Mến tặng thầy Diệp Truyền
Hoa,
người 30 năm trước đây đă vỡ ḷng văn Bạch thoại cho tôi.
Năm năm trước, tôi sang Trung Quốc đọc được quyển sách này rất lấy
làm thích thú. Ngay sau đó, từ Trung Quốc về đến Việt Nam, tôi đă
chụp lại đưa cho một người bạn ở Hà Nội và động viên anh dịch ra
tiếng Việt. Tôi nghĩ rằng người Việt ở trong nước nếu được đọc nó,
chắc cũng thích thú như tôi.
Bản thân tôi trước kia cứ mỗi lần đọc phải những quyển sách kiểu
Người Việt cao quư, Người Việt đáng yêu là một lần không những không
cảm thấy ḿnh được dự phần vào cái cao quư, đáng yêu ấy một tư nào,
mà càng thấy ḿnh thấp hèn và đáng ghét làm sao, chỉ muốn viết ngay
một quyển sách khác để nói về những tính hư, tật xấu của ḿnh. Đang
lúc lúng túng với nỗi bực dọc ấy th́ may thay tôi gặp được quyển
sách của Bá Dương.
Thế mà suốt năm năm qua tôi đă ôm cái hy vọng quyển sách dịch sẽ ra
đời ở Việt Nam. Tại sao tôi lại có hy vọng như vậy ? Bởi v́, quyển
sách này tuy được viết và xuất bản ban đầu ở Đài Loan, tuy có một
cái nh́n độc đáo về văn hóa và các chế độ chính trị Trung Quốc, đặc
biệt chỉ trích những phong trào Phản hữu, Cách mạng Văn hóa,v.v...và
cả Mao Trạch Đông, nhưng sau đó nó lại được tái bản tại Trung Quốc
lục địa (Bản tôi có là bản năm 1989 - 1990 do Nhà xuất bản Hoa Thành,
thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông ấn hành).
Không những đă có nhiều sách khác viết về nó, gần đây c̣n có nguyên
cả một quyển sách phỏng vấn Bá Dương về quyển sách này của ông. Các
tác phẩm khác của Bá Dương cũng đă lục tục được in ra, và cuối cùng
là hai tuyển tập tạp văn lớn của ông vừa được Nhà Xuất Bản Hữu Nghị
tại Bắc Kinh phát hành.
Ngoài ra ở Âu, Mỹ, úc châu hiện nay, đối với những người sắp phải
tiếp cận với Trung Quốc, cuốn sách của Bá Dương cũng được xếp vào
trong danh sách những quyển cần đọc để có một cái nh́n tổng quát về
văn hóa nước này.
Nước Trung Quốc cộng sảnđă chấp nhận và hoan nghênh nó, người Âu Mỹ
cũng thế, th́ không có lư do ǵ người Việt Nam lại không thể được
đọc nó, cho dù không phải để học hỏi, mà có thể chỉ v́ hiếu kỳ,
thông tin về một nước láng giềng.
Đến nay quyển sách dịch vẫn chưa ra đời ở Việt Nam. Và tôi vẫn chưa
mất hy vọng, nhưng tôi hơi thấy tiếc cho cái thời gian tính của nó.
Chẳng hạn, trong sách có những đoạn nói về tâm sự người Trung Quốc ở
Hồng Kông khi mảnh đất này chưa"trở về tổ quốc" th́ bây giờ Hồng
Kông đă thuộc Trung Quốc lục địa rồi. V́ vậy, mặc dù chỉ vơ vẽ tiếng
Trung, lại không phải là người quen nghề dịch, tôi cũng đă mầy ṃ cố
dịch nó ra, chắc chắn có nhiều sai sót, ở đây thành thật xin những
người cao minh hơn chỉ bảo cho.
Trong thập niên trước một thiên niên kỷ mới này, người ta hay nói về
nền văn minh hậu công nghiệp, hậu hiện đại, cách mạng và văn minh
điện tử tin học, đợt sóng thứ ba,... Người Việt Nam vừa thoát ra
được cuộc nồi da xáo thịt, c̣n phải mất hơn 20 năm để ch́ chiết lẫn
nhau, bỗng một hôm tự thấy ḿnh đang đứng bên lề đường phát triển;
đói rách, nghèo nàn, lạc hậu, bối rối không biết đi về đâu. V́ cục
diện thế giới đă thay đổi quá nhanh, các phe phái, chiêu bài mà ḿnh
v́ nó mất bao xương máu và cả một thời son trẻ đă chỉ c̣n là những
dấu vết mờ nhạt.
Trí thức Việt Nam, hoặc những người c̣n chút suy tư, nh́n sang các
nước láng giềng, nh́n ra thế giới cũng hoang mang, lúng túng chẳng
kém các cụ nhà Nho cách đây một thế kỷ khi tỉnh dậy v́ những tiếng
cà-nông của nền văn minh công nghiệp Tây phương bắn vào các cửa
biển.
Trong thời kỳ gọi là"đổi mới" gần đây, các nhà lănh đạo Việt Nam hay
những người tự cho ḿnh có sứ mệnh lănh đạo, lại phát động phong
trào đi t́m kiểu mẫu phát triển, giống phong trào"canh tân" của các
cụ đồ ngày xưa.
Nhưng cái khác với thời hai cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh là
ngoài các mô-đen Mỹ, Pháp, Nhật, ngày nay c̣n có một lô những mô-đen
mới nữa, trong đó phải kể mấy con rồng, con cọp châu á ngay sát nách
mà ở thời các cụ họ cũng chẳng khác ǵ ḿnh.
Người có đầu óc một lần nữa phải thắc mắc tại sao bây giờ lại có sự
khác biệt đó?Dân tộc Việt Nam cơ bản khác ǵ những dân tộc khác để
ra nông nỗi này ? Không khỏi có những người, cũng như các cụ Phan
ngày xưa, lại đi đào bới trong văn hóa, lịch sử Việt Nam, suy gẫm để
t́m cho ra nhẽ. Nhưng số ấy không nhiều như ta tưởng, mà rồi cũng
chẳng ai để ư đến những lời tâm huyết của họ, nếu không th́ lịch sử
và vận mệnh nước nhà cũng đă khác.
Mặc dù dưới áp lực của xu hướng toàn cầu hóa trên mọi địa hạt, tôi
vẫn tin rằng mỗi một dân tộc phải có một phương thức, một giải pháp
riêng đối với cái vận mệnh riêng của ḿnh. Cho nên, trước khi đi cóp
nhặt các mô-đen, cần nhất phải biết ḿnh là cái thứ ǵ, và có thể
làm được ǵ ngay trước mắt. Muốn biết được điều ấy không thể chỉ cứ
tinh tướng, huyễn hoặc để tiếp tục tự kỷ ám thị hoặc lừa dối nhau,
tiếp tục dùng cái lưỡi gỗ để nói những điều cường điệu, hănh tiến.
Thường trong lịch sử Việt Nam vốn đă rất ít người thật t́nh có can
đảm và trung thực để t́m hiểu, phê b́nh, những cái xấu, cái dở của
dân tộc ḿnh. Gần đây lại chỉ toàn thấy ca tụng đất nước rừng vàng
biển bạc, con người cần cù, thông minh, cao cả, đẹp đẽ, kiên cường,
anh hùng, trong sáng... Thậm chí lại có cả người lănh đạo lấy tên
giả viết sách để ca ngợi cá nhân ḿnh, có cả nhà văn bịa tên một
người nước ngoài để ca ngợi dân tộc ḿnh. Nếu so sánh với những nước
giàu mạnh nhất thế giới hiện nay th́ lại là cả một chuyện ngược đời.
Mà cái chuyện t́m những khuyết tật, những cái dở của dân tộc ḿnh
th́ không ai có thể làm hộ cho ḿnh cả, không thể trông chờ vào
người nước ngoài được - mặc dù quá tŕnh lịch sử Việt Nam đă chứng
minh ngay đến cả cái chữ viết cũng là do người nước ngoài làm cho
(Tôi không cho rằng chữ Nôm là một thứ chữ viết đúng nghĩa của nó.
Đó chỉ là một thứ chữ làm từ chữ Hán, chủ yếu dùng để kư âm tiếng
Việt cho những người đă biết chữ Hán, quá phức tạp, thiếu quy phạm
để được phổ cập và đứng vững).
Rồi khi người nước ngoài không lo cho nữa th́ đến nay nó vẫn ở t́nh
trạng của đầu thế kỷ, không có một canh tân, chuẩn hóa ǵ thêm, thậm
chí một bàn phím máy tính để đánh cái thứ chữ viết đó cũng không hề
có nổi ở thời đại xa lộ thông tin này. Trung Quốc đă là một mô-đen
lớn của Việt Nam cho đến lúc người Pháp đô hộ chúng ta. Và nếu tôi
không lầm th́ hiện nay một lần nữa nó vẫn c̣n là một mô-đen phát
triển cho một nước theo chế độ đảng chủ, lại thuộc về thế giới Hán
hóa như Việt Nam.
Quyển sách này soi sáng thêm một bề mặt, có thể là mặt trái của văn
hóa Trung Quốc, của dân tộc Trung Quốc. Theo tôi nghĩ nếu lấy cái bề
mặt này đem tham chiếu để phản tỉnh, việc này không những chỉ ích
lợi cho người Hoa mà c̣n cho tất cả các cộng đồng có liên quan ít
nhiều đến văn hóa Trung Quốc.
Ông Bá Dương cơ bản chỉ là một nhà báo, một người viết tạp văn và
chính ông cũng xác nhận điều này. Bởi vậy chúng ta không nên chờ đợi
ở quyển sách những phân tích khoa học sâu sắc, những ư nghĩa triết
học cao siêu thường thấy ở mấy trường phái Trung Quốc học tại các
đại học Mỹ như Havard hoặc Standford. Phần chính của quyển sách lại
gồm những bài diễn thuyết, mang lối hành văn của kẻ nói chuyện, nên
có người phê b́nh là bố cục lỏng lẻo.
Cho dù có thật sự thiếu tŕnh độ uyên bác và cái chặt chẽ của lư
luận, quyển sách lại đem đến cho người đọc nhiều chất liệu cụ thể
rút từ lịch sử và đời thường qua cái nh́n của một người Trung Quốc
đă bị"nhào trộn như một viên sỏi trong cái máy trộn bê-tông" của
lịch sử Trung Quốc hiện đại. Những thứ rất phổ cập và dễ hiểu này
cộng với giọng văn châm biếm chua cay mà thành khẩn của Bá Dương đối
với một người Việt b́nh thường dù ở trong hay ngoài nước sẽ là một
cống hiến không nhỏ cho việc hiểu rơ hơn về Trung Quốc và qua đó
nh́n lại mà đánh giá bản thân, dân tộc và văn hóa của ḿnh trong
giai đoạn hiện nay.
Phần cuối sách gồm một số bài của những người phê phán Bá Dương.
Phần tranh luận đầy cảm tính này, dẫu không có thêm nhiều phát hiện
ǵ mới, lại là một cái phông cần thiết làm nổi bật thêm tính độc đáo
và cú sốc khá mạnh của sự kiện Bá Dương trên cộng đồng người Hoa tại
hải ngoại.
Trong lúc dịch tôi vẫn chưa t́m được ở tiếng Việt từ nào đúng để
diễn tả đồng thời h́nh dáng xấu và tính xấu của một người. Cho nên,
tùy mạch văn, lúc tôi dùng chữ"xấu xí" , lúc dùng "xấu xa". Tiếng
Trung và Hán Việt vốn có nhiều từ giống nhau, khiến người dịch có
khuynh hướng hay sử dụng cái có sẵn, nên câu văn mang vẻ cũ kỹ, tối
nghĩa. Vấn đề này khó hơn, nếu có một ấn bản khác tôi sẽ cố gắng
thêm.
Nhân dịp này tôi cũng không thể không nói lên rằng, ngoài những khó
khăn gặp phải của một người dùng một thứ tiếng nghèo nàn để dịch một
thứ tiếng phong phú hơn, tôi đă gặp phải quá nhiều đau khổ trong
việc chế bản và chuyển đổi (đối với quyển này cũng như những quyển
trước, v́ cho đến nay tôi vẫn chưa t́m được một chương tŕnh soạn
thảo văn bản nào đạt tiêu chuẩn, thật đáng buồn! ), nếu không quyển
sách này có thể đă ra đời trước đây sáu tháng hay một năm là ít.
Ngoài ra tôi cũng đă tự ư lược bỏ một số đoạn, không nhiều lắm, v́
thấy có sự trùng lặp với các đoạn khác.
Tôi chỉ mong có nhiều người đọc được quyển sách dịch này, đó là một
điều an ủi rất lớn cho cái thiện ư của tôi.
Paris - Bắc Kinh, 1966-1997
Nguyễn Hồi Thủ
Vài lời về Tác giả
và bản quyền
Ông Bá Dương sinh năm 1920 ở Trung Quốc lục địa, chạy sang Đài Loan
năm 1949 khi cộng sản thắng tại Trung Quốc. Là một nhà thơ, nhà văn,
nhà báo và sử gia. Ông đă bị bỏ tù 10 năm tại Lục Đảo (Đài Loan) v́
dịch sang tiếng Trung Quốc một tranh hư họa Popeye (Pôp-pay) mà
chính phủ Đài Loan cho là phạm thượng. Năm 1977, khi ra khỏi nhà tù,
ông bắt đầu đi nói chuyện về hiện tượng "người Trung Quốc xấu xí".
Những bài nói chuyện của ông và của những người tranh luận với ông
được tập trung lại thành quyển sách mà các bạn đang cầm ở tay. Ông
hiện sống ở Đài Loan với vợ là bà Dương Hương Hoa, một thi sĩ.
V́ chỉ có một bản in tại lục địa, chúng tôi không biết phải liên lạc
làm sao để xin phép ông Bá Dương, nên nhân đây xin lỗi ông về việc
đă mạn phép dịch sách của ông ra tiếng Việt trước khi được phép. Tôi
nghĩ nếu ông biết được chắc cũng vui ḷng tha thứ. Nếu có ai mách
cho tôi biết ông ở đâu tôi sẽ trực tiếp xin lỗi ông một lần nữa và
chính thức xin phép ông sau.
(NHT)