|
Laiquangnam giới thiệu thi nhân tráng sĩ
ĐẶNG DUNG
Cảm hoài * Phần II. Đoạn I - Thế sự du du ...
Theo truyền thuyết dân gian
của dân tộc ta, tương truyền rằng cái chết của người anh hùng tráng sĩ
Đặng Dung đă làm động ḷng trời đất. Ông được Trời rước về phong thần
cai quản cung trăng. Rơ ràng bên mơm đá trên chiếc đĩa vàng vằng vặc
treo giữa trời lộng gió kia, có muôn ngàn ngôi sao lóe sáng vây quanh
kia, có một người tráng sĩ nước Đại Việt đang ngồi mài gươm, không sao
lầm được trong ư đôi mắt người Việt rải ra khắp thế gian hiện nay. Cạnh
họ ai đó ngâm khẽ Đặng Dung
Thù trả chưa xong đầu đă bạc,
Quốc thù canh cánh đầu tiên bạc!
(LQN)
Ngôn từ trong bài ca với âm “A “ vui và phấn khích
sao mà vẫn làm ḷng người Việt ray rức rối bời v́ vận nước. Họ nhận ra
ngay người đồng hương ḿnh. Đi xa gặp đồng hương đă vui, gặp người có
cùng nỗi niềm tâm trạng th́ có ǵ hạnh phúc cho họ hơn. Tuyệt tác là vậy.
Cầu nối vô tận hiện nay của bài Cảm Hoài, nguyên tác của thi nhân
tráng sĩ Đặng Dung khiến cho cộng đồng Việt chúng ta xít lại gần nhau
hơn để cùng sưởi ấm cho nhau phát xuất từ tấm ḷng của người anh hùng vị
quốc vong thân.
舉頭望明月, Cử đầu vọng minh nguyệt
(Tĩnh dạ tư ) Ngẩng đầu trăng văi trắng trời,
Cúi đầu đối bóng bồi hồi nghĩ (xót,nhớ) quê!
Là người Việt hiện nay cho dù bạn đang ở bất cứ nơi
nào đó trên trái đất này, tuổi đời tuy có khác nhau, sức học có khác
nhau, giới tính tuy có khác nhau, điều kiện sống tuy có khác nhau, thẩy
đều đôi lần mượn một trong bốn cặp câu của bài Cảm hoài để tự ru
ḿnh trong niềm trăn trở, nghĩ về quê hương đất nước. Bởi thế, vào những
đêm trăng tṛn tại quê người, bạn thấy ai đó đang thơ thẩn, bước đi chầm
chậm, ngước nh́n trời, rồi cúi đầu xuống đất như hoài niệm một lời trăn
trở của ai đó, bạn hiền không cần nghe tiếng nói của họ, 100 phần 100
người ấy hẳn là một người Việt tha hương.
Cảm hoài của Đặng Dung là bài đệ nhất thi
trong ḍng thất ngôn bát cú luật thi. Trác tuyệt là ở đó. Trong suốt hai chục năm xâm lăng Đại Việt, Minh thành Tổ Vĩnh Lạc và Minh Tuyên Tông xem như cơ hội ngàn vàng bởi hơn 500 năm qua, Đại Việt hoàn toàn độc lập tách ra lập một cơi trời riêng. Nam quốc sơn hà nam đế cư ( http://minhtrietviet.net/lemontee/wp-content/uploads/2013/11/NAM-QUOC-SON-HA.pdf ).
Minh thành Tổ Vĩnh Lạc đă tập trung cao độ mọi cố
gắng chiến tranh xâm lược sau khi đuổi được Quân Nguyên Mông tại chính
đất nước họ. Phương Bắc hành xử như một con sói. Khi bị cắn, bị thương
tật th́ nằm yên, sau khi lành lặn lại giương mắt sói trong đêm t́m đến
Phương Nam săn mồi. Cơ hội đến, Phương Nam có loạn, tóm được cha con họ
Hồ giải về Kim Lăng ngay lập tức, Vua Minh nói với Hồ ” Trung Quốc
như thế sao không phục mà dám xấc xược chống cự!”. Năm 1406, trong
lần xuất binh thứ hai, họ đă huy động 80 vạn quân dân binh các loại,
quyết tâm làm cỏ nước ta và xóa sạch đất nước này trên bản đồ thế giới.
Tàu không bao giờ muốn Đại Việt như cục xương luôn chận cổ họng ḿnh
khiến họ không sao t́m đường trực tiếp xuống Phương Nam được. Họ lập tức
lập kế hoạch hủy diệt quốc gia Đại Việt thật sạch, phá thật nát. Với kế
hoạch chu đáo vô cùng độc ác, họ quyết tâm biến nước ta thành quận huyện
của Tàu, mà tiền nhân họ, đời Hán, đời Đường vẫn chưa sao làm trọn gói
được. Minh Thành Tổ chỉ đạo cho Trương Phụ và chư tướng bằng văn bản
hành động cụ thể, lệnh truyền rằng: “chỉ trừ những bản kinh sách về
Thích, Đạo không hủy, c̣n tất cả những bản in sách, giấy tờ cho đến các
bài trẻ con học như: “ Thương đại nhân, Khâu ất kỷ “ th́ nhất thiết một
mảnh giấy, một chữ cũng phải hủy đi cho kỳ hết”. Đốt sạch hủy sạch,
họ làm triệt để hơn những ǵ mà 1000 năm trước Mă Viện đời Hán đă làm
với nước ta. Lệnh truyền rằng, “Chỉ những bia nào do Ta (tức Tàu)
dựng lên từ ngày trước th́ để lại, c̣n những bia nào do An Nam lập ra
th́ phải hủy cho kỳ hết, một chữ cũng không được để sót”. Đến tháng
6 năm 1407 nhà Minh nhắc lại một lần nữa, đến tháng 8 năm 1418 th́ họ
gom cú chót chở về Tàu. Binh thư Lư Trần mất sạch. Không những thế mà họ
c̣n mang 200* sư săi về Đại Minh học lại tiếng Hán cho thuần với chính
quốc (sđd (9,TVG). Trong đầu y ( vua Minh) chỉ có bọn thầy Chùa này mới
đủ nội lực đẩy lùi ḍng thiền Phật giáo nhập thế Lư Trần trên đất nước
Đại Việt xưa. Âm Hán Đường mà người nước ta tạm dùng đă quen tưởng như
của riêng ḿnh với cách hành văn phảng phất tiếng nôm trong văn thư, văn
học, nay nhà Minh muốn nó phải được đọc lại theo âm Yên kinh (Bắc kinh)
ngày nay. Bởi họ không hiểu người Đại Việt nói ǵ khi phát âm đó với
cùng một kư tự. Luyện tay sai phải luyện phát âm cho giống mẫu quốc. Họ
đem về Yên Kinh đào tạo và tái đào tạo lại bọn Sĩ (士), bọn đội Hán mới,
nhóm này men theo đường khoa bảng xuất hiện 70 năm sau tại Đại Việt (cuối
đời Lê Thánh Tông, và dẫn đến cuôc chiến tranh Nam Bắc dài dằng dặc
trong lịch sử Đại Việt) sau này. Kinh sợ thay cho một bàn tay xếp đặt
của nhà vua Tàu, Minh Thành Tổ Vĩnh Lạc. Than ôi, văn hóa Đại Việt “cắc
ca cắc củm” trong gần 500 năm, do một phút ngu muội của vua Trần nghệ
Tông, dại dột nuôi ong tay áo, bị thằng giặc Hồ Quư Ly dụ dâng cho đứa
con gái rặc Tàu của hắn mà nhà vua mê mệt và mê muội để dẫn đường cho
cha vợ ḿnh cướp ngôi tiên đế.
Văn hóa Đại Việt bị tiêu hủy sạch!.
….thế sự du du….v́ quân lực, vũ khí đâu c̣n! Thôi th́
hăy nhắc cho nhau nghe lời hịch tướng sĩ năm xưa của Hưng Đạo Đại Vương
với các ḍng sau mà ông c̣n nhớ trong kư ức :
“Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ
bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đ́nh; Có kẻ
quyến luyến vợ con để thỏa ḷng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà
quên việc nước; Có kẻ ham tṛ săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu
ngon; có kẻ mê giọng nhảm. ….
Nhờ vào hào khí năm xưa vẫn c̣n đọng lại đâu đó trong
ḷng người Đại Việt, nay có dịp sống dậy. Họ nhận ra ngay lỗi của ḿnh
và xông ra vác súng gươm xung trận.
Bên ta, ai là người xông pha ra trận chống kẻ thù đều
được gọi là anh hùng, là Kẻ Sĩ. Ngay từ lớp đệ thất, đệ lục thời VNCH,
tức lớp 6, 7 bây giờ, thế hệ tôi cũng được học qua trong Bích câu kỳ
ngộ hai câu :“Anh hùng mấy mặt xưa nay, Trăm năm nát với cỏ cây
cũng là”. Người nào đă từng nghe, từng tắm gội thấm nhuần tính cách
người xưa, phục cái khí khái của người xưa th́ ḷng yêu nước sẽ ăn sâu
vào trong tim họ, đó là chuyện thường t́nh. Xă hội nào sản sinh con
người ấy. Danh sĩ Lư Tử Tấn đời Hồng Đức đă khen: “Phi hào kiệt chi
sĩ bất năng “, sau Dương Văn An trong sách “Ô châu cận lục”
cũng khen tiếp hai cha con họ Đặng: “ Đương lúc vận nhà Trần sắp hết
mà hai người đều tận tâm, tận lực đánh giặc cứu quốc, nâng vận nước khi
sắp hết, chống nhà lớn lúc đă xiêu ….”. Những con người như Nguyễn
Cảnh Dị, Trần Súy, Đặng Dung, Trùng Quang Đế; họ xứng đáng được gọi là
anh hùng, là kẻ sĩ “Chớ đem thành bại luận anh hùng“ [Đào duy Từ]
, và bạn hiền vốn là người yêu lịch sử chắc nhớ câu thơ gần đây nhất của
anh hùng Nam Bộ Nguyễn hữu Huân ngâm vào lúc bị giặc Pháp hành h́nh
Anh hùng mặc bả doanh du luận
Anh hùng có sá chi thua được
Nguyễn duy Nhường dịch
Văn hóa Đại Việt đă bị nhiễm độc do Minh triều cấy
vào từ chính sách đào tạo bọn tay sai của họ, chính sách đào tạo Sĩ (士),
quan Bờm, trong bài thằngbờmcócáiquạtmo. Chùa chiền th́ nay đă
thay da đổi thịt, đă có một lớp tu sĩ Tàu mang giáo lư sặc mùi Đạo giáo
vào Phật giáo do Minh Vĩnh Lạc cấy vào. Dấu ấn này nay c̣n ghi dấu trong
lá bài có tên là Thầy, cửu Thầy hay Thầy Chùa trong Bộ bài Cḥi( hay bài
tới Quảng nam). Cửu Thầy là anh có học gian ác bậc thứ 9, c̣n cao hơn cả
anh đại tham quan bậc tám là Bát Bồng, viên quan Bờm gom đến cả bộ lư
hương của dân chúng về nhà ḿnh cho bằng được mới thôi. Và anh cửu Thầy
hay Thầy Chùa th́ đầu đă mọc sừng, mặt che quạt mo. Sức học chữ hán của
mấy anh là sức học của một tá điền cảm nhận.
Hịch tướng sĩ
Chính v́ những gịng sử vàng như thế khiến Đặng Dung
đánh giá rất thấp bọn họ, bọn Phàn Khoái và Hàn Tín. Dưới mắt ông và
tiền nhân chúng ta sau này, bọn họ không có cửa để gọi họ là anh hùng.
Họ chỉ là bọn “đồ điếu”, là bọn bần tiện. Bạn hiền hăy t́m nghe âm “ đồ
điếu” do người đất Bắc đọc bạn sẽ thấy rất đỗi thâm trầm. Họ là những "Thằng
Mặt Ĺ " !
-o0o0o-
Vài bài dịch
thơ quốc âm và chú thích
Mấy trăm năm sau trong Toàn Việt Thi Lục của
Lê Quí Đôn (1726 - 1784) th́ nhà bác học này mới chép lại và ghi lại là
Thuật hoài.
Xin hăy dành tên “THUÂT HOÀI” để tưởng nhớ về
một danh tác khác của người anh hùng Phạm Ngũ Lăo. Một trong các chiến
công của Phạm tướng quân là cuộc vây bắt tên Việt gian do một người phụ
nữ Việt xấu số chẳng may vơ phải một anh Tàu lái buôn vùng Quảng Ninh,
người Quảng Đông sinh ra nó, nó tên là PHẠM NHAN.
Cảm hoài
Thế sự du du nại lăo hà
”Nay gặp bạn, ta lại không giấy bút, theo ư thơ Sầm Tham ( http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_samtham_phungnhapkinhsu.htm )
1- Sử gia TTK ,năm 1919, ghi là Trần quí
Khoách. Sử gia Hànội gọi là Trần quí Khoáng..
2- Laiquangnam ,Đường thi nửa chặng, bản
thảo .laiquangnam chọn và dịch các bài thơ Đường hay nhất, chưa
xuất bản
3- Trần trọng San dịch , Kim Thánh Thán phê
b́nh thơ Đường, tủ sách ĐHTH TPHCM , 1990
4- Ngô Nguyên Phi, Những nhân vật Hán Sở, nxb
Lao Động 1994,
5- Sử kư Tư Mă Thiên, Phan Ngọc dịch, NXB Văn
học, 2003, Chương Hoài Âm Hầu liệt truyện, trang 575, nxb Văn Học, 2003
6- Hịch tướng sĩ, của Đức Thánh Trần
Hưng Đạo, bản dịch của Ngô Tất Tố
7- Lư Tôn Ngô (1879-1944) người Thành Đô, ông
viết Hậu Hắc Học, tính đến năm 1990 sách ông đă bán trên 300000 bản. Ông
là giáo sư ĐH tại Tứ Xuyên có tham gia cách mạng Tân Hợi (1911) Người
dịch là Nguyễn Trinh _Huy sinh, nxb VHTT, 2000.
8- Hữu Tuấn, Trang sách hồn nước, nxb trẻ,1998
9- ĐVSK toàn thư
10- Trần Văn Giàu chủ biên, Lịch sử Việt Nam,
gồm 3 tập, NXB Trẻ, trang187 tập1
11- Laiquangnam giới thiệu thi nhân
tráng sĩ Đặng Dung, Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn:
Nguồn: “ Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn cùng
pho sách lịch sử “ của sử gia Nguyễn khắc Thuần.
a2a mời đọc : laiquangnam giới thiệu thi nhân tráng sĩ Đặng Dung, Phần I laiquangnam giới thiệu thi nhân tráng sĩ Đặng Dung, Phần II, Đoạn II
|