NGUYỄN CHÍ KHAM

 

 

 

VÙNG ĐẤT MỚI

 

CUỐN 1: HAI CỬA BÊN KHUNG TRỜI

 

PHẦN THỨ HAI

Chương IV

 

 

          Hai gia đ́nh Nhị Lê và Hiếu luôn giữ một sự thân t́nh quư hiếm, và luôn có nhau hơn cả những tháng năm cũ bên quê nhà. Lúc cần thiết đến một việc ǵ, bên này, hay bên kia, luôn sẵn sàng hỗ trợ. Và, cả đôi bên đều có chung một ước vọng là nay quê hương, đất nước của ḿnh ngày càng có cơ hội nâng cao đời sống của người dân.

Chính v́ vậy, không có ai trong họ buồn ḷng nhắc nhở đến những tháng năm khó khăn, nghèo đói nữa. Luôn hướng về trước với tính cách về toàn cầu và nhân loại.

Sự thay đổi thời gian thật là mầu nhiệm. C̣n trong thế kỷ 20, đâu ai nghĩ rằng, rồi thế kỷ 21 sẽ đến. Vậy mà năm nay, đầu thế kỷ đă đến, cùng một dấu mốc quan trọng cho đồng hương người Việt kỷ niệm 25 tị nạn ở xứ người. Hai mươi lăm năm lưu lạc, cũng là, mây tha hương luôn nhuốm màu trời của tổ quốc.

Vị Tổng Thống thứ 43 là ông George W Bush người của đảng Cộng Ḥa. Ông là con của vị Tổng Thống thứ 41, người thắng trận cuộc chiến Iraq. Nh́n vẻ mặt, nhận ra, ông là con người cởi mở. Ngày Nhị Lê thi quốc tịch, đúng vào ngày ông được tuyên bố thắng cử. Nhị Lê thi ở trung tâm thành phố Santa Ana. Lúc vào thi, nàng gặp vị giám khảo đứng tuổi, trước khi hỏi cẩn thận mở laptop, t́m những câu hỏi có ghi trong chương tŕnh giảng dạy cho các di dân. Bốn câu hỏi về hiến pháp Hoa Kỳ, câu nào Nhị Lê cũng trả lời đúng. Đến câu hỏi về tên bài quốc ca, Nhị Lê bị khựng, nhưng khi giám khảo bắt nhịp đoạn mở đầu, Nhị Lê nhớ ra rồi cất tiếng hát theo, ông gật đầu. Kế đến, viết chính tả. Giám khảo đọc một đoạn ngắn, Nhị Lê nghe và viết trên giấy không sai một lỗi nào. Kết thúc buổi thi, Nhị Lê tự ḿnh viết một đoạn văn ngắn bằng tiếng Anh. Hoàn hảo, vị giám khảo hài ḷng, và cho Nhị Lê biết nàng thi đậu, sau đó, bảo nàng ra pḥng ngoài đợi gọi tên vào làm hồ sơ mới cho bằng thi quốc tịch.

Khi Nhị Lê trở ra ngoài, th́ lần lượt theo thứ tự như số báo danh, những người khác được gọi. Nhị Lê cảm thấy ḷng ḿnh vui, tṛ chuyện với đồng hương ngồi cùng hàng ghế. Và, nàng cũng nói người chuẩn bị cố nhớ kỹ những câu hỏi về hiến pháp Hoa Kỳ rất quan trọng và luôn có trong các đề thi.

Ngồi đợi không lâu, Nhị Lê được gọi tên. Nàng theo người hướng dẫn đi tới pḥng cuối cùng, ở đây, có nhiều nhân viên của sở di trú làm việc, và chỗ nàng ngồi ở chiếc bàn dài và rộng và đối diện với người phụ trách hồ sơ là bà Berit. Lần lượt nàng kư tên trên các loại giấy tờ, mỗi mẫu, có một màu riêng. Sau cùng, là chữ kư của nàng trên tấm bằng quốc tịch. Bà Buret có nét vẻ quư phái, tóc búi cao, cặp mắt nâu và to, nở một nụ cười khi xem lại hết các thứ giấy tờ Nhị Lê đă nộp. Bà nh́n Nhị Lê gật đầu nói lời khen, rồi bất ngờ, bà hỏi Nhị Lê lúc c̣n miền Nam nàng sống ở đâu. Nhị Lê kể về ḿnh, nghe xong, bà Buret nói, bà đă có ở Huế bốn năm. Hỏi thời gian này bà làm ǵ, bà cho biết chồng bà làm việc ở ṭa lănh sự, c̣n bà, có dạy môn tiếng Anh ở trường Văn Khoa, và dạy thêm tiếng Anh ở Hội Việt Mỹ.

Khi rời ghế đứng lên, một nhân viên di trú đưa nàng ra ngoài, trên lối đi, người này cho biết sẽ có thư báo cho nàng biết nơi và ngày tổ chức lễ tuyên thệ.

Từ ngă ba trung tâm ra con đường chính lối nửa dặm. Vừa lái xe chậm, Nhị Lê phân vân không biết nên về nhà, hay dự tính đi đâu. Luôn thận trọng khi lái, nhưng lúc vui, nàng nở nụ cười cho cặp nhớ mường tượng hay mong t́m ai đó đem hạnh phúc cho ḿnh. Tự dưng, bụng đói chợt cồn lên cùng lúc nàng trông thấy tiệm bánh IN and Out xuất hiện chỉ cách xe nàng không đến trăm mét.

Nhị Lê nh́n đồng hồ tay khi xe ngừng. Nàng vào lối cửa trước, đứng xếp hàng, đến phiên nàng nh́n lên bảng rồi chọn mẫu phần ăn số 1 là ở mức giá trung b́nh và gồm có khoai tây chiên bánh hamburger và nước uống tự chọn. Nhị Lê mở ví đưa tờ giấy 20, lấy lại tiền thối xong ra phía bàn ngoài có mái dù, ngồi một ḿnh đợi lấy phần ăn, mắt nh́n ra con phố, bên kia là công viên. Tiệm ăn đông khách, phần nhiều là người bản xứ, người lớn, đàn ông, đàn bà, thanh thiếu niên nam nữ và họ đang nói chuyện với nhau vừa ồn ào, vừa vui một cách thân t́nh. Cứ cách một phút người bán hàng lại gọi số cho khách hàng đến nhận phần ăn, luôn bày sẵn trên một cái khay nhựa màu nâu. Rồi đến số của ḿnh, Nhị Lê rời ghế đứng lên đi vào trong nhận khay ăn xong, xong đến quầy nước bấm nút lấy loại nước cam Sunkist, có vị thơm.

Khi trở ra ngoài, thấy một cái bàn nhỏ hơn có bóng im, nàng chọn bàn đó, cũng nơi này nh́n ra được nhiều hướng của khu phố và vẫn trông thấy công viên. Bên kia công viên, nhiều hàng ghế trống, có người đang đi bộ, có mấy đứa thiếu niên đạp xe chạy ṿng quanh các lối đi.

Nhị Lê uống vài ngụm nước trước khi ăn bánh. Bánh nóng và rất ngon. Nếu đem bánh ở đây so với ổ bánh ḿ ở quán ăn của người Việt th́ không lớn bằng, nhưng về lượng calorie, th́ phần ăn của bánh này nhiều hơn, bổ hơn.

Nhị Lê nghĩ thoáng qua trong tâm trí ḿnh về những người quen biết, gia đ́nh, bạn hữu, đồng nghiệp. Khói thuốc lượn lờ, tan loăng làm Nhị Lê lúc ngửi mùi khói thuốc chợt nhớ đến ông John, người dạy nàng lái xe và cũng là một cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam trong thời gian c̣n tại ngũ.

Bà Berit có thiện cảm với Nhị Lê. Nói chuyện với Nhị Lê, bà nhớ Huế. Bà rất vui khi kể lại những ngày sống ở Huế, một thành phố êm đềm bên con sông. Huế có sông Hương ḍng nước xanh là một tuyệt tác trong âm nhạc, vừa trong thơ văn. Huế, áo trắng là nữ sinh Đồng Khánh trải suốt trên con đường Lê Lợi từ khu Morin lên đến nhà ga, và bên này hữu ngạn, bên kia tả ngạn, mỗi bên đều có những nét riêng về khung cảnh nên thơ. Ở Huế, không xô bồ như ở miền Nam, nhưng cái vẻ trầm lặng cho người Huế một đời sống chừng mực, nhưng không quá gần, mà cũng không nữa sự ơ thờ, xa cách. Huế có thứ mùi hương nhẹ phảng phất, một mùi vị thầm nồng trong một thứ mặn, thứ ngọt, và nồng cay. Huế có sự gần gũi, đơn sơ từ những quán hàng ăn. Những thứ hàng quà ở Huế có rất nhiều, và ăn ngon miệng. Bà Berit, bà thích rất nhiều thứ trong nhiều món ăn Huế. Bà biết cầm đũa, ăn được nước mắm, và cho Nhị Lê biết bà rất thích hai món Huế là bánh bèo, bánh ram kẹp bánh ít. Nhị Lê nghe, bật cười, nước miệng có vị cay.

Th́ ra, Huế là một hoài niệm và luôn ước mong có người đi những nơi xa có dịp trở về. Bà Berit rời Việt Nam đầu năm 1973, sau một tuần lễ hiệp định Paris được kư kết. Ở Việt Nam, bà đi thăm nhiều nơi, nhưng Huế là nơi bà sinh sống và làm việc. Bà yêu Huế, phong cảnh, những đồng nghiệp và những sinh viên trong môn giảng dạy của bà. Một vài ngày trước khi từ biệt Huế vào Sài G̣n để rời VN, sinh viên Huế cả bên Văn Khoa và hội Việt Mỹ tới thăm bà, bày tỏ sự kính mến với vị giáo sư đă dạy ḿnh. Trong đôi mắt, có ngấn lệ. Những lời nhắn gởi, bà thăm hỏi gia đ́nh, và ước mong các sinh viên chăm học, tiến bộ. Bà cũng nói, nếu trong các bạn sinh viên có dịp du học Mỹ, th́ liên với bà khi cần giúp đỡ.

Huế, thành phố xa xôi đă tái hiện một khuôn mặt và bao tiếng nói dịu hiền qua h́nh ảnh một vị giáo sư người Mỹ ngày đó, bây giờ, xuất hiện trong tâm trí Nhị Lê.

 

Nguyễn Chí Kham


________

Xem tiếp Chương 5

 

 

art2all.net