|
Người Trung Quốc xấu xí
Tác Giả :
Bá Dương
Dịch Giả : Nguyễn Hồi Thủ
Phần I
3- Đời Sống, Văn Học Và Lịch Sử
Diễn văn đọc tại Phân khoa Sử, Đại học Stanford, San Francisco,
ngày 22-08-1981.
Cái
chủ đề tôi được giao phó hôm nay đối với tôi quá lớn, tôi cảm thấy hầu
như không đảm đương nổi và sợ không đủ tư cách để đề cập đến một chủ đề
lớn như thế. Tôi chỉ t́nh nguyện cố gắng đóng góp cảm tưởng riêng tư về
những ǵ mà 5.000 năm lịch sử Trung Quốc gợi ư cho tôi.
Trước khi bắt đầu, tôi xin nói đến một cảm tưởng khác về người da đỏ
châu Mỹ (chủ nhân nước Mỹ, cư dân nguyên thủy và chân chính của châu Mỹ).
Tôi đă được đi tham quan những vùng đất hoang phế của dân da đỏ ở Mỹ.
Tôi cũng đă đến thăm những khu biệt lập dành riêng cho người da đỏ và
gặp một số người da đỏ. Thời gian tuy rất ngắn, không nói được nhiều
chuyện, nhưng ấn tượng đối với tôi rất sâu sắc. Tôi khám phá ra rằng các
sản phẩm thủ công của người da đỏ ngày nay so với các sản phẩm của người
da đỏ sáu trăm năm trước, không nói về h́nh thức và hoa văn, chỉ nói về
những thủ pháp đan dệt và chất liệu sử dụng th́ không có ǵ thay đổi.
Chỉ từ cái sự kiện nhỏ đó, tôi suy nghĩ và tự hỏi rồi không biết số mệnh
của dân tộc này sẽ đi về đâu ?
Chúng ta không thể tưởng tượng được một dân tộc lớn với lịch sử lâu đời
như thế lại có thể đang thoi thóp, ngắc ngoải trong các khu biệt lập tại
Mỹ hiện nay. Cảnh ngộ của chính những người da đỏ này sau khi bị lừa
gạt, tàn sát và sỉ nhục, so với cái lịch sử bi thương của người Trung
Quốc chúng ta th́ nên nghĩ thế nào cho phải?
Riêng tôi có một ư nghĩ và nó làm cho tôi rất chán nản. Đó là vấn đề
trước mắt của người da đỏ chẳng phải vấn đề đạo đức hoặc kinh tế ǵ cả
nhưng đơn thuần là một đe dọa diệt chủng. Tôi không phải là một nhà tiên
tri hoặc tướng số, tôi chỉ dùng sự suy đoán riêng tư và căn cứ trên
những điều bạn bè cho tôi biết. Chúng ta có thể đoán rằng 100, 500,
1.000 năm sau, có thể sớm hơn hoặc chậm hơn, một ngày nào đó người da đỏ
có thể hoàn toàn bị diệt chủng. Bởi v́ họ không tiếp thu được văn minh
hiện đại.
Đương nhiên trước mắt, họ vẫn có những khu vực riêng họ không xâm phạm
người khác, người ngoài cũng không xâm phạm họ. Nhưng những khu này lại
là đất của nước Mỹ, có thể nói là do những người da trắng ban phát cho.
Dĩ nhiên, trên vấn đề lư luận hoặc t́nh cảm chúng ta có thể nói không
phải là ban phát cho, mà do họ tự tranh đấu mới có được một ít đất cũ
vốn của họ. Nhưng nếu cái t́nh cảm của ta không dính dáng ǵ đến văn
học, thơ ca nhưng đơn thuần về lư tính th́ chúng ta sẽ thấy rằng vài
vùng đất riêng này là do ân huệ của nước Mỹ da trắng. Cho nên, nếu có
một ngày nào đó, nước Mỹ đông dân hơn cần lấy lại những khu vực này th́
cái kết cục của người da đỏ sẽ vô cùng thê thảm.
Phải chăng chúng ta cần phải có cách nh́n như thế này : Sự hủy diệt của
một dân tộc là một điều vô cùng lớn lao, nhưng không phải không có thể
xảy ra ?
Những lúc tôi nh́n thấy những khu hoang phế của dân da đỏ, và cái sự tŕ
trệ về văn hóa của chúng ta là trong ḷng tôi như dao cắt; không thể nào
không nghĩ rằng một ngày nào đó dân tộc Trung Quốc cũng chẳng khác ǵ
dân tộc da đỏ.
Có một người bạn bảo tôi : " Không thể thế được, dân tộc Trung Quốc có
một lịch sử lâu đời, dân lại đông như thế ". Tôi nghĩ đấy chẳng qua chỉ
là một cách an ủi về mặt tinh thần. V́ đem 5.000 năm lịch sử ra để bảo
chứng cho sự bất diệt của một dân tộc th́ không hiểu căn cứ trên cơ sở
nào ? Vũ trụ mênh mông, 5.000 năm chỉ là một khoảnh khắc, nhân loại sẽ
c̣n tồn tại đến cả 5.000 ức năm nữa là ít. So với 5.000 ức năm th́ 5.000
năm có là bao ! C̣n nói về dân số nhiều ít, đó là một điều chẳng quyết
định ǵ trong vấn đề hưng vong của một dân tộc. Thời đầu, lúc người châu
Âu đổ bộ lên châu Mỹ, dân số người da đỏ c̣n rất lớn, lớn hơn nhiều so
với người da trắng.
Cái ư nghĩ hồ đồ này làm tôi rất buồn và thấy rằng người Trung Quốc
chúng ta đang gặp rất nhiều vấn đề. Một vấn đề nổi bật thật khó hiểu là
tại sao đến bây giờ người Trung Quốc không thể hùng mạnh ? Trong khi
chúng ta thật ra có đủ các điều kiện để trở nên hùng mạnh. Thế th́ nhất
định các điều kiện cản trở sự hùng mạnh của ta phải vượt xa các điều
kiện giúp chúng ta hùng mạnh.
Tôi xin nói trước tôi nghiên cứu lịch sử không có bài bản ǵ cả, cũng
giống kiểu luyện thép thô sơ mà người Trung Quốc làm trong " Bước nhảy
vọt lớn ", nhưng luyện rất chuyên cần nên bây giờ rất tâm đắc, xin đóng
góp một ít suy nghĩ sau đây để mọi người tham khảo.
Tôi bắt đầu bằng một câu chuyện thế này : ở Mỹ có một công ty phái nhân
viên của ḿnh đi Âu châu khảo sát. Sau mấy tháng người ấy trở về làm báo
cáo dầy cả 200 trang cho công ty, nói rằng về phương diện kỹ thuật cũng
như quản lư châu Âu đều lạc hậu kinh khủng, không thể nào b́ được với
Mỹ.
Khi ban giám đốc đọc xong bản báo cáo liền ra lệnh khai trừ nhân viên
này. Tổng Giám đốc nói : " Chúng tôi gửi anh đi châu Âu để tận mắt khai
thác những sở trường của họ chứ không phải t́m những sở đoản của họ.
Chúng tôi không cần anh phát hiện những ǵ ḿnh đă làm tốt rồi. Chúng
tôi cần biết những điểm họ mạnh hơn ḿnh và thấy được những khuyết điểm
của ḿnh để sửa chữa. Chúng tôi không cần nghe những lời tự ca tụng, cái
đó nghe nhiều sẽ bị ru ngủ, làm cho phẩm chất sản phẩm của chúng ta
xuống thấp, công ty chẳng mấy lúc mà đóng cửa ".
Câu chuyện này có thể xem là một chuyện ngụ ngôn v́ từ nó chúng ta rút
ra được một bài học lớn. Cái chúng ta cần hôm nay không phải là phát
hiện những thứ hay ho của ḿnh mà t́m ra những cái ngăn chặn sự tiến bộ
của dân tộc Trung Quốc, cho chúng ta thấy được nguyên nhân đang cản trở
sự hùng mạnh của đất nước.
Lúc năy ăn cơm trưa, có vài người bạn quan tâm đến việc học tập của con
cháu chúng ta, sự tốn kém của học phí đại học. Tôi cũng thấy được rằng
người Trung Quốc dù khổ sở nghèo khó thế nào đi nữa cũng đều cố gắng cho
con cháu ḿnh được học hành. Đó là một điểm mạnh, một ưu điểm của dân
tộc Trung Quốc, tôi không cần các bạn nhắc lại quá nhiều nữa. Cái tôi
muốn nói hôm nay là những khuyết điểm của dân tộc chúng ta. V́ chỉ nói
ưu điểm th́ không thể tự cứu được ḿnh, muốn tự cứu được ḿnh phải biết
nói lên những khuyết điểm của ḿnh.
Điểm thứ nhất :
Trung Quốc có lịch sử 5.000 năm. Trong 5.000 năm ấy, lực lượng phong
kiến chà đạp lên phẩm giá, nhân tính con người không phải ngày càng giảm
thiểu mà ngày một gia tăng.
Thời Xuân Thu Chiến Quốc, vua và quan c̣n gần như cùng ngồi ngang hàng
nhau, có thể nói nằm cùng gường ăn cùng mâm. Đến thời Tây Hán, thế kỷ
thứ II trước Công nguyên (206 BC-AD 25), Thúc Tôn Thông đặt ra nghi lễ
triều đ́nh dưới triều hoàng đế Lưu Triệt vào lúc học phái Nho gia đang
nắm quyền. Nghi thức này biến đế vương thành một thứ quyền uy, không
những rất trang nghiêm, cung kính mà c̣n làm cho mọi người khiếp sợ.
Khi Đại thần vào triều kiến Hoàng đế có vệ sĩ kè kè bên cạnh, bất kỳ ai
có thái độ không hợp quy cách, như kiểu vô t́nh ngẩng đầu lên nh́n một
cái cũng có thể bị xử phạt. Những thay đổi này làm cho vua chúa xa cách
nhân dân, lúc nào cũng giữ một khoảng cách, nhưng dưới trướng Hoàng đế
các Đại thần vẫn c̣n có chỗ ngồi.
Đến thế kỷ thứ X dưới triều Tống (960- 1279) th́ cái địa vị này cũng
không c̣n nữa. Việc Tể tướng cùng ngồi với Hoàng đế để luận đạo đă vĩnh
viễn mất. Cái cải cách rất nhỏ này nhưng ư nghĩa rất lớn. Nghĩa là giữa
vua tôi, quan dân khoảng cách càng ngày càng lớn.
Đến thế kỷ XIV dưới triều Minh (1368 - 1644), cái nhân phẩm c̣n bị chà
đạp đến độ không tưởng tượng được. Nhà vua đối với thần dân của ḿnh
khinh thị như cừu thù. Triều Minh này lập ra cái quan niệm " vua cha ".
Vua là cha, Hoàng đế là bố của tất cả mọi người trong nước. Cái quan
niệm này khi được thiết lập rồi lại sinh ra các hủ tục khác không kể
xiết. Trong những thứ ấy, cái đáng sợ nhất là " đ́nh trượng ". Từ Tể
tướng đến tiểu quan, chỉ cần bị xem là phạm pháp đều có thể bị nọc ra
giữa cung điện, giữa công đường, hoặc ngay tại một chỗ công cộng, dùng
gậy đánh cho đến thịt rơi máu văi. Cái chế độ " đ́nh trượng " kết hợp
với tư tưởng " vua cha " làm cho ḷng tự trọng của người Trung Quốc gần
như mất hẳn, làm cho nhân cách của họ hầu như không c̣n ǵ . Cách duy
nhất để giữ được ḷng tự trọng là cố gắng không kêu la khi bị đánh. Để
khỏi kêu la thường những viên quan kiên cường đă chà xát mặt xuống đất
mạnh đến nỗi sau đó râu rụng không c̣n sợi nào. Thời đó, phản ứng duy
nhất có thể làm được là như vậy, không có cách phản kháng nào khác.
Chúng ta thường bảo rằng dân Trung Quốc là một dân tộc có sức đồng hóa
phi thường, và cho đến ngày nay vẫn đúng như vậy. Chúng ta có thể thấy
bao lần trong lịch sử, sau khi chiếm được Trung Quốc, những dân tộc
ngoại xâm cuối cùng cũng đều bị đồng hóa. Sớm nhất là thời Bắc Ngụy (368
- 534), Hiếu Văn Đế Thác Bạt Hoành (Hoằng) sau khi chiếm được Trung Quốc
lại sử dụng hệ thống chính trị của Trung Quốc để cải cách, canh tân.
Triều Măn Thanh cũng thế. Hai lần bị xâm lược lớn nhất này lại là hai
lần thắng lợi lớn nhất của văn hóa Trung Quốc.
Nhưng ta phải chú ư điều này : Những kẻ xâm lược cố nhiên đều hấp thụ và
kế thừa văn hóa Trung Quốc, nhưng lại tiếp thu cái phần kém nhất của văn
hóa Trung Quốc, nên kết cục cũng chẳng ra ǵ. Thay v́ trở nên hùng mạnh
th́ cả dân tộc họ lẫn dân tộc Trung Quốc lại càng suy thoái. Ví dụ như
hoàng đế Bắc Ngụy là Thác Bạt Hoành tuyên bố cấm người Tiên Bi (Ty) nói
tiếng Tiên Bi, nhất loạt đều dùng tiếng Trung Quốc, ngoài ra lại đổi tên
họ ḿnh thành tên họ Trung Quốc, áp dụng chế độ cung đ́nh phong kiến,
chế độ gia thế, quư tộc Trung Quốc mà họ không hề có. Trước kia họ là
dân du mục trên các thảo nguyên, đầu óc khoáng đạt. Tôn ty trật tự,
khoảng cách giữa các giai tầng xă hội không lớn lắm. Những thứ tốt đẹp
đó đều bị phá hoại cả.
Thính giả: - Xin hỏi " đ́nh trượng " là thế nào?
" Đ́nh trượng " là " đánh đít ". Người bị đánh nằm sấp, bốn hoạn quan
giữ tay chân buộc chặt vào cọc, sau đó dùng bao tải trùm đầu, hai hoạn
quan đè đùi sát xuống đất. Vua ra lệnh đánh 100 trượng là đánh 100.
Thông thường không đánh quá 100 trượng, v́ 100 là cũng đủ chết rồi. Bọn
tay sai chấp hành lệnh quan sát sắc mặt vua. Nếu vua chỉ ghét thôi mà
không muốn giết, th́ đánh xong 100 trượng, kẻ bị đánh vẫn c̣n có thể
sống được. Nhưng nếu ư ông con trời kia lại muốn giết, th́ chỉ cần ba
bốn mươi trượng là đủ toi mạng.
Nói chung các quan viên hay người có chức phận khi bị đánh phải đút lót
cho bọn hoạn quan, bọn này sẽ dùng thủ pháp đánh kêu rất to, trông rất
đau, máu thịt tơi bời, nhưng lại không phạm vào gân cốt, không chết
người. Bọn này đều được huấn luyện đến độ có thể dùng giấy bọc một bó
rơm, đánh cho rơm bên trong nát mà tờ giấy không hề rách. Ngược lại họ
có thể đánh làm sao không để lại thương tích ǵ trên da thịt mà bên
trong gân cốt đều nát bấy. Chế độ đánh đ̣n này làm nhân phẩm hoàn toàn
bị phá sản. Thế kỷ XIV, XV tại châu Âu đă là thời Phục Hưng nhưng tại
Trung Quốc, hỡi ôi ! vẫn c̣n là thời kỳ đánh đít.
Xin quay lại vấn đề. Dân Mông Cổ là một dân tộc rất kỳ quái, sau khi đă
xâm nhập vào Trung Quốc vẫn giữ một thái độ chống đối văn hóa Trung
Quốc. Trong ṿng 180 năm, lúc đến thế nào th́ ra đi thế ấy, không hề bị
nhiễm văn hóa Trung Quốc.
C̣n nhà Thanh, sau khi được thành lập lại thừa kế cấu trúc xă hội và hệ
thống chính trị của triều Minh, thời kỳ hắc ám nhất, làm cho chính quyền
mới đă có mầm mống bị đục ruỗng để cuối cùng không thể nào cứu văn được
nữa.
Nhân quyền bị chế độ phong kiến, xă hội phong kiến chà đạp trong một
thời gian lâu dài như vậy cơ hồ chẳng c̣n ǵ. Cái ảnh hưởng của việc này
rất lớn đối với người Trung Quốc, nó làm người Trung Quốc không giữ được
ḷng tự trọng nữa.
Cái tự trọng c̣n lại chẳng qua cũng chỉ là cái tinh thần tự dối ḿnh như
A Q trong truyện của Lỗ Tấn. Cái tinh thần đó và cái ḷng tự trọng chân
chính khác nhau một trời một vực. Ví dụ tôi đến thăm anh, thấy anh nhà
cao cửa rộng, học vấn uyên bác, trong ḷng tôi kính phục, hâm mộ anh.
Trên đường về đáng lẽ tôi nghĩ phải cố gắng phấn đấu, làm việc, học hành
để có thể được như anh. Đằng này lúc ra khỏi nhà anh tôi lại bảo: ở nhà
đẹp thế! Không biết ăn cắp hay ăn cướp ở đâu ra lắm tiền! Cầu trời cho
ngày mai có đám cháy thiêu trụi cái nhà nó đi cho rồi !
Tâm lư dân tộc ta bị ức chế lâu ngày chỉ biết dùng cái tinh thần đó để
tự thỏa măn.
Điểm thứ hai :
Trong suốt 5.000 năm lịch sử, Trung Quốc chỉ có ba thời đại hoàng kim.
Thời đại đầu là Xuân Thu Chiến Quốc (770 - 476 trước Công nguyên) - thời
này có rất nhiều trường phái tư tưởng, nhiều lối sống khác nhau cùng
xuất hiện. Thời đại thứ hai phải là đời Đường (618 - 907) - từ Đường
Thái tông Lư Thế Dân đến Đường Minh Hoàng Lư Long Cơ khoảng 100 năm (650
- 756). Thời kỳ thứ ba là 100 năm đầu của nhà Thanh (1644 - 1911).
Trong 5.000 năm lịch sử Trung Quốc chỉ có ba thời đại hoàng kim này. C̣n
hơn 4.000 năm kia, cơ hồ mỗi năm, thậm chí mỗi ngày đều có chiến tranh.
Một học giả Tây phương đă làm thống kê chứng minh rằng từ khi nhân loại
có lịch sử đến giờ, không năm nào không có chiến tranh. Hiện tượng này
đối với lịch sử Trung Quốc cũng chẳng khác.
Riêng tôi cũng đă làm qua thống kê, lại c̣n viết thành một bộ sơ cảo : "
Lịch biên niên những thời đại chiến loạn của sử Trung Quốc " (Trung Quốc
sử đại chiến loạn biên niên lịch) cho thấy ở Trung Quốc năm nào cũng có
chiến tranh. Nhưng không thể đem Trung Quốc so sánh với thế giới được.
Thế giới là một đơn vị quá lớn so với Trung Quốc, nhất là vào đời nhà
Minh th́ bản đồ Trung Quốc chỉ bằng thời Tần ở thế kỷ thứ II trước Tây
lịch, nghĩa là bằng khoảng một nửa bản đồ hiện nay.
Thế mà trong một bản đồ nhỏ như thế, mỗi năm đều có chiến tranh ! Chỉ
căn cứ trên những chiến tranh lớn được ghi chép lại, các chiến sự nhỏ
không thuộc phạm vi thống kê này, th́ cũng có thể thấy rằng loạn lạc,
chiến tranh ở Trung Quốc đáng sợ vô cùng.
Khi một triều vua này thay thế một triều vua khác, cái thời kỳ quá độ
đầy hỗn loạn có thể kéo dài từ 30 đến 50 năm. Từ lúc đoạt chính quyền
đến lúc ổn định, lại cần khoảng 20 năm nữa. Rồi tiếp đó là cái ṿng luẩn
quẩn bắt đầu bằng sự thối nát của chính quyền vừa đoạt được, các lực
lượng phản kháng lại trỗi dậy, rồi kéo đến những hỗn loạn lớn. Chiến
tranh lại bắt đầu, rồi cái ṿng trị loạn, tranh giành, chém giết cứ tiếp
diễn.
Có thể nói rằng người Trung Quốc trường kỳ, thậm chí vĩnh viễn, sinh ra
và lớn lên trong tham ô, hỗn loạn, chiến tranh, giết chóc, bần cùng, cho
nên chẳng bao giờ có cảm giác được an toàn, lúc nào cũng hoảng hốt, lo
âu.
Chúng ta có lịch sử lâu đời, lại có đất nước mênh mông, đầu óc tất phải
khoáng đạt, lớn lao, cởi mở, tự tin. Thế mà ngược lại chỉ v́ bần cùng,
giết chóc, đố kỵ một cách lâu dài thành ra ḷng dạ chúng ta thành hẹp
ḥi.
Chỉ cần ngày hôm nay có thể qua đi là được rồi, ngày mai thế nào không
cần biết. Chiến tranh sẽ c̣n kéo dài đến mức độ nào, ai mà thấy trước
được ! Chiến tranh ảnh hưởng đến thủy lợi, thủy lợi bị phá hủy rồi th́
đến hạn hán lớn, sau hạn hán là đến nạn châu chấu.
Những tai họa này, hạn hán, ngập lụt, châu chấu, rồi đất hoang ngh́n
dặm. Trong lịch sử, cái câu " Người ăn thịt lẫn nhau " không biết đă
xuất hiện đến mấy chục lần hay mấy trăm lần. Nếu chúng ta nghĩ rằng
chúng ta là một dân tộc có văn minh cao, sao lại có thể có cái hành vi
dă man ấy ? Cũng chỉ v́ những tai nạn đối với chúng ta quá nhiều, lại bị
tai nạn quá lâu !
Chẳng cần nói quốc gia dân tộc ǵ cả, chỉ nói từng cá nhân, một con
người nếu bần cùng quá lâu ngày, quá ư khổ sở, người ấy rồi đối với bất
cứ sự việc ǵ cũng đều sinh ra cái tâm lư nghi ngờ.
Mấy hôm trước khi ra tù, một quan chức kêu tôi ra bảo : " Tôi báo cho
anh một tin mừng, anh sắp được thả rồi! ". Tôi nói: " Tôi chán thịt thỏ
lắm rồi! ". Anh ta bảo:" Anh không tin tôi à? Tôi nói dối anh làm ǵ? ".
Tôi phải yêu cầu anh ta đem giấy đến cho tôi xem.
Bởi v́ tôi đă từng quá tin, từng bị gạt quá nhiều, mỗi lần như vậy đều
thất vọng. Một người bị nạn quá lâu có quyền không tin vào những tin tức
tốt. Một dân tộc cũng vậy. Bị đày đọa lâu ngày, mọi người cho rằng sang
một triều đại mới có thể rồi sẽ như thế này, thế nọ. Kết quả gần như
không có một lần nào là không hụt hẫng.
Có người hỏi: tại sao Trung Quốc không có kiến trúc lớn mà nước ngoài
lại có? - ấy là v́ các kiến trúc Trung Quốc thường làm bằng gỗ, dễ bị
mục. Tôi cho rằng đó không phải là câu trả lời đúng mà nguyên nhân là v́
cứ sau mỗi một triều đại mới lên là chúng lại bị đem đốt đi.
Nhà Tần để lại những cung A Pḥng đẹp như thế, nhưng Hạng Vũ cho rằng đó
là mồ hôi nước mắt của dân, do chính trị bạo ngược làm ra, bèn cho một
mồi lửa. Chỉ mấy hôm sau, Hạng Vũ lại cho xây một cung điện khác. Rồi
qua mấy hôm nữa sẽ có một kẻ khác phê b́nh cho rằng đấy là bạo chính, là
mồ hôi nước mắt nhân dân, lại thiêu rụi đi. Cứ như thế mà đi đến chỗ măi
măi nghèo xơ xác, không có cách nào mở mang được đầu óc, xây dựng được
ḷng tự tôn.
Lại có câu cách ngôn " Đa nạn hưng bang " (nhiều nạn th́ dựng được
nước). Trước tiên chúng ta cần hiểu rằng cách ngôn thuộc về cảm tính,
trong một điều kiện đặc biệt nào đó, nó là chân lư, nhưng nó không hề có
tính khoa học. Nếu " nạn " mà quá nhiều th́ làm cách nào " hưng bang "
được ? Đối với cách ngôn nhất định cần có nhận thức.
Lại lấy một ví dụ nói " Ai binh tất thắng " (Quân lính đau buồn th́ sẽ
thắng trận), điều này có thể không có ǵ là chắc chắn. Ai binh chẳng đă
từng thất bại đầy rẫy!Một đội quân dù lớn mà rốt cuộc bị tiêu diệt, lúc
đó không phải thànhai binh th́ là ǵ ? Giống như khi Carthage (Các-ta-giơ
ở Bắc Phi) chống lại La-Mă, đến lúc cuối cùng cơ hồ cả nước đều là quân
binh, có thể nói " vừa khóc vừa đánh ", kết cục vẫn bị La-Mă tiêu diệt.
" Ai binh " chưa chắc đă thắng. " Nạn " mà quá nhiều chắc ǵ đă dựng
được nước ? Phải nói rằng " nạn " nhiều đúng mức, đúng thời may ra mới
có thể " hưng bang " được.
C̣n Trung Quốc th́ sao ? Dường như cái " nạn " lại quá nhiều. Cũng may
là cái quá nhiều đó chưa đạt đến độ tiêu diệt cả chúng ta, nhưng cũng đă
đến cái chỗ đủ nhiều để làm cho chúng ta mất cả linh tính.
Điểm thứ ba :
Chúng ta phát hiện được trong lịch sử Trung Quốc một hiện tượng kỳ quái
mà các nước khác không có, đó là chế độ khoa cử, hay gọi tắt là " Quan
trường ".
Nhật Bản hấp thụ văn hóa Trung Quốc một cách toàn diện. Không cái ǵ
Trung Quốc có mà họ không từng tiếp nhận, từ cái nhỏ như manh chiếu (Tatami),
đôi guốc (Geta), đến cái lớn như chế độ, tổ chức chính trị, v.v.., nhưng
chỉ có một điểm mà họ không tiếp nhận, mà điểm này đă giúp họ trở thành
một nước hùng cường rất nhanh chóng trong thời Minh Trị Duy Tân, đó là
chế độ khoa cử.
Chế độ khoa cử Trung Quốc cũng có những tác dụng tốt, nhưng lại đẻ ra "
vấn đề quan trường ". Quan trường là một cái mạng nhện kỳ quái, nh́n th́
không thấy, sờ không đụng, nhưng lúc bị rơi vào rồi mới biết. Ta không
thể dùng chữ Bureaucrats tiếng Anh để dịch chữ " quan liêu " trong tiếng
Trung Quốc được, bởi chữ này không lột tả hết được cái đặc trưng của nó.
Quan liêu chẳng trung thành với quốc gia, lănh tụ ǵ cả, chỉ tận tâm tận
lực với kẻ cất nhắc nó lên làm quan. Các triều đại Trung Quốc có thể
thay đổi, song quan trường vẫn thế.
Người Măn Thanh sở dĩ thống trị được người Tây Tạng, người Mông Cổ,
người Hán v́ biết nhắm vào nhược điểm của các dân tộc này.
Đối với người Tây Tạng họ dùng đạo Lạt-ma, mời những tăng lữ lạt-ma đến
Bắc Kinh và đối xử với họ cực kỳ cung kính.
Đối với người Mông Cổ th́ họ dùng thủ đoạn hôn nhân, gả những công chúa
cho những hoàng tử Mông Cổ, con cái lai sinh ra thành ra con cháu của
ḿnh, đem chúng nuôi dưỡng ở cung đ́nh nhà Thanh. Các vương tử đó một
khi lớn lên không thể nào phản lại chú bác cô d́ của chúng.
Trong khi đó công chúa Măn Châu không bao giờ lấy người Hán. Người Măn
Châu trị người Hán bằng phương pháp khoa cử. Họ biết người Trung Quốc có
cái khuyết điểm là thích làm quan. Nếu tôi cho anh cái hy vọng được làm
quan th́ anh có thể ngoan ngoăn đem giao ngay hết cả ư thức dân tộc lẫn
phẩm giá con người.
Sở dĩ " Quan trường " có cái bộ mặt của các xă hội thần bí v́ nó mang
những tiêu chuẩn cư xử và những quan niệm về giá trị rất đặc thù.
Nó không trung thành với vua, vua thay th́ nó vẫn làm quan. Nó cũng
không sợ mất nước, nước mất, chỉ cần nó vẫn được làm quan th́ nó vẫn
làm. Cái xă hội ăn chơi, phù hoa là nơi các quan ra oai, tự nhiên h́nh
thành một hệ thống tương hỗ bao che giữa các quan với nhau - một quan hệ
vô cùng phức tạp.
Quyển sách " Quan trường hiện h́nh kư " là một quyển sách phân tích cái
cấu trúc của chế độ quan trường Trung Quốc dưới cặp mắt nghiên cứu những
vấn đề xă hội. Bởi v́ từ khi quan trường được thiết lập, những quan hệ
giữa người với người tại Trung Quốc càng trở nên tinh xảo. Các vị ở Mỹ
lâu năm có thấy rằng cái quan hệ giữa con người ở Mỹ so với Trung Quốc
th́ quá đơn thuần không ?
ở Trung Quốc có một câu nói: " Làm việc th́ dễ, làm người th́ khó! ".
Làm người là thế nào nhỉ ? Tức là làm sao cho cái quan hệ giữa con người
với nhau được tốt đẹp.
Có một vở Kinh kịch (kịch Bắc Kinh) nhan đề " Thẩm đầu thích thang "
(khám đầu t́m kẻ giết ông Thang) trong đó có một quan ṭa, một vị bồi
thẩm và một góa phụ nhan sắc xinh đẹp mà chồng vừa bị mưu sát. Trong
phiên ṭa người đàn bà góa ôm một đầu người đứng khóc. Nhiệm vụ của ṭa
là phải xác minh xem đấy là đầu của ai. Nếu đúng là đầu của chồng bà ta
th́ vụ án xem như có thể kết thúc. Nhưng nếu là đầu của một người khác
th́ vụ án này c̣n liên quan đến rất nhiều người, và có thể sẽ c̣n nhiều
người khác sẽ chết. Ông bồi thẩm có ư thích người đàn bà góa trẻ đẹp
này, và bà này cũng ra ám hiệu cho ông ta biết là bà ta sẽ ưng thuận tái
giá với ông ấy, nên ông này một mực rằng đấy là đầu của chồng bà ta.
Nhưng sau khi xem chừng vụ án có vẻ xong xuôi, bà góa bèn tỏ ư không
muốn lấy ông bồi thẩm nữa. Ông này cũng lập tức quay phắt ra nhất quyết
bảo cái đầu ấy lại không phải là của chồng bà ta nữa. Vở kịch này tiêu
biểu cho cái phản phúc trong quan hệ quan trường của người Trung Quốc
chúng ta. Đầu thật, đầu giả cho đến phút cuối cùng cũng không ai có thể
biết như thế nào.
Tôi nghĩ rằng trong chúng ta nhiều người đă về làm việc ở Trung Quốc
hoặc sẽ về làm việc trong tương lai, tôi tin chắc khó khăn các vị gặp
phải thường không dính dáng đến bản thân công việc, mà dính đến những
người cùng làm việc với các vị.
Nói ví dụ anh làm việc ở một ḷ nguyên tử. Anh có biết ǵ về nguyên tử
hay không, đó là một vấn đề thuộc công việc. Nhưng sẽ rầy rà to nếu một
hôm anh cần một đinh ốc cho ḷ phản ứng mà người quản lư ốc vít lại nghỉ
việc. Anh ta bị ốm, đương nhiên xin nghỉ, anh không thể cấm người ta ốm
được. Nhưng sự thật anh ta lại không hề cảm cúm ǵ cả, chỉ nghỉ để đi
đánh mạc chược? Tại sao?
Bởi v́ quan hệ giữa anh và người ấy không được tốt đẹp. Cái ḷ nguyên tử
của anh có hoạt động được hay không, thậm chí có bị nổ tung đi nữa, cái
việc ấy người đó cũng cóc cần. Nếu anh bảo nước nhà bị thiệt hại th́
cũng kệ, tôi cứ việc quan tôi làm.
Đó là cái đầu óc quan trường tích lũy từ mấy ngh́n năm, một chứng bệnh
vẫn c̣n duy tŕ đến cuộc Bắc Phạt của quân Cách mạng Quốc dân năm 1928.
Về mặt quân sự, trong khi quân đội đánh dẹp các sứ quân ở miền Bắc, th́
về mặt chính trị cái chất độc của quan trường lại tràn xuống miền Nam.
Trước kia giữa những đồng chí cách mạng t́nh cảm rất trong sáng, nhưng
khi đă bị cuốn hút vào giới quan trường bỗng trở thành phức tạp ghê gớm,
phức tạp đến độ một người lành mạnh không thể nào chịu nổi.
Cái quan hệ giữa con người với nhau trở thành một loại keo dính đến độ
hễ dán vào rồi là không thể nào gỡ ra được nữa. Có ai trong các vị thấy
điều đó khi về nước không?
Lấy một ví dụ khi anh về nước, bạn bè mời anh đi ăn cơm, anh dám cả gan
từ chối th́ t́nh bạn sẽ từ đó bị sổ toẹt ngay. Đó là đặc tính của quan
trường, nó làm cho quan hệ con người trở nên khúc mắc ghê gớm. Tại sao
lại như thế ? Tại sao anh ta phải xử sự như vậy ? Bởi v́ làm như thế th́
cái địa vị của anh ta mới càng thêm vững chắc.
Tôi có một người bạn về Đài Loan được một người chưa hề quen mời ăn cơm.
Sau khi ăn xong, người này mới nhờ anh đem dùm về Mỹ một món đồ. Người
này làm ra vẻ nhờ vả rất tự nhiên, như thể bạn bè vẫn thường giúp đỡ
nhau chứ không phải đánh đổi một bữa cơm để lấy chuyện đưa đồ.
Cái hiện tượng quan trường là như vậy, giống kiểu anh làm ḷ nguyên tử,
cái ḷ phản ứng hạt nhân này rất nguy hiểm không phải ai cũng mó vào
được. Nhưng người nọ lại cho rằng đă là bạn bè với nhau cho anh ta sờ
đến một cái th́ đă sao.
Thường thường một người trước khi làm quan và sau khi được làm quan là
hai loại người khác nhau. Thật ra nói như vậy không lô-gíc. Chỉ có thể
nói rằng hễ cái " quan tính " của một người càng hưng thịnh th́ cái nhân
tính của người đó càng biến mất đi. Không c̣n nhân tính nữa, chỉ c̣n cái
quan tính lúc làm quan. Cho đến một ngày tất phải về hưu, lúc đó cái
nhân tính may ra mới hồi phục.
Sự tồn tại của quan trường làm cho cách làm việc tại Trung Quốc trở
thành rất đặc biệt, khiến cho quỹ đạo của sự phát triển văn hóa đi lệch
hướng.
Điểm thứ tư :
Tôi cho rằng Khổng Khâu (Khổng Tử) là một nhân vật vĩ đại, tri thức uyên
bác, lại có một tấm ḷng nhân hậu và những cống hiến lớn đối với xă hội.
Cái Nho giáo do Khổng Khâu cùng những học phái Nho gia sau này lập ra
đều đă ảnh hưởng đến người Trung Quốc một cách sâu rộng, và c̣n ảnh
hưởng ngay cả đến chúng ta ngày nay. Nhưng tinh thần nhà Nho là một tinh
thần bảo thủ, nói một cách nghiêm túc hơn th́ nhà Nho không những rất
bảo thủ mà c̣n phản tiến bộ.
Chữ " Nho " này vào thời Xuân Thu Chiến Quốc chỉ được dùng theo nghĩa sử
dụng trong nghi lễ cúng tế. Một nhà Nho là một người hiểu biết cái tŕnh
tự cúng tế. Gặp lúc quốc gia cần các nghi lễ mới cần loại người này đóng
góp ư kiến. Bản chất loại người này vốn nệ cổ. Thời đó chưa có lễ nhạc
mới, phải dùng lễ nhạc thời cổ. Để có miếng cơm nhà Nho phải giữ ǵn sao
cho nghề nghiệp của họ được ổn định nên sinh ra thói nệ cổ. Nếu chúng ta
không dùng từ nệ cổ, sùng bái những cái cũ, v́ cho rằng nó có nghĩa xấu
th́ cũng phải bảo là họ rất bảo thủ.
Cái tinh thần bảo thủ này ở Trung Quốc đă trở thành một ư thức bền bỉ,
làm cho xă hội mất hết sức sáng tạo, mất tập quán tự t́m hiểu, tự phê
phán.
Bạn bè lúc nói chuyện về nước Mỹ (xin lỗi, tôi cứ múa búa trước cửa Lỗ
Ban, tôi muốn nói chơi thôi, xin quư vị cứ nghe chơi chứ đừng tin thật!
), có người nói về việc đàn áp chủng tộc, nào tàn sát dân da đỏ, ngược
đăi da đen, kỳ thị da vàng. Tôi đă từng đi tham quan đảo Angel
(En-giơn), đă được nh́n thấy chữ và những ḍng thơ người Trung Quốc để
lại nói lên những sầu thảm và đau khổ của đời họ.
Những khuyết điểm này của nước Mỹ có thật không ? Dĩ nhiên là có thật,
thậm chí c̣n hơn sự tưởng tượng của chúng ta nữa. Nhưng chúng ta phải
lưu ư thêm một vấn đề khác, đó là đối với các khuyết điểm kia họ có khả
năng sửa đổi không? Tự họ có ư thức được vấn đề không ? T́nh h́nh hiện
nay so với trước có khá hơn không ? Nếu không th́ tiền đồ của nước này
chắc chắn cũng không sáng sủa ǵ. Nếu có th́ chúng ta phải thấy rằng đấy
là một quốc gia vĩ đại, có một sức sống dồi dào.
Trước kia nước Mỹ có " cây treo cổ người ", bây giờ không c̣n nữa. Xưa
kia nước Mỹ đối với tù nhân có dùng " nhà lao nước ". Bây giờ khi bắt bớ
người, họ phải đọc điều thứ 9 của Hiến pháp cho người ấy. Nước Mỹ đă có
những điều sai lạc, nhưng lại có năng lực sửa sai.
Nhưng dân tộc Trung Quốc chúng ta lại hoàn toàn không có năng lực này.
T́nh trạng nệ cổ lâu dài, không cầu tiến, bảo thủ, đă làm cho cái năng
lực này tiêu tan.
Nh́n lại lịch sử chúng ta sẽ thấy Thương Ưởng - một nhà tư tưởng đời Tần
- đă dùng luật pháp biến đổi nước Tần như thế nào. Trước đó dân chúng
sinh hoạt trong gia đ́nh, bố mẹ, con cái, anh chị em, lớn nhỏ đều nằm
chung trên một giường gạch lớn ( cái kháng, một loại giường xây bằng
gạch hoặc đất, ở dưới có bếp lửa vừa để nấu ăn vừa sưởi ấm vào mùa
đông).
Thương Ưởng dạy họ cách sống văn minh bằng cách bắt bố mẹ, con cái không
được ngủ chung pḥng, anh trai, em gái cũng vậy. Điều này cho thấy vào
thời đó chúng ta là một quốc gia man rợ và lạc hậu đến dường nào.
Thương Ưởng chẳng phải đă phát minh ra bom nguyên tử, cũng không phải đă
cải cách về mặt vật chất, nhưng đă dùng pháp chế để tạo ra một chế độ
mới, một xă hội mới, giáo dục con người về mặt văn hóa. Và cải cách đó
của ông cơ bản đă thành công.
Thương Ưởng là người của thế kỷ thứ IV trước Tây lịch. Hơn 2.000 năm sau
đó chưa có ai đột phá thêm một lần nữa, làm được những cải cách cơ bản
như vậy. Cứ mỗi lần có người muốn đột phá, cuối cùng đều thân bại danh
liệt, cửa nhà tan nát, tính mạng không c̣n. Chính số phận Thương Ưởng
rồi cuối cùng cũng bị ngũ mă phân thây. Nho gia học phái thường thường
vẫn lấy cái kết cục bi thảm của Thương Ưởng để răn đe những kẻ muốn cải
cách và uy hiếp sự tiến bộ của người Trung Quốc.
Trong lịch sử Trung Quốc c̣n có một nhà cải cách lớn nữa là Vương An
Thạch, một người mà đạo đức, học lực cùng sức làm việc đều không có chỗ
nào có thể chê được. Nhưng những cải cách của ông toàn gặp trắc trở lớn.
Trương Cư Chính cũng vậy, ông cũng gặp một kết cục thê thảm như Thương
Ưởng, lúc vừa mất th́ nhà bị niêm phong, con bị bỏ đói cho chết. Rồi đến
cuộc cải cách năm Mậu Tuất (1898) của Khang Hữu Vi cũng chẳng khác ǵ,
tất cả đều thất bại !
Nho gia học phái có một cách nói : " Nếu không có lợi mười phần th́
không cần cải cách ! " (Lợi bất thập, bất biến pháp). Đại ư muốn nói
rằng nếu lợi ích không đạt 100 % th́ không nên cải cách. Cái quan niệm
này là một nguyên nhân lớn nhất làm cho dân tộc Trung Quốc chúng ta
không thể tiến bộ, không thể hùng mạnh được. V́ bất cứ một cải cách nào
cũng không thể đem lại mười phần mười lợi ích cả. Chỉ cần đạt lợi ích
lấy năm phần rưỡi của mười phần cũng là lớn lắm rồi.
Tối hôm qua có vài vị nói chuyện về vấn đề phiên âm tiếng Hán, có người
đề cập đến khuyết điểm này, có người nói đến khuyết điểm khác, nhưng
trên đời này thử hỏi có cái cải cách nào mà không có khuyết điểm ? Cái
th́ có vấn đề về mặt t́nh cảm, cái th́ về mặt lư luận. Nếu anh muốn 100
% không có vấn đề th́ trên đời này làm ǵ có được cái chuyện quái dị đó.
V́ tinh thần nhà Nho vốn bảo thủ nên có lần một vị hoàng đế triều Tống
hỏi Tư Mă Quang: " Có nhất định cần cải cách không? Ví như cứ giữ được
luật pháp của Tiêu Hà từ triều Tây Hán mà không thay đổi ǵ có được
không? " Tư Mă Quang đáp: " Đương nhiên là được, bởi v́ có quá nhiều kẻ
ngông cuồng, bọn hiếu sự cứ muốn sửa đổi lăng nhăng chỉ tổ tạo dịp may
cho đạo tặc hoành hành. Nếu không muốn thay đổi ǵ th́ những phong tục
tốt đẹp từ thời Nghiêu Thuấn cũng có thể giữ đến ngày nay ".
Tư Mă Quang là một kiện tướng trong giới quan trường thời bấy giờ. Cái
loại sâu mọt hại nước, hại dân này là một trở lực cực lớn cho sự tiến bộ
của Trung Quốc.
Lúc vừa lên Tể tướng, việc đầu tiên Tư Mă Quang làm là xóa sạch toàn bộ
những luật pháp mới của Vương An Thạch, gồm cả đạo luật rơ ràng mười
phần hiệu quả về cách tuyển người (Mộ dịch pháp). Tô Đông Pha và con của
Phạm Trọng Yêm là Phạm Thuần Nhân đều đứng ra phản đối. Tư Mă Quang liền
trở mặt ngay với họ.
Điều này cho thấy ở thời đại Bạn Cước Thạch bọn quan trường chẳng kể thị
phi, chẳng nghĩ đến lợi ích nhân dân, chẳng trung thành ǵ với nguyên
thủ quốc gia, mà chỉ trung thành với lợi ích bản thân.
Tư Mă Quang thật ra cũng chẳng phải là một nhà chính trị ǵ cả, bất quá
chỉ là một tên quan trường dơ bẩn thế thôi.
Điểm thứ năm :
Vấn đề cuối cùng tôi muốn nói là cái tác hại của nạn dân số quá đông. Cứ
sau các cuộc nội chiến, thay đổi triều đại là dân số nổ bùng. Thế rồi
cái ṿng luẩn quẩn bi thảm lại bắt đầu : chiến tranh, tàn sát, tử vong.
Có người bảo cái đất Mỹ sướng quá, mức sống cao thế ! Không biết các vị
có chú ư một điều là dân số Mỹ chỉ có 260 triệu người. Giả sử dân số Mỹ
tăng lên một tỷ người hoặc tất cả dân Trung Quốc lại dọn sang Mỹ ở th́
t́nh h́nh sẽ ra sao ?
Vấn đề dân số là một vấn đề nguy ngập. Nếu Trung Quốc muốn trở nên giàu
mạnh tất phải liều mạng giảm dân số.
Có câu nói " Nhiều người th́ làm băng băng, ít người th́ ăn bánh ḿ hấp
" (một loại bánh rẻ nhất). Thời xưa th́ có thể như thế thật nhưng thời
nay th́ không. Người nhiều quá chỉ tổ thất nghiệp. Một trăm người làm
chẳng bằng một cái điện năo (máy vi tính).
Câu " ít người th́ ăn bánh ḿ hấp " là một chân lư đă lỗi thời. Thu nhập
gia đ́nh nuôi hai, ba đứa con th́ c̣n đủ để duy tŕ một mức sống tương
đối khá. Nhưng nếu chẳng may không để ư mà có 200 đứa, th́ lấy ǵ mà
nuôi chúng nó ? Tiền ăn, ở, tiền học, tiền quần áo,... lấy đâu ra ?
Trung Quốc người quá đông, nghèo khổ quá lớn, quan trường quá mạnh, cạnh
tranh quá khắc nghiệt, những lư do này sinh ra nơi người Trung Quốc cái
hiện tượng bẩn, loạn , ồn, xâu xé lẫn nhau. Người Trung Quốc có câu "
Khí thế hung hăng " (lai thế hung hung) để nói việc chúng ta không biết
đối xử với nhau một cách có lễ độ.
Lúc tôi ở Los Angeles (Los Angeles) có người hỏi tôi cảm tưởng về nước
Mỹ. Tôi bảo nước Mỹ là một nước trọng lễ nghĩa. Lại hỏi thế Trung Quốc
có phải là một nước trọng lễ nghĩa không ? Tôi cho là Trung Quốc là một
nước tuyệt đối không trọng lễ nghĩa. Người Trung Quốc thật thô lỗ, hầu
như lúc nào cũng chuẩn bị sẵn một đ̣n để đánh phủ đầu đối phương.
Các vị chắc chắn có thể thấy người Trung Quốc rất ít cười. Phải chăng v́
quá nhiều hoạn nạn, đau khổ, sầu năo quá lâu làm cho họ không thể cười
nổi nữa ? Cho nên tôi mới thấy dân Mỹ thật là rất vui sướng, ít nhất đó
là nước Mỹ mà tôi gặp, tôi tiếp xúc. Một nước rất hạnh phúc, lương
thiện, hay giúp đỡ người khác. So sánh với người Mỹ th́ người Trung Quốc
lúc nào cũng lo âu, ḷng đầy những ư tưởng hận thù, chỉ sợ người khác
làm cho ḿnh thiệt hại. Trong cuộc sống lúc nào cũng lo ngay ngáy, đôi
mắt để tự vệ lúc nào cũng sẵn sàng long lên ṣng sọc.
Có người nói ở Mỹ người ta kỳ thị chủng tộc. Dĩ nhiên là có, nhưng sự
thật là không phải chỉ riêng ở Mỹ. ở nước nào mà không có kỳ thị chủng
tộc ? Nhưng ít nhất nước Mỹ cũng c̣n bao dung chúng ta, không những bao
dung con người mà c̣n dung túng cả những cái bất lịch sự, dơ bẩn, hỗn
loạn, ồn ào và sự xâu xé lẫn nhau của chúng ta nữa.
Đấy là những điều tôi đă " khảo sát " được khi đến Mỹ. Tôi rất tâm đắc
và nói ra thành thực không dấu diếm. C̣n những ưu điểm của chúng ta,
không cần nhắc lại làm ǵ, v́ có nói đi nói lại nó vẫn c̣n đó, không nói
nó cũng chẳng đi đâu mất. Tôi chỉ nhắc đến khuyết điểm để chúng ta có
thể tự phản tỉnh. Những khuyết điểm này vô cùng nghiêm trọng. Cái hũ
tương văn hóa của chúng ta chứa đựng biết bao vấn đề phức tạp. Phải làm
sao bây giờ ?
Tôi xin có vài ư kiến sau đây :
Những vấn đề này - nếu là vấn đề - th́ đối với chúng ta cái phản ứng đầu
tiên như một con người là phải tự ḿnh t́m ṭi, suy nghĩ. Từ mấy ngh́n
năm nay, toàn những người khác - thánh nhân, các quan lớn hoặc những
loại người như thế - đă thay chúng ta suy nghĩ. Tự ḿnh, chúng ta thấy
không cần suy nghĩ hoặc không dám suy nghĩ xem nên làm thế nào mới đúng.
Người Trung Quốc tựa hồ cứ như kẻ có nhu cầu luyện tập cho ḿnh thành
người ngốc đi.
Sau khi báo chí Đài Bắc đăng tin con trai tỷ phú Rockefeller
(Rốc-cơ-phê-lơ) đi thám hiểm New Guinea (Tân Ghi-ne) bị thổ dân ăn thịt,
tức th́ có nhiều người bảo : " Có phúc mà không biết hưởng, ḿnh mà như
nó th́ đi Ghi-nê làm khỉ ǵ ! "
Khi ở Phoenix (Phê-nic) tôi trú chân lại nhà một gia đ́nh Mỹ khoảng năm,
sáu ngày. Con gái chủ nhà tên là Margaret (Ma-ga-rét), 16 tuổi đă đi
Honduras (Ôn-đu-rát) để dậy cho người bản xứ hiểu được cách giữ ǵn đôi
mắt. Tŕnh độ vệ sinh ở nước này c̣n tệ hơn ở Trung Quốc nữa, nghĩa là
một nơi rất bẩn. Thế mà đúng lúc tôi ở đó th́ cô ta về nhà, kể chuyện
cho mẹ nghe, mặt mày hớn hở bảo rằng sang năm cô sẽ lại đi nữa, v́ cô
thấy cần giúp đỡ những người nghèo và lạc hậu ở nơi đó. Mẹ cô không
những đồng ư mà c̣n khích lệ cô.
Người Trung Quốc chúng ta có lẽ sẽ nghĩ rằng nếu là ḿnh chắc chẳng cần
đi đến cái nơi khỉ ho c̣ gáy đó làm ǵ. Nhưng người mẹ ở nước Mỹ kia lại
ca ngợi con gái ḿnh, cho rằng con gái ḿnh có ư thức, có ḷng tốt, biết
tỏ ra có thể xả thân v́ người khác, và v́ vậy rất lấy làm hănh diện.
Thật ra đối với tôi bà ta cũng chẳng có nhu cầu khoe khoang cái ḷng tốt
của cô con gái làm ǵ. Mà tôi cũng không thể cho cô ta làm quan hay tiền
bạc ǵ cả. Dưới mắt của bà ta chẳng qua tôi cũng chỉ là thành viên của
một dân tộc lạc hậu mà thôi. Cái động cơ trong thâm tâm người mẹ ấy chỉ
là ḷng chân thành.
Trong những hoàn cảnh tương tự người Trung Quốc lúc nào cũng sẽ quá
thông minh. Bởi tôi nghĩ rằng trên thế giới này không dân tộc nào, kể cả
dân tộc Do Thái, có thể thông minh như kiểu người Trung Quốc được. Nếu
một đối một, người Trung Quốc tất phải thắng. Nhưng nếu từ hai trở đi,
người Trung Quốc không thể nào không thua, bởi tựa hồ như thiên tính của
người Trung Quốc là không đoàn kết được với nhau. ư nghĩa của đoàn kết
là mỗi người đều phải hy sinh một phần quyền và lợi của ḿnh. Ví dụ, có
hai vật h́nh tṛn muốn dính sát lại với nhau th́ phải gọt ra thành hai
h́nh vuông bé hơn một tư. Nhưng chả ai muốn ḿnh bị gọt cả, chỉ muốn
người khác bị gọt thôi, kết cục làm sao đoàn kết được ?
Người Trung Quốc thông minh đến mức nào ? Đến độ khi bị đem đến ḷ sát
sinh, c̣n cố c̣ kè về giá cả của ḿnh, nếu kiếm thêm được vài đồng th́
chết rất hả hê.
Cái kiểu thông minh quá cỡ này nhất định sẽ thành kiểu ích kỷ quá cỡ. ở
Trung Quốc người nào mà không suy nghĩ một cách ích kỷ, cư xử một cách
ích kỷ đều bị chế diễu là ngu ngốc.
Người Trung Quốc không khoan dung, hễ ai có tâm địa tốt, rộng lượng với
người khác, tán dương người khác đều bị chửi là đồ ngốc. Có người tát
anh mà anh lại phản kháng, có người phạm pháp mà anh lại can ngăn th́
anh đúng là ngốc. Hễ cứ làm một việc mạo hiểm để sau đó không thể làm
quan, hoặc không thể phát tài, là mọi người đương nhiên cho anh là thằng
ngốc.
Tôi cho rằng để cứu dân tộc ḿnh, mỗi người Trung Quốc cần có ít nhiều
cái ngốc đó, nếu không rồi cũng sẽ dần ṃn suy đồi như dân da đỏ.
Tục ngữ có câu : " Người không ích kỷ th́ trời tru đất diệt " (nhân bất
tự tư, thiên tru địa diệt), nghĩa là ai mà không ích kỷ th́ bị người
khác xem là không có cách ǵ cứu chữa được. Chúng ta không thể nào tự
ḿnh bắt đầu, không cần dựa vào chính phủ hoặc người khác mà vào chính
bản thân ḿnh để làm một vài điều mà mọi người cho là ngốc nghếch chăng
?
Để kết luận, tôi cho rằng chúng ta đừng nên làm cho cái quan hệ con
người trở thành phức tạp. Phải bắt đầu bằng sự rèn luyện bản thân ḿnh,
con cái ḿnh. Ví dụ trẻ con ở Mỹ được mẹ chúng dạy cách thu dọn, lau
chùi bàn ăn, vứt rác vào thùng sau khi ăn xong. Những thứ giáo dục đó
phải bắt đầu từ bản thân, bắt đầu từ tấm bé. Sự huấn luyện này phải bắt
đầu như một khởi điểm cũng như một lịch tŕnh.
Người Trung Quốc có rất nhiều đức tính, nhưng đáng tiếc chúng chỉ ở trên
sách vở. Bây giờ chúng ta mong rằng chúng sẽ xuất hiện trên hành động.
Hăy thử xem chúng ta có làm nổi hay không ?
Tôi xin dứt lời v́ đă lạm dụng quá nhiều th́ giờ của quư vị, xin thứ lỗi
và xin chỉ giáo.
Phần thảo luận:
Thính giả : Ông vừa nói đến chế độ phong kiến dày xéo nhân quyền, cụ thể
trong thời nhà Minh. Thực ra t́nh h́nh phương Tây th́ có khác ǵ ? Tôi
nghĩ văn hóa hóa Tây phương cũng trải qua những thử thách của thời đại
quân chủ chuyên chế như vậy, nhưng tại sao họ lại có thể đẻ ra được quan
niệm nhân quyền và chủ nghĩa tự do mà Trung Quốc cho đến ngày nay vẫn
không làm được ?
Bá Dương : Rất tiếc tôi không thể trả lời vấn đề này. Cứ cho rằng chúng
ta không thể hiểu được v́ sao người phương Tây lại ăn bằng dao nĩa mà
người Trung Quốc lại ăn bằng đũa. Văn hóa phát triển dần từng bước, hai
nền văn hóa này từ thuở xa xưa không có ǵ dính dáng với nhau, không có
khả năng ảnh hưởng lẫn nhau, mỗi cái phát triển theo mô h́nh riêng của
nó. Sinh hoạt của từng cá nhân và vận mệnh của mỗi dân tộc thường bị
những yếu tố rất lớn hoặc đôi khi rất nhỏ làm chuyển đổi phương hướng.
Nhưng chúng ta lại không hiểu cái nhân tố lớn, nhỏ ấy là cái ǵ và ở đâu.
Thính giả : Những điều ông vừa nói làm chúng tôi cảm thấy buồn về cái
thời trẻ tuổi lạc quan của chúng tôi. Tôi thuộc vào thế hệ những người
lớn lên sau chiến tranh, và từ trước đến giờ tôi vẫn cho rằng thế hệ
chúng tôi từ cách suy nghĩ cho đến nếp sống xă hội đều nhất nhất không
giống thế hệ đàn anh.
Nói ví dụ, hiện giờ tôi không làm quan chức ǵ, nhưng biết đâu có một
ngày nào đó tôi lại chẳng có một chức vị, để rồi chỉ có quan tính mà mất
nhân tính. Nhưng dù có rơi vào trường hợp đó, tôi tin rằng cái quan tính
của tôi so sánh với quá khứ vẫn ít hơn một tư, mà nhân tính nhiều hơn
một tư. Tuy nhiên hôm nay ông nói vậy, tôi lại thấy không giống cách
nghĩ của tôi.
Bá Dương : Tôi nghĩ tôi chỉ nói lên sự thực lịch sử. Nhưng v́ thời đại
và hoàn cảnh vẫn đổi thay, giáo dục tiến triển, có thể ngày nay rồi sẽ
không như thế nữa. Vả lại tôi tin tưởng vào sự thành tâm của anh và tin
rằng anh sẽ làm được chuyện ấy.
Thính giả : Tôi vẫn thấy cách giải thích của ông khác tôi.
Bá Dương : Tôi cần nhấn mạnh thêm rằng cái chuyên chế chính trị ở Trung
Quốc với cái chuyên chế chính trị của Tây phương về nồng độ và kích
thước hoàn toàn không giống nhau.
Tôi học sử phương Tây không nhiều, nhưng nếu đem so sánh th́ chuyên chế
Trung Quốc rất cực đoan.
Ở cung đ́nh phương Tây chỉ quỳ một gối, trừ phi đối với thượng đế th́
mới quỳ hai gối. ở Trung Quốc không những phải quỳ cả hai gối mà c̣n
phải khấu đầu, thậm chí đập đầu xuống đất cho kêu thành tiếng (Khải
hưởng đầu).
Cuối đời nhà Thanh có câu : " Đập đầu nhiều, nói ít " (Đa khải đầu,
thiểu thuyết thoại). Cái khái niệm nội tại cùng tŕnh độ của chuyên chế
Trung Quốc e rằng Tây phương không thể so sánh nổi.
Tôi được thấy một bức tranh sơn dầu vẽ Louis XIV (Lu-is XIV) của Pháp.
Ông này ngồi giữa, các đại thần và hoàng hậu ngồi chung quanh. Cái cảnh
này không thể nào có ở Trung Quốc được, các đại thần ở Trung Quốc nhất
định phải nơm nớp lo sợ, lấm la lấm lét quỳ mọp chung quanh.
Thính giả : Xin ông cho biết ư kiến về chữ giản thể (chữ Hán đơn giản
hóa, dùng ở lục địa, so với chữ cũ nhiều nét vẫn dùng ở Đài Loan).
Bá Dương : Tôi tán thành chữ giản thể, lại càng tán thành việc phải
phiên âm tiếng Trung Quốc. Tối hôm qua nhiều bạn tụ tập nói chuyện về
vấn đề này, đại khái không ai nhất trí. Cái tâm lư bị bế tắc của những
người phản đối chữ phiên âm cần phải được giải tỏa.
Lấy ví dụ, lúc gọi điện tôi hỏi anh họ ǵ? - Tôi họ Lưu! Chữ Lưu này
viết thế nào có lẽ trên điện thoại khó mà giải thích cho rơ ràng được.
Nếu tôi bảo anh đi tra từ điển, dĩ nhiên không phải tra được ngay, tra
đến lần thứ hai, thứ ba vẫn không thấy chắc phải nổi điên lên.
Ngày xưa chúng ta trách cứ cổ văn không có dấu chấm câu, không biết ngắt
câu thế nào và hiểu làm sao. Có ai đọc qua " Sử đời Nguyên " chưa ? Tên
Mông Cổ như mớ ḅng bong, dài ḷng tḥng không biết là mấy người. Ngày
nay tuy đă có dấu chấm câu, nhưng những khuyết điểm lớn của cái loại chữ
vuông này lại càng lộ rơ.
Vấn đề đầu tiên là tách chữ. V́ tiếng Trung Quốc có nhiều từ ghép, dù
biết hết các chữ đơn ở trong câu cũng chưa chắc đă hiểu.
Sau đó là không thể phiên âm. Loại chữ vuông này thông thường chữ nào
đọc riêng chữ đó, không thể dính liền âm tiết lại với nhau, nên phải phí
rất nhiều sức lực để tập trung mới hiểu được ư từ những âm tiết rời rạc
đó. Ví dụ tôi nói " Tôi từ Mă-lai-xi-a đến " (Ngă ṭng mă lai tây á
lai), ở đây chữ Malaisia phải liên âm và cách âm với chữ lai sau đó. Nếu
không " Mă lai " (ngựa đến), " Tây á lai " (Tây á đến), và nếu có em bé
nào lại lấy tên là Tây á th́ câu nói này lại thành vấn đề lớn.
Ngày nay máy chữ, điện năo (máy tính điện tử) đánh nhanh biết bao, tôi
chỉ sợ rằng cái thứ chữ vuông này không thể nào bắt kịp bước tiến. Tôi
chỉ mơ ước có được một cái máy đánh chữ tiếng Trung Quốc để khỏi phải
ngày ngày làm cái loại động vật ḅ lên trang giấy.
Nhưng phiên âm tiếng Trung Quốc không phải dễ, chủ yếu v́ cái trở ngại
tâm lư nơi chúng ta, v́ chúng ta cho rằng dùng ABCD là dùng mẫu tự tiếng
Anh, chữ phiên ra là tiếng Anh. Kỳ thực không phải như vậy. Chúng ta
phải hiểu là chữ ABCD này là mẫu tự Trung văn. Chữ phiên ra là chữ Hoa,
không đến nỗi có cảm giác nhục nhă v́ bị đồng hóa. Đúng vậy, nó là tiếng
Trung Quốc, tiếng Hoa chứ không phải tiếng Anh, tiếng Đức. Nếu dùng ABCD
mà lại thành tiếng Anh th́ người Đức, người Pháp có thể tức chết được.
Văn tự hoàn toàn là công cụ, giống như cái xe, anh mua nó th́ nó là của
anh, ai mua nó th́ nó là của người đó. Kỳ thực nếu chúng ta dùng văn tự
phiên âm ngay hôm nay, người chết đói đầu tiên sẽ là tôi v́ tôi đang
dùng cái loại chữ vuông này để kiếm cơm. Nhưng tôi cảm thấy sinh mệnh
của riêng ḿnh rất ngắn ngủi, những lư do chính trị cũng rất ngắn ngủi,
chỉ có văn hóa dân tộc là quan trọng, rất quan trọng. Nhất là các vị tại
Mỹ, các vị có thể thấy con cháu đời thứ hai nói được tiếng Trung Quốc mà
không viết được. Khó như thế th́ làm sao mà dậy chúng ?
Cứ như chữ Quốc ( ) [ nước ] viết thế nào ? Muốn biết nó chỉ có cách học
thuộc ḷng, không có phương pháp nào khác. Ngay cả lúc trẻ con gào lên :
" Tôi ghét tiếng Trung Quốc! " mà chúng ta vẫn c̣n chưa thức tỉnh sao?
Chúng ta không thể làm cho những khó khăn trên đường tiến bước của Trung
Quốc tăng thêm, không thể tự xích tay, cùm chân được.
Tại sao lại phải sống cho quá khứ, cho tổ tiên thay v́ sống cho con cháu
ḿnh?Nếu chỉ v́ phiên âm mà rồi không đọc được sách cổ nữa th́ cũng chả
sao. Hiện giờ chưa phiên âm mà anh đọc cũng đă chẳng hiểu rồi c̣n ǵ !
Việc quá khứ, việc tổ tiên, chúng ta có thể nhờ một số người để chuyên
đi quét dọn miếu đường. Chúng ta phải v́ con cháu, v́ thế hệ sau này, v́
tương lai của nước nhà và dân tộc. Một ngày nào đó, nếu tiếng Trung Quốc
bỗng nhiên trở thành tiếng quốc tế, chắc chắn nó không thể phổ cập được
trừ phi dùng phiên âm.
Hôm nay tôi nhai đi nhai lại những khuyết điểm của Trung Quốc chắc có
người nghe bị mất tinh thần. Nhưng tôi thấy rằng cần như vậy, v́ nếu cứ
lải nhải khoe khoang những ưu điểm, đức hạnh, sự thông minh của ḿnh,
rồi sẽ chẳng c̣n ai tôn trọng ḿnh nữa, v́ chính ḿnh đă không tôn trọng
ḿnh ǵ cả.
Các bạn nên biết, những hoạn nạn của người Trung Quốc, không phải là chỉ
của riêng người Trung Quốc mà c̣n là của cả thế giới. Một chiếc thuyền
nhỏ ch́m th́ không sao, một chiếc tầu lớn bị ch́m có thể cuốn theo vào
ṿng xoáy nước của nó những chiếc thuyền nhỏ xung quanh.
Tại sao Nhật Bản lại đến xâm lược chúng ta ?
Chính v́ sự yếu đuối của chúng ta đă dụ dỗ họ ra tay. Chúng ta phải tự
cứu lấy ḿnh. Điều đầu tiên để tự cứu là phải biết được những khuyết
điểm của ḿnh. Nếu không tự biết những khuyết điểm của ḿnh th́ chẳng
khác ǵ suốt ngày chỉ nghĩ đến những chuyện đắc ư, chỉ sợ rồi cũng như
Giả Bảo Ngọc (một nhân vật trong Hồng Lâu Mộng) suốt ngày luẩn quẩn với
những ư tưởng dâm dật.
Thính giả : Tôi thường nghe được hai câu này - " Dĩ bất biến ứng vạn
biến " (Lấy sự không thay đổi để ứng phó với mọi thay đổi), và câu " Báo
thiện bất báo ưu " (Đáp lại bằng điều thiện, không đáp lại bằng sự lo
buồn).
Bá Dương : Đối với câu " Dĩ bất biến ứng vạn biến " th́ tôi không dám có
ư kiến ǵ, c̣n câu " Báo thiện bất báo ưu " tôi cho rằng đấy chỉ là một
đặc trưng của giới quan trường.
Thính giả (người Mỹ) : Hôm nay h́nh như ông chỉ nói về khuyết điểm của
người Trung Quốc, tôi muốn xin ông cũng nói về những cái xấu của người
Mỹ. Qua những sách ông đọc, những việc ông nh́n, ông thấy được những
điều ǵ nước Mỹ cần phải học hỏi ở năm ngh́n năm lịch sử Trung Quốc ?
Bá Dương : Về những điều xấu của nước Mỹ, chính người Mỹ đă nói lên
nhiều rồi, đó là chỗ tôi rất khâm phục. V́ nước Mỹ có cái khả năng tự
cân đối, tự phản tỉnh và tự điều chỉnh. Tự ḿnh có chỗ sai trái đều dám
tự nói ra, tự ḿnh có thể tiếp thu, đánh giá. Đấy là những điểm mà người
Trung Quốc chúng tôi không có được. Dĩ nhiên nước Mỹ không phải mười
phần toàn mỹ, v́ trên thế giới này chưa có ǵ như vậy, mà nước Mỹ nếu
như vậy chỉ sợ rồi nó sẽ xơ cứng mất.
Thính giả : Lúc ở đại học tôi có đọc qua vài tác phẩm của ông, tôi rất
thích cái ng̣i bút châm chọc, cay chua, mỉa mai những điều không hợp lư
trong xă hội. Hôm nay, được nghe ông nói về những khuyết điểm của người
Trung Quốc, tôi rất cảm động mà cũng rất khổ tâm, chán nản, buồn rầu.
Nhưng tôi cho rằng cũng giống như một con bệnh, nếu đă biết ḿnh bị bệnh
tất phải t́m cách cứu chữa, thuốc thang. Tôi không biết trong các tác
phẩm của ông có những ǵ mách bảo chúng tôi làm chuyện đó ? Ngoài ra tôi
muốn ông nói một tư về t́nh h́nh trên văn đàn Đài Loan, giới thiệu cho
chúng tôi những tác giả và những tác phẩm hay.
Bá Dương : Tôi xin nói về vấn đề thứ hai trước. Trần ánh Chân, Vương
Tháp, Tam Mao, Ai Quỳnh Quỳnh, Trần Minh Bàn, Dương Thanh toàn là những
nhà văn hạng nhất. Tôi không đọc được nhiều v́ ngồi tù mắt bị yếu đi,
đọc chữ bé quá không được, mà sách báo Đài Loan chữ quá bé. Vấn đề này
có lẽ phải xin nhà tôi đáp hộ.
Nói đến khuyết điểm, đến bệnh t́nh của người Trung Quốc, tôi biết các
bạn rất buồn và tôi cũng rất buồn. Bởi v́ trước kia tôi toàn nghe nói
đến những vinh quang của Trung Quốc, như kiểu Chu Nguyên Chương là một
vị anh hùng dân tộc. Sau này tôi mới khám phá ra rằng không phải vậy.
Trong lúc những người khác chiến đấu với quân Mông Cổ, th́ y ở tại hậu
phương mở rộng địa bàn của ḿnh, đánh triệt hậu những người khác để
chiếm đất, cuối cùng cướp chính quyền, hoàn toàn tính toán cho ư đồ
riêng tư, chờ cho mọi người khác đánh xong quân Mông Cổ.
góp hương
art2all.net
|