NGUYỄN CHÍ KHAM

 

 

 

VÙNG ĐẤT MỚI

 

CUỐN 1: HAI CỬA BÊN KHUNG TRỜI

 

PHẦN THỨ HAI

Chương XVI

 

 

          Nắng lên, nhưng trời mát. Bến đậu xe đ̣ Hoàng nằm trong khu chợ ABC rộng răi, ngoài chợ ra, c̣n có các tiệm ăn, các cửa hàng dịch vụ về bảo hiểm, khai thuế, và cả nhà băng America.

Trên xe cũng đă có hành khách, nhưng ở bên dưới c̣n đông với từng nhóm chuyện tṛ giữa người đi và người đưa tiễn. Thật thân t́nh, vui vẻ trong câu nói, tiếng cười. Chắc không có chi bịn rịn, v́ Nam Bắc Cali tuy quăng đường xa đến hơn 500 cây số, nhưng tuần nào cũng nhộn nhịp, ở trên đó xuống dưới này, hay dưới này lên trên đó chơi hai ngày cuối tuần. Nhị Lê và Thạnh hai vợ chồng rất tâm đắc, một đôi câu đùa cợt vui vẻ, vừa dễ thương. Từ ngày Nhị Lê qua đoàn tụ nay, đă mấy năm rồi, vậy mà Thạnh lúc nào bên vợ cũng vui mừng cuống quưt.

-Đúng ra, anh cũng nên đi cùng với em lên thăm con, nhưng Công ty c̣n nhiều việc và một số người đang nghỉ phép.

-Anh có tính về bên nhà không ?

-Chưa đâu. Thong thả, có dịp em về cùng với anh luôn.

Nhị Lê cưới nói:

-Em không về được, ở đây người ta đang có bồ.

-Liệu hồn đấy.

-Nếu em có, anh ghen không ?

-Thôi, không vớ vẩn. Thứ mấy em về.

-Thứ ba.

-Lên tới, gọi điện thoại cho anh.

Vừa đúng lúc, người tài xế nhấn một nhịp c̣i mời hành khách lên xe.

Thạnh ôm Nhị Lê qua vai và hôn bên má từ biệt. Nhị Lê ngồi ghế bên trong dăy ghế thứ tư. Bên dưới, vẫn c̣n người đứng lại chưa rời bến.

Khi xe lăn bánh, Thạnh và mấy người tiễn đưa vẫy tay. Từ lối cổng, xe rẽ trái rồi hướng thẳng con đường Bolsa lên xa lộ. Một lúc, người đàn bà phụ xe xách cái túi lớn, từ hàng dưới đi lên lần lượt phân phát bánh ḿ và một chai nước lọc cho hành khách. Rồi sau lượt phát đồ ăn, đến lượt thu tiền vé mỗi đầu người 30 đồng.

Nhị Lê đưa mắt nh́n quanh. Trong xe, có vài ba người ngoại quốc, c̣n lại hết là người Việt. Cùng một chuyến đi, thấy ai cũng vui vẻ, lạ hay quen ǵ cũng bắt chuyện với nhau. Từ dưới quận Cam đi San José, hơn bốn giờ chiều mới lên tới. Tối hôm qua, Nhị Lê đă báo cho Thứ biết chuyến xe của mẹ, và cậu sẽ ra sớm mười lăm phút để chờ mẹ.

Người bên cạnh hỏi Nhị Lê:

-Chị đi San José chơi, hay ở trên đó ?

-Tôi lên thăm cháu. Cháu ở trên đó làm việc.

-Vậy là chị ở dưới này.

-Dạ. C̣n chị ?

-Tôi cũng ở dưới này. Tôi lên trên đó họp mặt Đồng Khánh.

-Ủa, chị học Đồng Khánh ?

-Tôi học bảy năm Đồng Khánh.

Nhị Lê nói:

-Tôi cũng học ở đó, nhưng có bốn năm rồi đi xa.

-Rồi chị có học tiếp, hay đi làm.

-Tôi học tiếp rồi vào trường sư phạm.

Bà khách học ở Đồng Khánh, nhưng lại không phải là người Huế. Hai người trao đổi chuyện, Nhị Lê mới hay biết ḿnh học lứa sau, lên Đại Học vào sư phạm cùng ban, nhưng bà khách học Huế, hệ một năm, c̣n Nhị Lê học Sài G̣n hệ bốn năm.

Trong tính cách liên tưởng, đôi khi thời gian tạo ra được sự nối kết mạch lạc, nhờ đó, những h́nh ảnh cũ vẫn tồn tại không bị xóa mất. Nhị Lê vẫn nhớ Huế, thích Huế vào những ngày mưa, và những cơn mưa làm mái ngói và cổng trước của ngôi trường có một vẻ đẹp dịu hiền, duyên dáng. Học ở trường Đồng Khánh những nụ cười các cô gái không chỉ là biểu lộ những mối thân t́nh, mà c̣n là một in dấu nằm ở một góc nào đó trong cuốn học bạ. Cho đến lúc qua hết, hay thôi không c̣n nữa những năm học mới gởi lại cho trường cũ của ḿnh.

Hai người đàn bà này có vẻ tâm đắc. Mỗi sự vật, tên thành phố, ḍng sông, những dăy phố, những con đường trở nên một cái tên gọi thân quen, nhớ th́ rất nhớ, c̣n thương hăy chờ, nhưng không quá lâu v́ có một t́nh bạn giờ đang chắp nối.

Bên ngoài, thoáng hiện một vùng vây, màu hoang dă của đồi núi, nước xanh trên mặt hồ, và những thảm nắng trôi giạt tận nơi phía xa trên cánh đồng, chừng đó trong vài giây quang cảnh đẹp của thiên nhiên mới làm cho họ tạm ngừng câu chuyện. Và, không hiểu sao, Nhị Lê lại nghĩ đến t́nh yêu, như nghe rơ con tim thổn thức.

Khi Nhị Lê quay đầu, không nh́n ra ngoài nữa, người kia lại tiếp câu chuyện, nói:

-Ở Huế, rất ít có gia đ́nh người Bắc.

Nhị Lê bỗng nhớ đến Hiếu, nhiều chuyện anh kể hồi từ Quảng B́nh di cư vào miền Nam, nhưng đến Đông Hà, một thị xă phía Bắc của tỉnh Quảng Trị th́ ngừng luôn, không đi tiếp nữa.

-Chị biết sao không ?

-Cũng hơi lạ, chị nghĩ sao ?

-Năm đ́nh chiến di cư, ở phía Nam của miền Trung có ba nơi nhiều gia đ́nh miền Bắc sinh sống. Nơi đầu tiên là Quảng Trị, đến Đà Nẵng, rồi Nha Trang.

Thoáng nghĩ ít giây, Nhị Lê đáp lời.

-Chị nói đúng đấy. Năm di cư 1954, ngoài Bắc vào miền Nam bằng tàu thủy, bằng xe lửa, cũng có đường bộ nữa, nơi Quảng Trị là chuyến di cư bằng đường bộ, xe lửa, c̣n đến Đà Nẵng, Nha Trang th́ bằng tàu thủy. Sau đó, có những tàu đến tận Sài G̣n. Và, chính thủ đô, người di cư đông nhất.
Hai người bỗng cười x̣a, v́ cùng có chung một ư tưởng. Bất chợt Nhị Lê có vẻ ngạc nhiên khi người kia hỏi:

-Sao gia đ́nh chị người Bắc, mà lại ở Huế.

Nhị Lê giải thích:

-Ba mẹ tôi vào Nam trước đ́nh chiến ba năm. Và, lúc đó, làm việc từ trong Hội An, rồi trở ra Huế.

-Ông bác làm công chức.

-Chị nói đúng. Ba tôi làm việc bên ngành xă hội.

Tới lúc này, xe chạy đă gần nửa đường hai người mới nói tên cho nhau biết.

Nhị Lê hỏi:

-Chị Oanh người Thanh Hóa, phải không ?

Cánh tay Nhị Lê nằm yên trong tay người bạn.

-Chị giỏi quá. Sao chị phân biệt đúng và hay vậy?

-Năy giờ, gương mặt chị làm tôi liên tưởng đến một người d́ bạn với mẹ tôi. Cả gia đ́nh ở Thanh Hóa, huyện Nga Sơn. Ở miền Trung, khảo sát về ngôn ngữ trong địa lư, tôi mới biết, ra phía Bắc có Thanh Hóa giọng nói của miền Bắc, vào phía Nam, các tỉnh Ninh Thuận, B́nh Thuận, nói về giọng miền Nam.

-Nhưng tiếng Thanh Hóa của tôi cũng đă pha với người Huế nhiều.

Nhị Lê cười, và nói:

-Tôi cũng ở Huế nhiều năm, từ lúc tuổi c̣n nhỏ.

Đường c̣n dài và xa. Hai người bạn mới quen cảm thấy vui, và có nhiều chuyện để nói. Bên ngoài, đôi lúc nổi ch́m cái bóng nắng nghiêng qua ngọn núi, màu trắng sáng ḷa dâng những mái nhà nằm trên các ngọn lên cao dần, bỗng dưng màu xanh như tấm vải rộng in xuống hồ nước, và một thoáng đó tưởng chừng như muốn làm cho Nhị Lê đăng trí về một ngày tháng cũ lúc gia đ́nh nàng hẳn c̣n ở ngoài miền Bắc chưa vào Nam.

Nhị Lê, hết sức hồn nhiên với giọng nói của ḿnh.

-Quê ba mẹ tôi ở Hải Dương, c̣n tôi, rất vui khi trong tờ giấy khai sinh ghi là Hà Nội.

Người bạn đáp lời:

-Chị có ở Huế bao lâu nữa, th́ thuần quê quán vẫn là ngoài miền Bắc. C̣n tôi, người Thanh Hóa có âm hưởng về tiếng nói gần miền Bắc, nhưng tôi vẫn có gốc gác của một miền Trung.

-Nhưng chị có thấy, nước Việt ḿnh, người bất cứ ở miền nào, trong giọng nói cũng có cái hay không chỉ trong đời sống b́nh thường thôi, mà c̣n cả một dấu hiệu của thời tiết nữa.

-Chị nói đúng, tiếng Việt cũng thật hay, và hết sức đa dạng cả hai biến đổi linh hoạt và thâm trầm.

Những ḍng xe ở các dải đường cạnh bên lướt qua nhanh, và trong mỗi khoảng trống lại thấy xuất hiện những cảnh vật nằm bên đường. Nhị Lê cố t́m trong nhận thức ḿnh những sự liên đới mà mỗi con người ư thức được t́nh cách hiện hữu của đời sống.

Và, nàng nói điều ḿnh nghĩ:

-Người của nước Việt ḿnh có sự bền bỉ, bất khuất, và rất quyết tâm. Người của nước Việt ḿnh tiếp thu nhanh, và biến cải được những ǵ thu nhận được thành sáng tạo. Nguồn gốc tư tưởng của người Việt, thuần túy ở trong ca dao. Truyện Kiều của Nguyễn Du chính xuất phát từ nguồn ca dao. Và, nói đến cái hay của tiếng Việt, cho dù tác phẩm truyện Kiều lớn lao về ngôn ngữ và rất hiện sinh trong quan niệm nhân sinh, nhưng cái chất như là thứ vị ngọt của trái cây trong tiếng Việt ḿnh là tiếng Việt mà Đoàn Thị Điểm dịch cho cuốn Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn. Tiếng Việt được Đoàn Thị Điểm diễn ngâm, ư tôi nghĩ là một thứ tiếng Việt rất đẹp, rất văn chương, và rất thuần nhất.

Người khách tuy ở lứa tuổi hơn Nhị Lê và học lớp trước tuy không nét ǵ nổi bật, nhưng giọng nói vẫn c̣n trong, và thân t́nh. Lúc năy hai người đă cho biết tên nhau, nhưng lại không ai nhắc đến tên khi tṛ chuyện.

Nhị Lê liền sực nhớ, hỏi:

-Trước 75, chị Oanh dạy học ở đâu ?

-Tôi dạy ở Hội An ?

-Một nơi này thôi.

-Không, những năm đầu mới ra trường, sau đó về Tam Kỳ, năm cuối cùng là Huế.

-Chị dạy bên trường nữ hay là nam.

-Thuần bên trường nữ.
Nhị Lê cười, nói:

-Tôi th́ ngược lại. Ḿnh là cô giáo mà chỉ dạy các trường nam học sinh?

-Nhiều trường không ?

-Có Phan Thiết, Nha Trang, Quy Nhơn sau đó đi kinh tế mới, dạy học Pleiku.

-Ủa, sao chị bị đi vùng kinh tế mới?

-Họ buộc ḿnh phải đi.

-Lúc đó, anh nhà th́ sao?

-Chồng tôi cũng nhà giáo. Anh dạy trên Pleiku từ lúc ra trường sư phạm. Sau 75, tôi lên trên đó mới gặp anh. Rồi ít năm sau, trốn vào miền Nam, dạy học ở trường quận Trảng Bom.

Nhị Lê nói xong, Oanh nắm cánh tay Nhị Lê trong tay ḿnh.

-Chị Oanh vượt biên, hay đi hồi 75.

-Ḿnh đi vượt biên.

Nhị Lê im lặng. Một lúc sau, nói:

-Nước Việt ḿnh có cái hay về ngôn ngữ và cái đẹp trong tâm hồn. Cũng nhờ mấy đặc điểm này mà ḿnh có được những tác phẩm cổ điển có giá trị, có được cuốn truyện Kiều nuôi dưỡng cho cả văn hóa dân tộc, và bên đây, nhờ bốn chữ ǵn vàng giữ ngọc trong truyện Kiều mà ḿnh mới xây dựng nên một bản sắc cộng đồng về mọi khuôn khổ của văn hóa. Nhưng có cái điều không may đối với lịch sử. Nước Việt, không ngừng thảm họa trong thiên tai hàng năm, mà c̣n bao nhiêu cuộc chiến tranh mỗi thời kỳ không lúc nào ngừng nghỉ. Chị biết không, ngày chồng và con tôi đi vượt biên, tôi tính theo, nhưng quá sợ sự tàn ác của đám hải tặc. Chị Oanh vượt biên, đến Mỹ thực là phước lành nhờ Trời Phật.

Oanh c̣n nhớ chuyến đi vượt biên của ḿnh tới đảo Galang. Nàng bắt đầu kể, Nhị Lê lắng nghe, cũng trong lúc này, chiếc xe đó rẽ vào exit, chạy một quăng khá xa mới vào tới khu vực của trạm dừng nghỉ ngơi.

 

Nguyễn Chí Kham


________

Xem tiếp Chương 17

 

 

art2all.net