịch vụ và các tổ hợp y tế.

Nhà ga chính của xe buưt và tàu điện tramway nằm ở thành phố Santa Ana. Hai chuyến xe 64 và 66 cùng chạy một lộ tŕnh đi qua khu thị tứ Sài G̣n, mỗi chuyến cách nhau mười phút, lúc tới Sài G̣n thường đỗ khách ở hai trạm nằm bên cạnh ngă tư Bushard và Magnolia. Hai nơi này, khách xuống hầu hết là người Việt. Xe buưt là phương tiện dễ dàng và tiền vé cũng rất rẻ. Đi xe buưt, cũng c̣n cảm nhận trong hồi nhớ về Sài G̣n, chợ Bến Thành, những chuyến xe buưt sớm chiều đi qua nhiều ngả đường trong đô thị và ra ngoại thành. Và, khi bạn nhớ Sài G̣n, dậy lên không khí rộn ràng, xô bồ, và nhớ những ngày mưa khi mùa mưa miền Nam trở về.

Bao nhiêu đồng hương ở các tiểu bang xa cũng có một khu sinh hoạt riêng cho người Việt, nhưng ai cũng nói, không đâu vui bằng đây. Little Saigon là thủ đô, c̣n các nơi khác là tỉnh lẻ thôi, không so sánh được đâu.

Quả thực, không có nơi nào vui, thoải mái như ở vùng đất này. Về khí hậu chung, tuy ít mưa, nhưng mát mẻ, thoáng đăng, nhà ở, đường sá rộng răi, thành phố nào cũng có vài ba siêu thị, các mall lớn nhỏ. Và, trong toàn cả khu vực có tên Sài G̣n, người Việt chỉ nghe, hay chuyện tṛ với nhau bằng một thứ tiếng Việt vừa thuần, vừa chuẩn. Người bản xứ, hay các sắc tộc khác, họ có cái văn hóa rất khác với người Việt, kể đến cả sắc dân Á Châu như người Hoa, người Ấn Độ, người Đại Hàn, người Nhật. Những sắc dân này cũng có cộng đồng, nhưng tính cách sinh hoạt của họ không mấy được các giới truyền thông quan tâm đến như cộng đồng người Việt. Người Việt, không phải cố ư nêu ra những cái nét hay trong mọi sinh hoạt để tự khen, mà thực tế, văn hóa Việt vừa đa dạng, vừa có bản sắc ḥa hợp rất dễ thu hút các sắc dân khác. Văn hóa ẩm thực, riêng tại khu Sài G̣n, bất cứ thành phố, thị xă nào, các quán xá, nhà hàng ăn, không chỉ có khách là người Việt, mà nhiều khách của các sắc dân khác nữa. Cũng là bánh ḿ sandwich, nhưng bánh ḿ ở các tiệm bánh Việt vừa ngon, chất lượng, và giá rẻ hơn so với các chợ, và các cửa hàng bánh của người bản xứ hay các sắc dân khác.

Phở, món ăn độc đáo cũng làm cho người Hoa, người Nhật, người Mỹ, người Mễ rất thích, và nhờ ăn món này, họ biết cách cầm đũa, dùng muỗng, trong lúc ăn cũng biết nữa bỏ thêm rau, gia vị tương ớt, để làm cho bát phở được ngon hơn. Chả gị (egg roll) cũng là món ăn được người Mễ rất là thích. Người Mễ cũng như nhiều sắc dân khác, kể cả dân bản xứ, từ khi những thứ hàng ăn Việt được giới thiệu trở nên phổ biến, họ lần t́m đến, ngày càng đông, dần dần làm quen với văn hóa không chỉ món ăn ngon thôi mà c̣n ngôn ngữ Việt nữa. Nói tiếng Việt, dù là ngôn ngữ đơn âm, nhưng không phải dễ. Người bản xứ ở đây, khi tiếp xúc với người Việt, họ thích nói tiếng Việt, và khi nói được, nói đúng, họ thích lắm. Người Việt rất thiện cảm, và thường hướng dẫn nhiều cách để cho họ vui và nói được tiếng Việt của dân tộc ḿnh. Ngay đến cả các em nhỏ của các gia đ́nh người Việt, đến trường Mỹ học tiếng Anh, nhưng về nhà, trong sinh hoạt đều nói tiếng Việt với cha mẹ và người thân.

Trừ người bản xứ, cũng như nhiều sắc dân khác di cư đến sống ở xứ Mỹ, ngoài một số ít là khá giả, hoặc thành phần trung lưu, người Việt phần đông cũng thuộc thành phần giới hạn trong mức lợi tức thấp, hầu hết ở nhà thuê, nếu sở hữu được một căn nhà trị giá vài trăm ngàn, đến nửa triệu th́ tiền nợ vay ngân hàng trả cũng đến hai mươi năm mới xong. Nhưng, bỏ qua các mối lo thực tế này, người Việt vốn có và quen cái bản sắc đẹp về văn hóa, nên họ nh́n theo cuộc sống thường ngày, luôn thật hài ḥa, lạc quan. Người Việt coi tất cả các sinh hoạt phù hợp với văn hóa, với tâm hồn dân tộc mới đích thị là sống.

Vào hai ngày cuối tuần, các thành phố, thị xă trong khu thị tứ Sài G̣n, nơi nào cũng rất vui như lễ hội. Buổi sáng, các gia đ́nh cùng lên xe đến các nhà hàng ăn uống các món ăn ngon và đặc biệt. Vào lối mười giờ, th́ hầu như các quán cà phê, băi đậu xe kín chỗ, và các dăy bàn trong ngoài, cũng không c̣n ghế trống. Những nơi này là nơi gặp mặt của dân HO, dân làm áp phe, và đáng chú ư hơn cả là dân nhà báo, nhà văn, và thành phần văn nghệ sĩ tŕnh diễn.

Thành phần HO đến Mỹ muộn màng, ít năm trở lại đây thôi, nhưng thành phần này mới là cột trụ vững chắc nhất của cộng đồng. Gặp nhau, anh em HO luôn hết sức niềm nở, thân t́nh, không kể lạ quen, biết là HO rồi, th́ hỏi nhau về các trại tù ở trong Nam, ngoài Bắc. Nhắc lại những ngày cải tạo, làm sao mà quên được sự đói ăn thường trực, thiếu mặc từng mùa, mỗi một thứ là niềm tủi cực, xót đau, nhưng lúc này mà kể lại, th́ lấy làm vui để nghe chuyện tâm t́nh với những củ khoai, củ sắn, chén bo bo, chén cơm trắng, miếng thịt lợn, thịt trâu, và một ngày được đại táo vào dịp Tết hay lễ Quốc Khánh hơn là nói ra trong đó với nỗi hận thù. Bao nhiêu chuyện tù cải tạo đến nay cũng đă h́nh thành nên những cuốn sách hồi kư, đọc và hồi nhớ thật chân thành, cảm động. Hết chuyện tù rồi, th́ dân HO lại nói chuyện về đời quân ngũ và thời chinh chiến. Tên các quân trường đào tạo các SVSQ Đà Lạt, Thủ Đức, Không Quân, Hải Quân được nhắc tới là cảm thấy ḿnh hănh diện. Mùa hè 1972, đỏ lửa. An Lộc, Kontum, Quảng Trị là những nơi diễn ra những trận chiến khốc liệt kéo dài nhiều ngày mà phía quân đội VNCH đă có những tiểu đoàn, lữ đoàn, trung đoàn, sư đoàn thiện chiến : Dù, Thủy quân lục chiến, Biệt động quân, Bộ Binh trên các mặt trận đă đánh tan những sư đoàn và hủy diệt hàng trăm xe tăng của quân CSBV. Thỉnh thoảng, ở các quán cà phê, có những người lính đă mặc lại quân phục của quân binh chủng ḿnh phục vụ để nhớ lại một thời xa xưa với h́nh ảnh người chiến sĩ hào hùng oanh liệt.

Giới áp phe đến những nơi này, có nhưng không nhiều. Thường, nghe họ nói chuyện về địa ốc, thành lập công ty, casino, và trường đua ngựa. Và thành phần sau nữa là giới văn nghệ, ở những nơi này, cũng xuất hiện rất nhiều khuôn mặt tên tuổi. Cuối tháng tám năm 1993, ngành truyền thông cộng đồng đă bắt đầu thực hiện mở một đài phát thanh lấy tên Little Saigon. Rất mau chóng, đài được đồng hương đón nhận và góp phần đăng quảng cáo rất dồi dào không thua kém ǵ các nhật báo, tuần báo. Hồi nhớ lại buổi ban đầu lưu lạc, trên khu đất dựng nên thị tứ Little Saigon c̣n thưa vắng, nhật báo Người Việt xuất hiện. Người tiên phong là anh Đỗ Ngọc Yến. Anh cựu sinh viên Văn Khoa và cũng là con chim đầu trong nhóm Thanh Niên Phụng Sự Xă Hội. Những số đầu tiên của Người Việt là tuần báo, rồi một tay anh Yến quy tụ các bằng hữu, nhà báo, nhà văn, dần xây dựng một tờ nhật báo chính thức đại diện cho tiếng nói và tất cả mọi sinh hoạt của cộng đồng. Và, cũng chính sự ra đời của Người Việt, đă là một động lực, một nguồn hy vọng, làm dấy lên nhiều phong trào sinh hoạt truyền thông về báo chí, về văn học ngày thêm khởi sắc. Tiếp đà Người Việt có Việt Báo, rồi Viễn Đông, báo nào, các phần quảng cáo cũng đầy kín hết các trang trong. Khi cần có báo đọc, người đồng hương không cần tới ṭa soạn để mua, mà tại các thùng báo, hay ở những quầy hàng ở chợ, đều có với giá 25 xu mỗi tờ. Không chỉ báo ngày, mà báo tuần cũng có ở đây. Báo tuần th́ chuyên về thời trang, và quảng cáo. Về văn học, th́ có đến bốn tạp chí đă gây lại một cách đáng ngạc nhiên về uy tín không thua kém ǵ với các tạp chí ở miền Nam trước 1975. Có tạp chí Văn Học do nhà văn Vơ Phiến làm chủ bút, rồi sau giao lại cho nhà văn Nguyễn Mộng Giác vượt biên đến Mỹ năm 1981. Có tạp chí Văn do nhà văn Mai Thảo chủ biên. Có tờ Hợp Lưu của nhà văn Khánh Trường, một chiến sĩ thuộc binh chủng nhảy dù trong quân đội VNCH đứng ra đảm nhận. Tạp chí này là sự nối kết giao lưu cho hai ḍng văn học trong và ngoài nước. Và, cùng với năm đầu tiên đến với chương tŕnh HO, cơ sở nhật báo Người Việt cho ra mắt tạp chí Thế Kỷ 21. Không ai khỏi ngạc nhiên, dân số các thị xă quanh thị xă Little Saigon chưa đến hai trăm ngàn, mà về mặt truyền thông, đă có một đài phát thanh, ba tờ nhật báo, nhiều tờ tuần báo giao dịch, và bốn tạp chí văn học rất có uy tín. Những sáng tác thơ truyện và biên khảo trong các tạp chí này xuất hiện tên tuổi của các lớp nhà văn thuộc nhiều thế hệ cũ và mới. Số lượng báo phát hành 1000 bản, độc giả mua lẻ ở các hiệu sách, mua dài hạn gởi ngân phiếu cho ṭa soạn, và những tạp chí này không chỉ phát hành trong vùng quận Cam, hay cả tiểu bang California, mà c̣n tới những tiểu bang khắp hai vùng Đông Tây trong nước Mỹ, xa hơn nữa qua Châu Âu.

 

Nhị Lê chọn mua tạp chí Văn Học, ra vào ngày đầu tháng. Ở tạp chí này, phần nghiên cứu văn học rất chuyên sâu. Những bài tiểu luận về thơ và tiểu thuyết được các giáo sư từng dạy ở trường Văn Khoa Sài G̣n biên soạn, giúp cho nàng mở rộng thêm kiến thức về văn học. Nhưng không chỉ riêng tạp chí này thôi, thỉnh thoảng, những báo khác có thơ, truyện hay, nàng cũng mua đọc.

Nhị Lê và Hiếu, hai người vẫn c̣n chút vấn vương t́nh cảm mỗi khi gợi nhắc về Huế, thành phố cũ. Xa cách Huế đă lâu, rất lâu, nhưng bất chợt trong sự rung động của tiếng nói và thời tiết, Nhị Lê lại có những lúc nhớ Huế, t́m lại Huế, qua h́nh ảnh con sông, ngôi trường Đồng Khánh, áo trắng, những ngày đầu thu, những ngày nắng hè, những cây cầu, những con đường trong từng dáng vẻ dưới bóng cây đều có thấy hiện lên h́nh ảnh các thiếu nữ.

Thạnh, chồng Nhị Lê, không ước mong ǵ hơn là hạnh phúc anh đă có được từ ngày đoàn tụ đến nay. Hiếu, lại có quan niệm khác hẳn. Hai ngày cuối tuần, Hiếu và Thảo đến nhà Nhị Lê, chuyện tṛ, nấu các món ăn. Và rồi trong bữa ăn là khơi dậy bao nhiêu kỷ niệm cũ bên quê nhà. Chuyện học hành, chuyện chiến tranh, và đến cả chuyện văn nghệ, văn gừng nữa. Hiếu cũng đang thử sáng tác truyện ngắn. Không lấy đề tài đâu xa, tự bản thân về cuộc đời ḿnh, từ những năm mới cùng gia đ́nh di cư ngoài Đồng Hới vào ở Đông Hà, rồi đi học ở các trường Quảng Trị, Huế, sau đó là Sài G̣n. Và, trong không khí truyện của ḿnh, có một nhân vật nữ xuất hiện vừa gợi nhớ, vừa tạo nên cảm xúc, không ai khác là Nhị Lê. Và, để có thể viết khá hơn, Hiếu phải đọc. Những cuốn truyện dịch mà hồi đó Nhị Lê dịch cho nhà xuất bản Thành Minh, nàng đă mang theo hết qua bên đây, và cuốn nào cũng có tặng cho vợ chồng Hiếu, đến cả sách giáo khoa nữa.

Nhị Lê có tác động t́nh cảm với Hiếu, th́ ngược lại, Hiếu cũng tạo cho Nhị Lê nhiều cái mới về cuộc sống. Chính Hiếu thúc đẩy Nhị Lê đi học trở lại để chuyên sâu thêm về ngành giáo dục. Vừa làm cô giáo phụ cho Olga, Nhị Lê cố gắng học thêm, và nàng rất vui khi tốt nghiệp cấp cử nhân về môn Anh ngữ và ngành giáo dục. Rất lạ, ảnh hưởng của chồng ḿnh là Thạnh không rốt ráo, tạo nên niềm tin cho Nhị Lê như Hiếu. Ngày xa đó, từ một cô giáo dạy trường quận ở Trảng Bom, Nhị Lê theo Hiếu về Sài G̣n làm công việc dịch thuật cho nhà xuất bản Thành Minh, rồi viết báo, tạo nên cho ḿnh tên tuổi, danh vọng, tiền bạc nữa. Cho đến một ngày của mấy năm trước Nhị Lê qua Mỹ đoàn tụ, rồi gặp lại Hiếu, rồi cũng từ Hiếu, một con người năng động về ư chí, đă khiến Nhị Lê trở lại với trường lớp như ngày xưa dù đă lớn tuổi, và không ngờ, nàng có được thành tích.

Nhị Lê đă chính thức trở thành một cô giáo dạy môn tiếng Anh ở trường Los Alamitos. Lúc c̣n làm giáo viên phụ cho Olga, nàng học hỏi được khá nhiều về phong cách trong văn hóa, ngôn ngữ, và cả phần giảng dạy của bạn đồng nghiệp.

Nhị Lê đứng lớp một ḿnh, vững vàng, và rất tự tin. Nàng không chỉ được bà Annie hiệu trưởng quư mến, mà c̣n các em học sinh nữa, đa phần là di dân từ Nam Mỹ, học sinh Việt Nam cũng có nhưng không nhiều. Đôi khi, trong cách giảng bài, Nhị Lê c̣n dùng cả hai thứ tiếng Tây Ban Nha và tiếng Việt để nói cho rơ nghĩa hơn.

Thứ, con của Nhị Lê đă tốt nghiệp Đại Học về ngành điện toán, nhưng nay không c̣n ở chung với ba mẹ, mà đi làm việc xa trên San José, vùng phía Bắc cách quận Cam sáu giờ lái xe, chỉ vào những dịp nghỉ lễ dài ngày, mới về thăm ba mẹ. Ở San José, Thứ thuê riêng một cái studio, tự do hơn là cùng một bạn quen share pḥng. Thứ có tinh thần tự lập, có hút thuốc lá, uống cà phê, nhưng không rượu bia. Thứ thích làm việc, có đồng lương tương đối khá. Và, từ buổi đầu vào đời, Thứ cũng đă có một bạn gái, kém hơn Thứ hai tuổi, người ở quận Oakland, học ngành nhân văn trường Đại Học Berkeley. Trong thời chiến tranh Việt Nam, sinh viên Berkeley, cái nôi của phong trào phản chiến. Berkeley cũng là trường nổi tiếng không chỉ riêng tiểu bang Cali, mà c̣n với nước Mỹ. Trường này rất lớn, những con đường dẫn đến trường hay ở chung quanh trường đều nhỏ, và bày nhiều, rất nhiều những tranh vẽ của các nghệ sĩ.

Vợ chồng Thạnh đă trả được tới hai phần ba món nợ mua nhà. Nhị Lê, hoặc Thạnh thường viết check đưa cho Hiếu, và cứ mỗi tháng, Hiếu lại deposit món tiền này vào nhà băng Well Fargo của ḿnh. Trong nhà băng, Hiếu và Thảo cùng đứng tên chung. Bên Nhị Lê và Thạnh th́ khác, mỗi người có nhà băng riêng và đứng tên riêng.

Cũng như bao nhiêu người đồng hương khác, lúc nghĩ về cuộc sống, theo ḍng thời gian lướt qua, Nhị Lê đă nhận ra rằng mọi thứ nay đă ổn định, giờ chỉ có sự vun đắp.

Trong thầm kín của ước vọng, Thạnh có ư mong vợ chồng có thêm đứa con nữa, trai gái ǵ cũng là nguồn vui, nhưng Nhị Lê đă quá tuổi sinh con rồi nên không hy vọng có được. Hai vợ chồng Thạnh từ ngày đoàn tụ rất là hạnh phúc, không có sự bất ḥa, nhưng trong tâm t́nh, mỗi người có lúc thực sự lẻ loi. Hồi nhớ năm tháng cũ, ngoài chuyện học hành, bạn hữu ở trường, ở lớp, có một chuyện t́nh cảm riêng mà tuy không nhắc, nhưng Thạnh vẫn nhớ, vẫn c̣n h́nh dung ra gương mặt và giọng nói của Nguyệt.
 

Nguyễn Chí Kham


________

Xem tiếp Chương 2

 

 

art2all.net