|
laiquangnam
THỬ
ĐỀ NGHỊ MỘT GIẢI PHÁP GIỚI THIỆU THƠ TIỀN NHÂN TA

BÀI THƠ DI SẢN CHỮ HÁN
NGÔN HOÀI
CỦA KHÔNG LỘ THIỀN SƯ ( ? - 1119)
Phần I -
Đi t́m văn bản
Ngôn Hoài thư quy
Phần II -
Truyện Không Lộ
trong Lĩnh Nam Chích Quái (trong này có phần đối chiếu với Câu chuyện
của Lư Cao và cao tăng Duy Nghiễm)
Phần III - Dàn Đồng Ca
đă vu cáo Không Lộ Thiền sư như thế nào ? ( trong phần này có phần các
biện giải kháng cự và lời có cánh của các Giáo sư đầu ngành)
- IIIA
- IIIB
Phần IV - Giải mă “mật
ngữ” trong thi kệ Ngôn Hoài
-
Đoạn thứ nhất, Dẫn nhập và tâm t́nh
-
Đoạn thứ hai, “thuật ngữ của người xưa”
- Đoạn thứ ba, bài pháp thoại của Không Lộ thiền sư mà Lĩnh Nam Chích
Quái dấu kín.

PHẦN I
NGÔN HOÀI LÀ MỘT
BÀI THƠ ĐỜI THƯỜNG ?
I- Đi t́m bản văn Thư quy
Thư quy là ǵ ? Thư quy là một bản văn đúng nhất được phép lưu hành.
Mọi bản văn khác với bản văn này đều phải bị loại bỏ cho dù chỉ sai
một từ. Một khi có sự lưu hành song song của nhiều bản văn là có sự
hỗn loạn trong cộng đồng. Sự hỗn loạn này là nguyên nhân gây chia rẽ,
gây sự mất mát, làm tổn thương cộng đồng do v́ hiện tượng tranh căi bất
tận phát xuất từ các “ từ, ngôn từ “ trong bản văn “ dơm “ gây ra. Các
bản văn phiThưQuy đều là vô ích, làm tốn công sức của nhiều thế hệ, bởi
họ cần đính chính và ‘rửa bỏ nọc độc “ từ những ư tưởng của Kẻ Đốt Đền
gây ra.
Bài thơ này xuất hiện trong rất nhiều tập sách văn học Việt Nam quư giá,
từ Thiền Uyển Tập Anh đến Lĩnh Nam Chích Quái.
Thiền Uyển Tập Anh có trước, Lĩnh Nam Chích Quái có sau.
Người viết Lĩnh Nam Chích Quái lại là một tiến sĩ đời Trần
viết. Ông được đánh giá là nhà bác học, hiếu cổ và có tài soạn thuật.
Ông từng là một Đô Tổng Tài Sử Quán đời Trần. Ông hành văn cực kỳ tinh
tế, bố cục và có cách sắp xếp rất lạ. Ông không dài ḍng nhưng gởi gấm
rất nhiều “ niềm kiêu hănh quốc gia “ vào đoạn văn này. Từ hai nguồn
chính văn đó dẫn đến các nguồn thứ cấp trong đó có danh tác Hoàng
Việt Thi Tuyển của Hoàng giáp Bùi Huy Bích, bản văn này được viết
vào đời Minh Mạng ( 1826). Ngô Tất Tố, Nguyễn Đổng Chi và nhiều người
khác chép lại từ người chính hay nguồn thứ cấp này. Càng về sau, càng
có quá nhiều bản cùng mang tên Lĩnh Nam Chích Quái hay
Thiền Uyển Tập Anh chép tay, cùng lưu truyền đồng thời. Sự tam
sao thất bổn xảy ra. Khi giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát dịch và khảo
sát Thiền Uyển Tập Anh cho Viện Đại Học Phật Giáo Vạn Hạnh
thời VNCH, ông đă tra cứu rất nhiều văn bản từ nhiều nguồn đă nhận
xét, “…. . Phải chăng cả Thiền uyển tập anh lẫn Lĩnh nam
trích quái truyện đă sao truyện của ḿnh từ một bản gốc chung mà
Thiền Uyển Tập Anh cho biết là Nam Tôn Tự Pháp Đồ của Thường
Chiếu? Hay chúng hoặc những người hiệu đính chúng đă sao chép lẫn nhau?.
Đây là một vấn đề khá lôi cuốn cần phải được nghiên cứu một cách nghiêm
chỉnh. ”. Rất may giữa sự lộn xộn đó, một thiền sư tinh thông Hán
ngữ xuất gia từ thuở nhỏ, lại được du học tại Hoa kỳ đến bậc tiến sĩ.
Ông trở thành giáo sư đại học tại HOA KỲ trong một thời gian, đó
ngài là thiền sư Thích Nhất Hạnh. Với cái nh́n và với cái tâm của
một người yêu nước, Ngài đă viết quyển Việt Nam Phật Giáo Sử
Luận và kư tên là Nguyễn Lang vào trước 75. Quyển này được hội
đồng văn học sau 75, mà giáo sư văn học Nguyễn Huệ Chi là người đại
diện đă đánh giá rất cao. Cao về nguồn sử liệu, Cao về sự uyên bác lẫn
độ nghiêm túc khi viết, khi cân nhắc, khi chọn lựa các nguồn thông tin.
Văn bản của Nguyễn Lang cung cấp cho chúng ta, hiện nay, để "Ai đó"
muốn t́m hiểu ḍng tư tưởng Phật giáo thuần chất Việt Nam trong thời
kỳ lập quốc là đáng tin cậy hơn cả.
Ngôn Hoài là bản văn hay nhất và mạch văn thống nhất, phù hợp
với thứ ngôn ngũ của một cao tăng thuộc hai ḍng thiền Vô Ngôn
Thông-ngài là tổ đời thứ Mười lẫn ḍng thiền Thảo Đường- ngài là tổ đời
thứ Ba. Ngoài ra trong Lĩnh Nam Chích Quái cho biết Ngài Không Lộ
thiền sư thường đọc kinh Đàlani – ḍng mật tông -. Trong nhiều sử liệu
ghi lại Ngài đă từng qua Tây trúc -Tây trúc được hiểu ở thời điểm Lư
Trần là các Thánh địa Phật giáo có tăng sĩ gọi là T́ Kheo -kinh sách
viết bằng Phạn ngữ, Trong VNPGSL - từ trang 150 đến trang 170 -
Nguyễn Lang cho biết thời đó và trước đó đă có nhiều vị thiền sư dạy
tiếng Phạn tại đất nước này, Có thể kinh sách của Phật giáo Nguyên
Thủy đă được lưu hành. Do bối cảnh lịch sử đau thương của dân tộc
này, vào năm 1407- 1428, nước ta bị nhà Minh đô hộ. Trần văn Giàu
trong bộ sách Lịch sử Việt Nam cho biết, Minh Thành Tổ lệnh
cho Trương Phụ mang về Tàu 200 nhà sư để tái đào tạo nhằm mục đích,
buộc tăng sĩ Việt phải đọc thông kinh sách Phật do người Tàu sáng
tác hay các ngụy tác. Người Tàu cần xóa sạch tư tưởng Phật giáo
Đại Việt xây dựng gần 500 năm sau ngày độc lập ( 938), người Việt
đang cách ly văn hóa Tàu. Cùng lúc này, nhà Minh đă mang theo nhiều sĩ
tử sang Tàu để tái đào tạo về các kiến thức lịch sử và văn hóa Tàu.
Rằng người Việt nay phải biết đọc chữ Hán theo âm Bắc Kinh đời Minh,
bởi khi ấy nước ta, người có học đều đọc kư tự Hán theo âm đời Đường
mà người Tàu đă bỏ trước đó. Nước ta chính thức bị nhiễm bẩn từ đây.
Văn hóa Việt ngày càng suy đồi so với trước đó. Chính sách của nhà
Minh là phải đồng hóa dân tộc này vào Tàu. Hai điều phải làm ngay,
một là con người, đó là tăng sĩ Phật giáo và giới sĩ tử; hai là
phải thay đổi tiếng nói dân tộc. Tiếng Tàu sẽ nảy nở từ các bản văn
trong sáchTàu; đó là kinh sách Phật giáo hay qua sách vở dành cho tử
sĩ. Tiếng Tàu xâm nhập qua chữ viết sẽ dần dần lấn át tiếng nói của
người Việt. Thâm độc thay!.
Tất cả chi tiết về lư lịch của Ngài Không Lộ thiền sư tưởng chừng rất
nhỏ đó nhưng vô cùng lớn bởi những trăi nghiệm trong đời. Ngài Không Lộ
thiền sư nay đă nén và dấu kín lời dạy trong bài thi kệ, đúng ra là
bài pháp thoại có tên là Ngôn Hoài.
Văn bản của thiền sư Nhất Hạnh, Làng Mai viết trước 75 trùng khớp
với văn bản trong sách Giáo khoa ở bậc phổ thông của NXB Giáo dục, Hà
Nội, 1991. Giáo khoa ngữ văn lớp 10 dùng văn bản này đến cạn năm 2000
*. Rất tiếc, do v́ không am hiểu hết mật ngữ của văn bản mà ngày nay
bản văn này đă bị các Kẻ Đốt Đền loại ra khỏi văn bản tuyển tậpThi văn
thời Lư Trần ( năm 2008 tại THÀNH PHỐ HCM ) và cuối cùng th́ đă bị bóc
ra khỏi sách Giáo khoa bậc phổ thông sau năm 2000. Lư do được đưa ra
: “ Ngài Không Lộ thiền sư của chúng ta đă đạo văn, đă “ thuổng “
hay "Ai đó" đă sửa lại bài thơ của Lý Cao thuộc đời Đường rồi gán
cho Ngài Không Lộ thiền sư, theo nhận định của Viện trưởng Viện khảo
cổ Việt Nam Hà Văn Tấn vào năm 1992. tiếp tay ông là dàn đồng ca, đến
năm 2008 th́ Họ đạt yêu cầu.
Tại sao lại ra nông nỗi này?. Giới làm văn học
Việt Nam chết hết cả rồi sao ? Không bao giờ có điều bất hạnh như thế
xảy ra. Đă có nhiều giáo sư đại học đầu ngành lên tiếng. Đă có nhà
sư cao tăng lên tiếng. Nhưng, tất cả bài viết chỉ là những lời than
khóc th́ đúng hơn. Ngay cả chúng ta là người Việt rất yêu thương
Ngài Không Lộ thiền sư, một cao tăng uyên bác bởi ngài là tổ thứ ba
của ḍng thiền Thảo Đường, ḍng thiền đẫm chất văn học, và với những
phẩm chất khác đă nêu trên đă ngó lơ và làm thinh. Qua những bài viết
với lời biện hộ của các ‘luật sư, luận sư tiến sĩ ” ấy dựa trên sự phân
bua, mét bu ( cộng đồng Việt), van xin t́nh cảm là chính. Họ mong được
Kẻ Đốt Đền xét lại. Rằng xin đừng bóc bài thơ ấy ra khỏi cơ thể Việt.
Chả ăn thua ǵ !; Cái đầu đội Hán lạnh lùng, Kẻ Đốt Đền lại là người
có thẩm quyền “ sinh sát “ nhất hiện nay.
Để có một lời bình tốt nhất bắt buộc chúng ta phải có một
bản văn tốt nhất. Văn bản tốt nhất là văn bản không có từ “ trôi
sông lạc chợ “ làm sai hỏng bản văn. Các từ " trôi sông lạc chợ" ấy do
sự không phù hợp hay không cùng với hệ tư tưởng được viết một cách
thống nhất trong toàn văn bản. Một khi văn bản là một khối thống
nhất về mặt tư tưởng th́ từ cái nền ấy sẽ dẫn đến chỉ có một
cách hiểu tốt nhất. Với mọi giới biên khảo văn học sau khi đă có
một bản “ thư quy“ trong tay, th́ lúc đó mới phát khởi tìm hiểu và
giải mã đúng tư tưởng của tiền nhân ta. C̣n “ dật dờ” th́ đôi khi
từ cái tâm của ḿnh lại là kẻ ngộ sát, hay không đủ sức ngăn cản được
ngọn lửa của “kẻ đốt đền”. Các giáo sư tiến sĩ đầu ngành đă quên điều
này!.
Xưa nay trước một bản văn thư quy, bản cổ văn viết bằng chữ Hán
th́ người biết chữ Hán cứ đọc nó như là một bài thơ Đường như xưa
nay họ vẫn làm như thế. Nhập cuộc như thế th́ cứ lấy cái kiểu lư giải
ngữ nghĩa xưa nay, mỗi từ Hán dịch thành một hai từ Việt như lối học
Tam tự kinh, “tử con, tôn cháu... ” khi xưa. Họ đă quên rằng đây là một
văn bản cổ thuộc ḍng thi thiền đời Lư vào đầu thế kỷ thứ 12, thời
điểm mà nước ta mới vừa dành độc lập với Tàu trên dưới 150 năm; lúc
này dân tộc ta vẫn chưa có chữ “ quốc ngữ “để ghi lại tiếng nói của dân
tộc ḿnh. Tiền nhân ta đang dùng chữ viết của kẻ thù để ghi lại, một
manh nha tạo nền cho chữ Nôm h́nh thành dựa theo lục thư của Tàu. Với
số từ cực kỳ hạn chế so với số tiếng nói của đồng bào ḿnh, họ cố lập
quy ước thể hiện. Hiểu sai nội dung chỉ một từ thôi, th́ cũng dẫn đến
bản văn dịch xuôi bá láp. Dịch xuôi bá láp th́ dịch sang văn vần ( tạm
fọi là thơ đi ) bá láp và vô hồn.
Xưa nay dịch thơ là một quá tŕnh gồm nhiều giai đoạn – đọc -hiểu -cảm
-thấm -ngấm -giảng– b́nh -và cuối cùng mới chuyển thành thơ. Thế nên với
28 chữ, một khi đă viết lại thành văn xuôi với cách hiểu nghĩa của một
người đọc thông mặt chữ Tàu kiểu “Tam tự kinh” th́ thật là tai hại.
Người, giỏi tiếng Tàu hơn th́ vào GOOGLE SEARCH xem thử Tàu đă dùng
từ này ở nghĩa nào, sách nào dùng. Các cái đầu đội Hán kiểu đó dẫn dắt
thế hệ sau đi vào ngơ hẹp về mặt tư tưởng. quá nhiễu thông tin, rờ đâu
cũng đụng Hán, đều khắp nơi tư tưởng Hán. Tư tưởng Việt bị chèn đến
ngạt thở bởi họ có nghĩ đến tư tưởng Việt đâu. Đừng quên rằng dân tộc
này đă có một địa dư thuận lợi. Đất nước này nằm ngay trên ḍng hải
lưu gió mùa, Họ có quá nhiều cơ hội để tiếp nhận các nền văn minh trước
khi bị người Hán đốt sạch và phá sạch khiến cho người Lạc Việt không
biết đâu là cội nguồn. Người Hán chủ trương nhất quán, đốt sạch, phá
sạch là nhằm tăng thêm sức mạnh cho các lời ngụy biện của đám đội
Hán tay sai sau này. Sử viết, sau khi xâm lược và hủy diệt thật sạch
đất nước này th́ Mă Viện đă báo với vua Hán rằng dân Lạc Việt đă có
mười phong tục khác ta – tức khác Hán tộc và đă để lại trên đất nước
bé nhỏ này vào lúc đó 20.000 Mă dân, là đám dân " trôi sông lạc chợ",
đám phu phen gồng gánh binh lương phục vụ cho đội quân xâm lăng của Mă
Viện. Cái ǵ cho c̣n!. .
Như đă viết bên trên, nay dựa vào sách của thiền sư Nhất Hạnh,
laiquangnam nay đă có bản văn thư quy này, ”Nguyễn Lang, Việt Nam Phật
Giáo Sử Luận, Saigon, nxb Lá Bối 1973”. (Nguyễn Lang là thiền sư Nhất
Hạnh, Làng Mai )
Bản văn thư quy
-Nguyên tác ( thư quy )
言 懷
擇 得 龍 蛇 地 可 居,
野 情 終 日 樂 無 餘。
有 時 直 上 孤 峰 頂,
長 叫 一 聲 寒 太 虛。
Phiên âm
Ngôn hoài
Trạch đắc long xà địa khả cư
Dă t́nh chung nhật lạc vô dư
Hữu th́ trực thượng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
Các bản văn nhiễm bẩn
Với Lĩnh Nam Chích Quái
Khi dịch và chú giải bản văn Lĩnh Nam Chích Quái, Vũ Quỳnh
& Kiều Phú, Nxb văn học Hanoi, 1990, ( bản in lần thứ hai ), hai
tác giả Đinh Gia Khánh & Nguyễn Ngọc San cho biết có ba văn bản tại
Viện Hán Nôm Hanoi, có sự sao chép như sau của ba bản văn
Bản văn nhiễm bẩn thứ nhất
Tuyển* thủ giao long địa khả cư
Dă t́nh* chung nhật lạc vô dư
Hữu th́ trực thượng cô phong lĩnh
Trường tiếu nhất thanh hàn thái hư
Bản văn nhiễm bẩn thứ hai
Tuyển* thủ giao long địa khả cư
Dă t́nh* chung nhật mễ vô dư
Hữu th́ trực thượng cô điên tại
Khiếu nhất thanh hề* hàn thái hư
Bản văn nhiễm bẩn thứ ba
Tuyển* thủ giao* long địa khả cư
Dă t́nh* chung tất* lạc vô dư
Hữu th́ trực thượng cô phong lĩnh*
Trường tiếu* cao* thanh hàn thái hư
Các từ có dấu (*) là các từ " trôi sông lạc chợ"
Với Hoàng Việt Thi Tuyển
Tôi đă thấy trong danh tác “Hoàng Việt Thi Tuyển”, nxb Văn Học,
tái bản 2007 có sự tham gia và chỉ đạo của Trần Thanh Mại – bản văn gốc
của cụ Hoàng Giáp Bùi Huy Bích viết vào đời Minh Mạng, năm 1826. Đây là
sách được cả hai miền Bắc Nam trước 75 đặc biệt quan tâm.
Bài thơ Ngôn Hoài được ghi lại trong sách này như sau
*Tuyển đắc long xà địa khả cư
Dă t́nh chung nhật lạc vô dư
Hữu th́ trực thượng cô phong lĩnh
Trường *khiếu nhất thanh hàn thái hư
Trong sách cụ Hoàng Giáp ghi lại chữ khiếu [ 嘯] này. Chữ khiếu này xuất
hiện trong bài thơ của Vương Duy –một nhà thơ đời Đường khá lớn - và
xuất hiện cả trong bản văn U cư của Lý Cao-tại câu cuối. Nguyệt hạ phi
vân khiếu nhất thinh, 月下披雲 嘯一聲. Khiếu này [ 叫] trong nguyên tác rất
khác với khiếu kia.
.
Về Thiền Uyển Tập Anh th́ sao ?
Giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát cho biết đă có nhiều nguồn chép về các
cao tăng Việt Nam, tương tự như Thiền Uyển Tập Anh. Bản mà
ông cho là tổt nhất để chọn dịch cũng cho kết quả đáng phàn nàn. Sự
tam sao thất bổn về bản văn Ngôn Hoài là dĩ nhiên cho dù "Ai đó"
ghi là chép từ Thiền Uyển Tập Anh, cũng tương tự như ta đă gặp
với sách Lĩnh Nam Chích Quái ở trên.
Tóm lại, điều này cho ta kết luận ǵ?. Rằng người xưa họ không có
điều kiện làm việc như chúng ta ngày nay. Có được người cho mượn sách
đă là vui, cắm đầu sao chép lại, họ không dễ ǵ có nhiều bản văn để
phân biệt đúng sai. Rằng người Việt xưa nay nào có chịu cất công ngồi
chọn bản văn “Thư quy” đâu. Người đi học ngày nay đâu biết để mà tránh
sự sao chép bậy bạ, dẫn đến tranh căi. Rách việc!. Cho đến tận thế kỷ
21 rồi, giới sử gia Việt Nam cũng không cho chúng ta biết nguồn sử nào
là thư quy, sách nào là ngụy thư do Tàu bôi bác. Hôm nay chúng ta đang
ở thập niên 20 của thế kỷ 21 mà đă không có th́ nói ǵ ngày hôm qua đă
cách ta hàng mấy trăm năm!.
Lê Mạnh Thát cho biết, bài thơ của Lư Cao đời Đường được ông chép lại
từ sách Truyền Đăng Lục của chính người Tàu như sau :
Tuyển đắc u cư hiệp dă t́nh
Chung niên vô tống diệc vô nghinh
Hữu thời trực thượng cô phong đỉnh
Nguyệt hạ phi vân tiếu nhất thanh.
Chúng ta thử GOOGLE SEARCH, chúng ta bắt gặp câu này. Tại link
http://www.ctworld.org.tw/turn/lecture/b032.htm
, câu cuối trong bài thơ của Lư Cao Nguyệt hạ phi vân khiếu
nhất thinh, 月下披雲 嘯一聲,. Lê Mạnh Thát đúng hay nội dung ghi trong
cái link của Taiwan đúng. Dĩ nhiên của Lê Mạnh Thát đúng, bởi khi chép
lại trong Truyền Đăng Lục mà giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát là một
cao tăng, ông tra cứu kỹ. Câu cuối đúng với đoạn văn xuôi mô tả rằng,
nhà sư Duy Nghiễm- thầy Lý Cao- khi thấy mây tan, đáy trăng lộ một
vầng trăng tṛn rơ hơn lúc nào hết, thầy ông ngộ ra cái Chân Tâm Như nơi
ông, Ông đă có, nó vẫn thường hằng mà ông không hay, do Ông v́ bị vô
minh và nhiều vô lậu làm cho nó mờ đi. Ông đă cười to, cười rất to. Ông
đă đốn ngộ. Cười là tiếu, trong khi khiếu là la là huưt, là hú, là rống
…Vây th́ liệu ai đó thường lấy chữ Tàu ra hù ta, ta có chết khiếp ?
Cái đau của người Việt hiện nay là sách vở mạnh ai nấy “ tung hê“. Một
khi họ “ lượm hay chôm” đâu được tư liệu nào đó mà họ cho là quư – quư
có nghĩa là trước đó chưa hề xuất hiện–th́ ngay lập tức đưa lên báo, lên
mạng. Người phóng viên đưa tin trên báo lấy điểm cũng “nổ “ dùm cho họ.
Họ là kẻ có công. Đó là điều đáng quư đối với người Việt. Đành rằng
cũng có khi người biên khảo này nghĩ ḿnh vừa có thêm một nguồn thông
tin mới, nhưng ác thay thông tin này thường “ dơm “, do nó có nội dung
chống lại tính thống nhất tư tưởng trong toàn văn bản, hay chống lại
tính cách của tác giả bản văn, điều này tôi đă gặp khi đọc bản văn
Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan khi GOOGLE SEARCH. Thật tội
nghiệp cho người làm văn học có lương tâm. Họ quá tốn th́ giờ để đính
chính hay chống đỡ cho tiền nhân ḿnh. Điều tiên quyết như là tiếng gọi
của con tim, Xin "Ai đó" đừng chậm tay để thế hệ người Việt trẻ sinh
tại hải ngoại bị nhiễm bẩn. Trước khi có chữ quốc ngữ th́ nước ta đâu có
mấy ai chịu cầm viết, số tác phẩm mà tiền nhân ta để lại đâu bao nhiêu.
Nên nhớ rằng chữ Hán là thứ chữ của kẻ thù mà dân tộc này đă cắn răng
vay mượn, trước khi họ có được thứ chữ Nôm vào thế kỷ thứ 19 hay chữ
quốc ngữ vào thế kỷ cuối thế kỷ thứ 19.
II- Phần dịch nghĩa
Sách giáo khoa Văn 10 (Nxb. Giáo dục-Hà Nội 1991 đă dịch nghĩa như sau :
Chọn được mạch đất long xà (rồng rắn) là nơi ở được,
T́nh quê suốt ngày vui không chán.
Có lúc lên thẳng đỉnh núi trơ trọi,
Kêu dài một tiếng lạnh cả bầu trời.
http://www.phatgiao.vn/bai-viet/tu-cach-dich-den-cach-hieu-noi-dung-bai-tho-ngon-hoai-cua-thien-su-khong-lo_619.html
Các trẻ tiếp nhận bản văn dịch nghĩa này nghĩ ǵ ?, _rằng các cháu có
yêu thích bản văn của tiền nhân ta không ? Các giáo sư tiến sĩ đă
diên dịch cho các cháu theo tinh thần tam tự kinh, ” tử tôn -con cháu “
như trên. Đành rằng người viết sách Giáo khoa rất giỏi chữ Hán, họ
là giáo sư tiến sĩ cả đấy, nhưng đó là cách dịch nghĩa robot - vì sao?
Như laiquangnam đă viết ở phần trên, bản văn này do một thiền sư
thuộc hai ḍng thiền Vô Ngôn Thông-ngài là tổ đời thứ chín ( vi-wikipedia)
/ mười(Thích Nhất Hạnh). Ai cũng đúng bởi đang có câu hỏi Dương
Không Lộ và Nguyễn Minh Không là hai hay chỉ là một. Ngài Không Lộ
thiền sư trong ḍng thiền Thảo Đường- ngài là tổ đời thứ ba. Trong
Lĩnh Nam Chích Quái cho biết ngài thường đọc kinh Đàlani – ḍng
Mật tông -và trong nhiều sử liệu ghi lại Ngài đă từng qua Tây trúc -Tây
trúc được hiểu ở thời điểm Lư Trần là các Thánh địa Phật giáo có tăng
sĩ gọi là t́ kheo -kinh sách viết bằng Phạn ngữ. Nếu để ư như thế th́
sẽ hiểu sâu từng từ trong văn bản thư quy này. Mỗi từ là một mật ngữ
truyền thừa.
Trạch đắc long xà địa khả cư
Dă t́nh chung nhật lạc vô dư
Hữu th́ trực thượng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
Đặc tính của Việt ngữ là từ kép. Một khi ở dạng từ kép, từ phức th́ nó
đă mang một nghĩa khác thường. Ví dụ: từ mít đặc (viết rời, viết rời
rạc ) và mítđặc ( viết liền, là viết dính liền lạc ) khác nhau xa lắm.
Khi viết liền th́ nó là một thuật ngữ mà không có một chữ Tàu nào có
thể thay thế được.
Trạch đắc longXà địa khảCư
Dăt́nh, chungNhật lạcVôdư
Hữu, th́ trực thượng côphongđỉnh
Trườngkhiếu, nhấtThanh, hàntháihư.
Mỗi từ viết liền là một thuật ngữ Phật triết Việt. Ví dụ: longXà
là thuật ngữ Phật giáo Đại Việt, nó nhắc cho người thiền giả
những ǵ đă dạy trong kinh Milanda. Trườngkhiếu là Lời hạnh nguyện,
là Bồ Đề Tâm của người vừa đốn ngộ ( hữu tại câu
3 …. .
Dịch thơ:
Kiểu đất long xà chọn được nơi,
T́nh quê nào chán suốt ngày vui.
Có khi đỉnh núi trèo lêu thẳng,
Một tiếng kêu vang lạnh cả trời.
Phan Vơ dịch
Sách Giáo khoa đă lấy bản dịch của Phan Vơ đă in trong -Hợp tuyển
thơ văn Việt Nam tập II. Nxb. Văn hoá, 1962). Bản in trong Thơ
văn Lư Trần tập 1, (Nxb. KHXH, Hà Nội, 1977)http://www.phatgiao.vn/bai-viet/tu-cach-dich-den-cach-hieu-noi-dung-bai-tho-ngon-hoai-cua-thien-su-khong-lo_619.html
Giá trị của bản văn dịch thơ
Nếu họ chịu khó cho cái năo bộ rục rịch chun chút th́
có lẽ họ đă không dám dịch như vầy. Làm sao mà chúng ta là lớp hậu sinh
dám chê trách lớp đàn anh của ḿnh. Chính nhờ họ mà những “ lời có cánh"
bung ra trong xă hội Việt ngày nay, khiến người cầm súng hay sẽ cầm
súng xông tới.
Chế Lan Viên (nhà thơ lừng lẫy của Hanoi ) : “Không có tiếng kêu dài
này th́ không có chiến thắng Bạch Đằng!”
Hay :
Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Khắc Phi, giáo sư đầu ngành về văn học Trung
Quốc hiện nay trong nước. Ông cho ra ḷ không biết bao nhiều là tiến
sĩ, lớp thầy của thầy đứng lớp dạy các em học sinh phổ thông hiện nay.
Trong bài Quanh nguồn tư liệu có liên quan đến bài Ngôn hoài của
Không Lộ thiền sư (Tạp chí Văn học, 12-1996) & Nguyễn Khắc Phi
tuyển tập ( nxb Giáo dục, Hanoi, 2006) ông viết :
“Cứ mỗi lần nghĩ tới ba chữ "hàn thái hư là tôi giật ḿnh khi nhớ
chắc rằng ḿnh đă có "ḷ sưởi điện" trước "tủ lạnh" và "máy điều hoà"
gần hai mươi năm ! Và trên đất nước ở vùng nhiệt đới này, ước sao mỗi
trưa hè có được một "tiếng thét dài" "làm lạnh cả không gian vũ trụ" như
tiếng thét của thiền sư Không Lộ ! “ !
Ông giáo sư quên rằng hàntháihư là một từ Phật triết Đại
Việt, chỉ cơi Vô ( nơi đấy vô sinh, vô tử, vô ngă, là cái cơi niết bàn,
chính là nơi thể hiện cho cụm từ “sắc sắc không không ‘ mà ta thường
nghe ). Cái đích ngắm của mọi người tăng sĩ là đến cơi niết bàn, cơi
phật, nơi đó mọi vật trong vũ trụ đều có cùng một “ngă “ như nhau. Vì
sao? - Xin hẹn ở bài sau. Bài Giải mã mật ngữ trong bài thi kệ
Ngôn Hoài của Không Lộ thiền sư ngay trên trang website
này.
Thái hư là từ của Đạo, của nho gia Trung Quốc.
Khi chạm mặt với từ Nirvana một Phạn ngữ người Tàu ban đầu
dịch lung tung. Không ai chịu ai. Cuối cùng họ đành phiên âm. Niết bàn
là một từ phiên âm như thế. “hàntháihư” từ này không có trong Hoa ngữ.
Nó là mật ước truyền thừa. Nhờ thế mà nội dung nhất quán trên từng từ
xuất hiện trong văn bản. Nghe âm thế, thấy như thế th́ hiểu như thế, đó
là một quy luật của ngôn ngữ khi chữ viết c̣n đang trên đường manh nha,
thứ chữ tượng h́nh trước khi nó bị trũ bỏ và thứ chữ kư âm như quốc
ngữ của chúng ta hiện nay lên ngôi. Hẹn bài sau đi sâu hơn.
Nay ta thử lướt qua bản dịch của thiền sư Thích Nhất Hạnh
xem sao.
Bản dịch của thiền sư Nhất Hạnh, kư tên Nguyễn Lang, Việt Nam Phật
Giáo Sử Luận, Saigon, nxb Lá Bối 1973:
Chọn nơi địa thế đẹp sông hồ
Vui thú t́nh quê quen sớm trưa
Có lúc trèo lên đầu chóp núi
Kêu dài một tiếng lạnh hư vô.
Hoà thượng Thích Thanh Từ trong cuốn Thiền Sư Việt Nam giảng giải
như sau: “Câu chót nói lên cái phi thường của người đạt đạo ở núi
rừng. Kêu dài một tiếng mà lạnh cả bầu trời. Ư ngài nói chỗ núi rừng
vắng vẻ rất thích hợp với người tu, khi lên chóp núi tĩnh tu, đạo lực
đầy đủ rồi th́ làm kinh động cả trời đất, hay nói cách khác là cảm ứng
cả trời đất. “ trích lại từ nguồn của Chị PHẠM THẢO NGUYÊN
Bạn có thấy sự khác biệt giữa hai bản dịch ?
1- Ngôn ngữ dịch của thiền sư Nhất Hạnh tinh tế hơn. Người
dịch để lại cái hơi Làng Mai. Tỉnh giác trên từng bước chân thiền. Xưa
nay bản dịch cũng thường để lại cái “ air” của người dịch. Thiền sư
né không đụng chạm tới bốn từ cốt lơi ở câu đầu đó là, 1- trạch (
sự cố t́nh đặt từ này vào văn bản thay v́ tuyển – " chọn canh
kén cá ". 2- long xà, 3 -khả trong khả cư.
Long xà, thiền sư không động tới bởi sợ sẽ
dẫn dắt người đọc bản văn dịch của ḿnh, sợ người đọc hiểu lầm đây là
bài thơ của một ông thầy địa lư, một ông thiền sư “ chúa mê tín dị
đoan, mê phong thủy – bói toán”’. Thà là như vậy đi !. Long xà là hai từ
mà Ngài Không Lộ thiền sư chọn vào văn bản, đó là vết của sự uyên
bác của một người thiền giả từng trăi, người đă từng có cơ hội đọc bản
thánh kinh của người theo đạo Phật -nguyên thủy-, bản kinh Milanda, -
bởi trong sử sách nói ngài đă học với một Samon trong thời gian ngài
qua Tây Trúc. Hai từ đó nhắc nhở lời dạy của cao nhân. Người t́ kheo
ngay bước đầu tu học phải học các thuộc tính của loài rắn. Con đường
hành thiền với sự quyết tâm chặt đứt vô minh, chặt đứt “ lậu “ từ ngă
chấp của ḿnh. Bài học đầu đời về Tứ Niệm Xứ và con đường Bát Chánh
Đạo do Đức THẾ TÔN đă vạch ra. xin đọc
http://thuvienhoasen. org/a969/mi-tien-van-dap
MI TIÊN VẤN ĐÁP (MILINDA PANHA), Dịch giả: Ḥa thượng Giới Nghiêm
(Maha Thera Thita Silo), Tỳ kheo Giới Đức hiệu đính, ấn bản 2003. Bạn có
thấy tiền nhân ta dùng “ khả cư” trong khi bản văn của Lư Cao
là “U cư”. Trong bản văn của Lý Cao, ông dùng U cư bởi
đúng như những ǵ thực tế diễn ra. Người Tàu có người đă dùng cụm “
khả cư" trong thơ văn của họ. Tại đây ta thấy ngay sư Tàu khác sư
Việt. Duy Nghiễm khác Ngài Không Lộ thiền sư của ta. Việt là Việt,
Hán là Hán, Tàu là Tàu. Duy Nghiễm kén bởi trong ông “ngă chấp”
c̣n quá mạnh ( “tuyển” để rồi chọn “u cư’, thâm lâm cùng
cốc. Ngài Không Lộ thiền sư của ta, là một cao tăng quốc sư, nhưng
ngài dùng trạch. Từ cho một độ chọn rất rộng, phù hợp với con
đường hoằng pháp của ḿnh. Rằng nơi nào c̣n có chúng sinh đau khổ là
nơi đó có bước chân người thiền giả. T́ kheo vốn dĩ là người “ rày đây
mai đó “, “người lang thang”, thế gian cần th́ người Giác ngộ
đâu dùng chân. Xin bạn đọc lại cuộc đời
Đức THẾ TÔN qua mạng.
Bài thi kệ này áp sát những ǵ mà Ngài Không Lộ
thiền sư học được ở Bậc Chánh Đẳng Chính Giác ấy. Để có thể viết lại
một bài kệ truyền thừa như thể là một bản kinh pháp cú tóm tắt sau mỗi
bài pháp thoại mà Đức THẾ TÔN đă làm, bạn sẽ gặp các bất ngờ dằng
dặc trong văn bản này. Tiền nhân ta cực kỳ thông minh và cười khoan
dung với mỗi chúng ta. Mỗi từ không dùng mô tả cụ thể mà là gói một
lời truyền thừa, một ý tưởng. Lời là ư.
2- Chỉ tại bạn vô t́nh đấy thôi. Bạn đừng mất
công đọc các bản dịch khác của các người khác bởi hai bài là đă đủ.
Vì sao? _ khi mà sự thấu hiểu bản văn do thói quen, đọc bản văn như
đọc và dịch thơ Đường. Người dịch đă không bung hết ra nội hàm qua
bản dịch xuôi. Đầu c̣n bị kẹt th́ đuôi làm sao qua. Chính v́ vậy mới
sinh chuyện!. Phủ nhận và bôi bác như dàn đồng ca “ kẻ đốt đền” mà
laiquangnam đă viết ở phần dẫn nhập.
Sự không am hiểu này đă đẫn đến một hệ lụy bi thương hơn, họ đă làm tổn
thương không biết bao nhiêu triệu cánh chim Việt đang chọn một quốc
gia nào đó làm quê hương ḿnh. Nơi Quê người xa tít kia, bên trời đại
dương kia, mà hồn vía họ vẫn thường bay về nơi quê cha đất tổ thăm chừng,
rằng nay dung nhan tổ quốc ḿnh ra sao. Thương thay và buồn lắm thay !.
III - Mang chuông đi đánh xứ người
Phần này laiquangnam trích ra từ Nguồn “Thơ Thiền Lư Trần, nhà
thơ Nguyễn Duy chủ biên, nxb Văn Hóa Sài G̣n, ấn bản lần thứ hai, 2008,
trang 58 và các trang tiếp “. Tập thơ này in ra nhân Đại Lễ Vesak lần
thứ V của Phật giáo thế giới, lần đầu tiên tổ chức tại Việt nam vào năm
2008 (PL 2552), từ ngày 13 đến ngày 17 tháng 5. Có khoảng 100 quốc gia
với 600 đoàn Phật giáo và hơn 5000 người tham dự. Và Đại Lễ Vesak lần
thứ XI vào năm 2014, Việt Nam cũng được vinh dự tổ chức, tại lần thứ
2 này số đoàn khách tham gia đông hơn, và dĩ nhiên sách cũng được biếu
tặng.
Khách tham dự là ai ? là các cao tăng, là các học giả, là các giáo sư
viện sĩ có liên quan đến văn hóa Việt, đến Phật giáo Việt Nam, họ
được đọc bản văn như thế này :
ZEN MASTER
KHONG LỘ (DUONG KHONG LO)
(?-1119)
Nguyên tác
( chữ hán ) như bản thư quy bên trên
言 懷
擇 得 龍 蛇 地 可 居,
野 情 終 日 樂 無 餘。
有 時 直 上 孤 峰 頂,
長 叫 一 聲 寒 太 虛
Dịch nghĩa Việt ngữ ( cho người Việt năm châu đọc ):
Chọn được kiểu đất long xà, có thể ở được
T́nh quê vui suốt ngày không dứt
Có lúc lên thẳng đỉnh núi trơ vơ
Hú một tiếng dài lạnh cả bầu trời.
Dịch thơ :
Tỏ nỗi ḷng
Đất long xà chọn được đây
T́nh vui thôn dă suốt ngày miên man
Đôi khi thượng đỉnh núi hoang
Buông dài một tiếng hú vang lạnh trời
Nguyễn Duy dịch
Phần anh ngữ do hai ông
Giáo sư Kevin Bowen & Nguyễn Bá Chung
Nguyễn Bá Chung, Giáo sư trường Đại Học Massachusette (Boston- Hoa Kỳ).
Giáo sư Kevin Bowen là đồng nghệp
ZEN MASTER
KHONG LO ( DUONG KHONG LO)
(?-1119)
English :
Revealing One’s Reflection
Finding a dragon–sharped land where I could reside
I pass long days there in unending bliss
There’s time a headed directly to a cold, windswept peak
Utter a cry that chills the great emty sky.
POEM
Reflection Revealed
A dragon–sharped land to call my own
Long days in unending bliss
Sometimes I climb the solitary peak
Utter a cry chills the emty sky
Kelvin Bowen and NguyenBa Chung
Lưu ư rằng, Nguyễn Duy đă bỏ ra năm năm để chuẩn bị. Có giáo sư Văn
học Việt Nam “sừng sỏ’ là giáo sư Nguyễn Huệ Chi giúp đỡ đọc hiểu
văn bản. Có giáo sư tiến sĩ, cao tăng Lê Mạnh Thát đọc lại. Kỹ đến
như thế, vậy mà !
Cho Laiquangnam miễn có lời nhận xét về bản văn dịch ra Anh ngữ. Tuy
nhiên laiquangnam có mối ưu tư này và cả câu hỏi này xin được gởi đến
các bạn hiền đang theo dơi bản văn này.
1. Trong hàng ngàn khách mời đó, họ là các giáo sư đại học trên khắp
thế giới quy tụ về đây. Hẳn có các học giả Tàu hiện diện bên cạnh các
học giả người Nhật và Âu Mỹ. Nhiều người Âu Mỹ trong số khách mời đó
đọc được nguyên tác bài Ngôn Hoài của Không Lộ thiền sư viết bằng
chữ Hán. Chắc trong số Họ, có người đă đọc danh tác “Essays in Zen
Buddhism ”của Đại sư người Nhật, Daisetz Teitaro Suzuki. Và họ đă
gặp bài thơ Lư Cao. Họ nghĩ ǵ nếu như có một giáo sư người Tàu có
máu Đại Hán tấn công tiền nhân ta. Liệu lúc đó các lời có cánh mà các
giáo sư đại học của ta và nhà thơ của ta trong nước như thế này có
làm người Việt hải ngoại không rơi nước mắt ?
Xin nhường cho câu trả lời cho các tấm ḷng Việt đang đọc đến cuối bản
văn này.
Xin cám ơn
Laiquangnam
-o0O0o-
Kỳ tới
Ngay trong số này Chim Việt Cành Nam này, laiquangnam gởi tiếp bài thứ
hai có tên
Giải mă “mật ngữ” trong thi kệ Ngôn Hoài của Không
Lộ thiền sư,
Qua bài này bạn sẽ thấy trí thông minh của người Việt khi họ vận dụng
thứ chữ viết của Tàu mà hồn là hồn Việt ngữ
Thân ái
Quê nhà chả có ǵ vui,
Ngước lên, cúi xuống, Con chui ngách nào ?
Loay hoay chưa biết làm sao!,
Thành phố HCM, Dec 15, 2016
laiquangnam
_____
Bài đọc thêm hôm nay :
1- Lời có cánh từ bài Ngôn Hoài của Không Lộ thiền sư
2- Đọc Lĩnh Nam Chích Quái từ bản dịch của Viện Văn học
Hanoi
www. art2all. net
|