laiquangnam

 

THỬ ĐỀ NGHỊ MỘT GIẢI PHÁP GIỚI THIỆU THƠ TIỀN NHÂN TA

 

 

BÀI THƠ DI SẢN CHỮ HÁN

NGÔN HOÀI

CỦA KHÔNG LỘ THIỀN SƯ ( ? - 1119)


        Phần I - Đi t́m văn bản Ngôn Hoài thư quy

 

       Phần II - Truyện Không Lộ trong Lĩnh Nam Chích Quái (trong này có phần đối chiếu với Câu chuyện của Lư Cao và cao tăng Duy Nghiễm)

 

        Phần III - Dàn Đồng Ca đă vu cáo Không Lộ Thiền sư như thế nào ? ( trong phần này có phần các biện giải kháng cự và lời có cánh của các Giáo sư đầu ngành)

                  - IIIA

                  - IIIB

 

        Phần IV - Giải mă “mật ngữ” trong thi kệ Ngôn Hoài

- Đoạn thứ nhất, Dẫn nhập và tâm t́nh
- Đoạn thứ hai, “thuật ngữ của người xưa”
- Đoạn thứ ba, bài pháp thoại của Không Lộ thiền sư mà Lĩnh Nam Chích Quái dấu kín
.

 

 

 

PHẦN IV

 

GIẢI MĂ "MẬT NGỮ" TRONG THI KỆ NGÔN HOÀI

 

 

Đoạn thứ nhất, Dẫn nhập và tâm t́nh.

Để việc giải mă bài thi kệ Ngôn Hoài không gây lấn cấn và hiểu lầm giữa người viết và bạn đọc, nếu như cả hai chúng ta cùng thông qua định luật ngôn ngữ này. và những ǵ mà Arthur F Wright viết về “Thời kỳ đầu Dịch kinh Phật của người Trung Quốc” mà laiquangnam đă chuyển theo cùng với bài viết này.

 

NGÔN NGỮ SINH HÓA, LUẬT DARMESTETER :

..... " NGÔN NGỮ SINH HÓA là sự biến nghĩa theo thời đại, theo tác giả, theo vị trí lời văn...... "

Định luật Darmesteter : "Ngôn ngữ có sinh hóa như một sinh vật. Nếu một sinh vật trải qua 3 thời kỳ ấu trĩ, trưởng thành, lăo suy th́ ngôn ngữ cũng có 3 thời kỳ : thô sơ với một vài nghĩa, phong phú với nhiều nghĩa tế nhị và cuối cùng mất hẳn nghĩa sâu xa chính yếu. " trích nguồn từ Giáo sư Thạch Trung Giả.

Xin nói thêm, chỉ khi tiếng Trung chuyển biến sang từ VIỆT HÁN th́ luật này càng đúng. Ban đầu tiếng Trung nhập vào kho tàng Việt ngữ Việt Nam do các nhà nho, người Việt có ăn học, nó được gọi là chữ nho. Ngày nay chữ Hán không mấy người biết đọc, chữ nho mất dần rồi biến hẳn. Chữ Nho nay đă thành một thứ tử ngữ chỉ dành cho giới nghiên cứu.

Ví dụ minh họa, chúng tôi thử chọn một cách t́nh cờ vần A, âm” Áp”. Áp đang tồn tại trong kho tàng Việt ngữ ngày nay và trong các từ điển.

1- áp ( áp 鴨. / là con vịt của tiếng Trung, ông bà ta nhận từ này để ghi cho một một con vật nuôi trong nhà. Vịt quá quen thuộc nhưng ngày đó chúng ta chưa có chữ viết, không biết làm sao ghi lại thông tin này lên giấy, vẽ con vịt lên giấy ? -không khả năng, thôi đành học lấy chữ viết của người đô hộ ḿnh, cũng tiện nhưng khi với con ta là một người mù chữ Tàu, thấy 鴨, _ổng đang “ vẽ bùa” lên giấy !.

2- nếu áp (壓 ) như áp lực, áp là đè sát, nguyên là tiếng Trung ( tức tiếng Tàu 100%) nhưng nay nói đàn áp, áp suất th́ người Việt biết ngay là nói về cái ǵ, vấn đề ǵ. Nó trở nên thân quen, từ từ nó là từ VIỆT HÁN. Tiến tŕnh từ chữ Nho sang từ VIỆT HÁN là một quá tŕnh lâu dài. Nó phải kinh qua Hán Việt, từ này người Việt học khi đến trường, người đi học phải dùng từ điển mới hiểu nghĩa và cách dùng. Một từ khi đă quen dùng th́ ngữ nghĩa c̣n tùy thuộc vào sự “SINH HÓA tiếp theo, có sự biến nghĩa theo thời đại, theo tác giả, theo vị trí lời văn. . . . . ", Định luật Darmesteter như đă nhắc.

Ông bà ta thủa mà Nho giáo c̣n thịnh, qua văn chương hay qua việc điều hành xă hội, họ dùng chữ Nho, hai từ Áp lực chuyển sang từ Hán Việt, ta có từ áp lực, rồi từ từ sang từ VIỆT HÁN như đàn áp và áp lực công việc. Nó nay được xem như tiếng Việt đến 99%.


Phần giải mă này hoàn toàn dựa từng chữ trên “ bản văn thư quy” mà chúng tôi đă viết trong Phần thứ nhất tại trang Chim Việt Cành Nam.

Rằng chúng tôi không dùng những từ xa lạ xuất hiện trong các bản văn của "Ai đó" cho dù có cùng tên Ngôn Hoài của Không Lộ thiền sư.

Trong bài thứ nhất, chúng tôi đă nêu lên hai vấn đề.

Một là, việc dịch chuyển một bài thơ từ chữ Hán của tiền nhân ta sang chữ quốc ngữ bằng phép áp dịch 1- 1 là vô phương. Mọi cố gắng của lớp đàn anh chúng tôi cho thấy tất cả đều thất bại, kể cả sự cố gắng của Thầy Thích Nhất Hạnh. Họ đă để lại những hậu quả nghiêm trọng cho nền văn hóa của sắc dân Đại Việt, một bản dịch vô cùng tệ hại bằng Anh ngữ của giáo sư đại học Nguyễn Bá Chung đă được đem ra giới thiệu trong kỳ đại hội VESAT tại Việt Nam trước 700 học giả và tăng sĩ khắp năm châu năm xưa.

Bí mật nằm ở bài thi kệ này được người đời Trần đă cố ư đưa vào tại một vị trí độc đáo, sau khi các Ngài đă chèn các tư tưởng Phật giáo Trung Quốc mà người Hán xào nấu lại trước đó. Sách Việt Nam Phật giáo sử luận của giáo sư Nguyễn Lang cho biết người Đại Việt đă nhận nhiều lần cùng một bản kinh Đại Tạng cơ bản viết vào năm 938 và được cập nhật nhiều lần, lần sau th́ thêm vào các kinh sách do chinh người Tàu trước tác nương theo một lời của Đức THẾ TÔN nói và sau đó triển khai “ rất ư là Tàu”. Ví dụ: các đoạn kinh nói về cơi âm ty, Đại Địa tạng kinh. . Khi đối chiếu lại với những ǵ đọc được từ kinh tiếng Pali, có lẽ tiền nhân ta đă sớm thấy nhiều đoạn, nhiều phần trong bộ kinh Đại Địa Tạng này bị người Trung Quốc bịa thêm, ngụy tạo rồi “gắn nhăn mác “rằng đó là lời Phật dạy. . “Kinh ngụy tạo” của đạo Phật Trung Quốc được viết hầu như đồng thời với lúc khởi đầu các hoạt động dịch thuật kinh Phật vào giữa thế kỉ thứ 2 sau công nguyên, nhưng theo tôi, vào thế kỷ V đến VII, nhất là đời nhà Tùy th́ lượng kinh này nhiều kinh khủng. Theo ghi chép của Đại Tạng Kinh Phật giáo, con số kinh ngụy tạo gia tăng liên tục qua các thế hệ cho đến ít nhất vào thế kỉ thứ VIII”. Người Tàu đă chèn một cách khéo léo vào đó, một phép tu khác thường, một lối lư luận khác thường. Từ niết bàn ( Nirvana) họ dịch măi vẫn chưa xong, đôi khi các từ chữ Nho làm người cư sĩ hay tăng sĩ Việt cảm thấy nó quá xa lạ khi so với từng bước đi của người Sáng lập minh triết Phật giáo. Niết bàn ( Nirvana) là Tây thiên cực lạc ư ? là vườn đào của Tây vương Mẫu ư?, là Cơi về khi cái chết đến với người tăng sĩ ư?. Niết bàn ( Nirvana) là ư niệm bất khả tư duy, không có trú xứ, nơi hội tụ bản thể muôn loài. Vô sản vô sinh. Rằng sự khác nhau giữa các bộ kinh từ Trung Quốc và từ Kinh Pali của vùng Nam và Nam Á là “Các bộ kinh Trung Quốc hay Tây Tạng có nội dung luôn “để mở” hay “bỏ ngơ” với mục đích cho phép sự tiếp tục thêm vào dễ dàng các bản kinh mới từ Ấn Độ qua nhiều thế kỉ. Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, một t́nh huống như vậy đă tạo cảm hứng cho ư muốn tân trang các bản kinh và khích lệ sự sáng tạo ra các bản kinh gọi là kinh ngụy tạo. Kinh Pali của vùng Nam và Nam Á, trái lại đă được “cố định” rất sớm trong lịch sử, điều này khiến khó có thể thêm vào đó những nội dung nào khác. ”

Hai là, lớp đàn anh chúng tôi đă không thấy được sự tinh tế. khi mà bản văn Ngôn Hoài của Không Lộ thiền sư được Lĩnh Nam Chích Quái đă chọn làm đại diện cho chuyện KỲ LẠ tại đất Lĩnh Nam. Hệ tư tưởng này “kỳ vỹ “ v́ chỉ có ở mảnh đất Lĩnh Nam, nước Đại Việt xưa mà thôi. Và rằng người phương Bắc chẳng bao giờ có một con người kỳ vĩ như thế và một bài thi kệ như thế. Thật ra đó là một “ dàn bài “ với đầy “Mă ngữ” nhằm ghi lại một bài hoằng pháp của một Đại sư.

Ngài Không Lộ thiền sư ( tổ thiền thứ IX, ) bài Ngôn Hoài và sau Ngài là thiền sư Quảng Nghiêm ( tổ thiền thứ XI ) với bài Hưu hướng Như Lai (休向如來), cả hai đều thuộc ḍng thiền Vô Ngôn Thông nay đă được Việt hóa. Họ đă “gạn đục khơi trong “, đă hoàn toàn lột xác về tư tưỏng, thoát khỏi một số ḍng Phật Hán cố hữu để mang gịng thiền này đến cho chúng ta. Việc đối thoại giữa một tăng sĩ với Đại sư thể hiện trong câu chuyện Không Lộ đă được thuật lại trong Lĩnh Nam Chích Quái khá đầy đủ. Hai bản văn này là một minh chứng về tầm ảnh hưởng của ḍng kinh Pali tại đất nước ta.

Sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận ghi nhận Ngài Không Lộ thiền sư đă từng qua Tây Trúc ( tức là qua các nước Đông Nam Á và Nam Á) nên Ngài đă tiếp cận được kinh điển gốc, sự tiếp cận kinh MILANDA, Mi tiên vấn đáp đă để lại thuật ngữ XÀ xuất hiện trong bài Ngôn Hoài, chính là đoạn kinh số 265 của Bộ kinh này. Tại đất LUY LÂU xưa người Việt cũng đă có một sinh hoạt sôi nổi về việc bàn luận về kinh Phật giáo từ Phạn ngữ.

Thế nên cho dù bên Trung Quốc hoạt đông mạnh về dịch thuật nhưng không có tí “ảnh hưởng ” nào trên việc các Ngài đặt ra thuật ngữ mới để có mà dùng, bài Ngôn Hoài là một minh chứng với 11 thuật ngữ.

Chúng tôi tin rằng vào thời Lư, thời điểm mà Ngài Không Lộ thiền sư c̣n sống để viết bài Ngôn Hoài này th́ người Việt đă nắm được minh triết Phật giáo nhờ một con đường khác rất riêng của người Việt. Tính đến thế kỷ thứ XII th́ bộ kinh duy nhất mà đất nước này tiếp cận là bộ kinh Đại Tạng, bản văn viết vào năm 938.

Dù chúng ta đă biết rơ rằng, từ vài trăm năm trước Trần Huyền Trang đă có một công tŕnh đồ sộ về dịch thuật kinh sách Phật giáo Ấn Độ khi đến Ấn Độ. 'Đại đường Tây vực kư' là danh tác của ông nhưng, chúng tôi nghĩ rằng không có mấy người Đại Việt thời Lư tiếp cận được những ǵ mà người Tàu đă có. . Những thuật ngữ rất quen thuộc vào thời đại chúng ta đă không xuất hiện như Tứ diệu đế, Bát Chánh Đạo, chân như, niết bàn, chân tâm, chân diện mục, LạcVôDư, Lạc hữu dư, Bồ Đề Tâm đều chưa thấy xuất hiện trên các văn bản thi thiền, thi kệ của các thiền sư người Việt vào thời điểm đó; thế mà bản văn Ngôn Hoài của Ngài Không Lộ thiền sư vẫn thể hiện được cùng nội hàm sâu xa của các từ trên mang cùng một tư tưởng, một định nghĩa với các thuật ngữ Phật triết thân quen hôm nay. Như thế, Tiền nhân ta đă “tiêu hóa ḥan toàn“ các minh triết Phật giáo mà không hề lúng túng. Họ có thể giảng một cách rơ ràng, mạch lạc hoàn toàn, các đoạn kinh sách Phạn ngữ gốc theo một thứ ngôn ngữ Việt của ḿnh vào thời đó. Tại sao tiền nhân ta lại làm được điều kỳ lạ đó cho dù vào thời điểm đó, đất nước chúng ta chưa có chữ viết thể hiện tiếng nói của dân tộc ḿnh. Chữ Hán lại là thứ chữ vay mượn và số người biết trên đầu ngón tay. Vấn đề là sự quyết tâm, là sự phát hạnh nguyện( khi c̣n là cư sĩ ), phát Bồ Đề Tâm ( khi đă là một đấng Giác Ngộ ), họ cố trả lời câu hỏi đang làm họ ưu tư: Viết cho ai ? Viết để làm ǵ?, Làm sao có thể thể hiện một bản văn mà muôn người như một, đều hiểu như nhau, Lợi ích lâu dài là ǵ ? Đó là thứ quyền lực mềm như ngôn ngữ ngày nay đề cập. Tất cả v́ sự vững bền của văn hiến của đất nước này, tất cả v́ lời hạnh nguyện Tam Hộ, Hộ quốc, Hộ pháp, Hộ gia. Tại đất nước này, khi giặc đến nhà vua tuy thấm nhuần đaọ Phật từ bi, là thiền sư hạng nhất, nhưng vẫn sẳn sàng khoác áo chiến bào, phạm giới sát sinh, tất cả Họ đều hưóng tới sự b́nh yên và vững bền cho tổ quốc. Câu thứ ba trong bài Hưu hướng Như Lai “ Nam nhi tự hữu xung thiên chí“ khiến ta suy nghĩ. Tu tập hướng đến niết bàn ( Nirvana) hay phục vụ đất nước để đất nước này đời đời bền vũng này đều là Chí Cao của người làm trai !

Bài hoằng pháp Ngôn Hoài hướng đến đại chúng đă được phổ cập; và sự hồi phục nó là điều TỐI CẦN THIẾT. Và vô cùng khẩn thiết. Chúng tôi tin rằng đại đa số người dân ngày đó đều có có thể tiếp nhận dễ dàng những kiến văn về Phật giáo tinh chất của Ngài Gautama vẫn không khác biệt lắm so với người Việt đọc sách Phật giáo ngày hôm nay. TẠI SAO chúng ta lại không hiểu tiền nhân ḿnh ngày đó hoằng pháp ra sao ?

Nay sách vở Phật giáo đă nhiều, đối chiếu với Phác đồ của EDWARD CONZE, một trong các bộ óc am tường Phật triết nhất thời đại chúng ta với bố cục của bài thi kệ Ngôn Hoài của Không Lộ thiền sư, chúng tôi nghĩ rằng điều đó sẽ giúp cho các bạn hiểu được sự Tài hoa của tiền nhân ḿnh. Tuỵệt lắm !

 



Bài thơ Ngôn Hoài, Laiquangnam đề xuất bản văn F2 (4)

Trạch đắc long, xà, địa khả cư
Dăt́nh, chungnhật, lạcvôdư
Hữu, th́ trực thướng côphongđỉnh
Trườngkhiếu, nhấtthanh, hàntháihư

 

Qua h́nh minh họa-trích từ sách của Ed. Conze

- Nhánh mũi tên phía bên phải A ==> B ==> Nội tâm tự giác
Đó là câu thứ nhất và thứ hai

- Nhánh mũi tên phía bên trái A ==> C ==> chân không vô tướng
Là hành tŕnh của người người hành thiền thông qua việc thực hành Bát Chánh Đạo,

- Chánh niệm ==> Chánh định ==> chánh tư duy -TUỆ GIÁC BÁT NHĂ ( HUỆ GIÁC)
Ứng với câu thứ ba trong bài thơ Ngôn Hoài của Không Lộ thiền sư “hữu, thời trực thướng cô phong đỉnh”

Phần ngang hàng

Nội tâm tự giác – chân không vô tướng ==> niết bàn ( Nirvana)
Chính là câu thứ tư- Phát nguyện Bồ Đề Tâm, tuyên bố một cách kiên định và nhất quán rằng với lời hạnh nguyện
Theo chân Đức THẾ TÔN đến cùng, Hoằng pháp, hoằng pháp và hoằng pháp, tự tích lũy “ ĐIỂM “ “ hữu -tích cực” ==> cơi niết bàn ( Nirvana)

Bước đi mà Ngài Gautama đă thực hiện ngày xưa, th́ nay qua Ngài Không Lộ thiền sư, một Đại sư Đại Việt có thể dạy cho người đến học tập, có thể lặp lại được. Sự tồn tại bởi bản văn Ngôn Hoài được lưu truyền măi sau khi Ngài Không Lộ thiền sư qua đời trên dưới 200 năm, mà danh tác Lĩnh Nam Chích Quái viết vào cuối đời Trần, tức cuối thể kỷ thứ 14 ( 1394 ? ) cố t́nh đưa vào cách nhau những mấy trăm năm là một minh chứng về UY LỰC của bản văn.

Chắc chắn rằng các đại đệ tử của Ngài đă giảng đi giảng lại cho chúng đệ tử bằng thứ ngôn ngữ Việt rất b́nh dân và dễ hiểu như ngài. Người nghe giảng sau đó cũng có thể lập lại bài giảng một cách dễ dàng như ngài. Đó là nhờ tất cả họ đă xử dụng văn bản Ngôn Hoài như là “ bản mật ngữ” được sắp xếp như một dàn bài

 

Xin đọc tiếp
Đoạn thứ hai “thuật ngữ của người xưa”
Trên cùng trang website này


Laiquangnam
SG, giữa tháng 7, năm 2017
 


Phần tham khảo và chú thích của người viết
trong khi chờ đợi phần trọng tâm các bạn đọc thử lại các link này
(1) http://chimvie3.free.fr/65/lqnn_TimGiaiPhapKhac03a_KhongLo_065.htm

     http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_ngonhoai_phan3_A.htm

(2) Ông NBC đă dạy tại một trường rất danh tiếng tại miền Đông HOA KỲ. Cho dù cố vấn văn bản là giáo sư Văn học Nguyễn Huệ Chi hổ trợ phần tư tưởng, thế nhưng ĐÁNG THẤT VỌNG, khi ai đó có đọc bộ Thiền luận của Đai sư D. SUZUKI về đoạn thiền Trung Hoa, với bản văn U cư của Lư Cao. Thầy Thích Nhất Hạnh thử theo hướng của SUZUKI khi b́nh về bản văn Ngôn Hoài nhưng có lẽ đă bị thất bại.

(3) Xin đọc tại link sau để bạn thấy ngay chính kinh Đại tạng có nhiều bản kinh rất nổi tiếng cũng là kinh do Tàu ngụy tao https://thuvienhoasen.org/a15607/kinh-nguy-tao-apocrypha

(4) http://chimvie3.free.fr/baivo/laiquangnam/lqnn_TimGiaiPhapKhac03b_KhongLo.htm#c04

      http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_ngonhoai_phan3_B.htm

(5) Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, giúp bạn thấy sư sinh hoạt sôi nổi trên đất nước Văn Lang, Đại Việt

(6) Kinh Mi Tien Van Dap - HT Gioi Nghiem - Pháp Thí Hội,

http://www.phapthihoi.org/kinh/Ebooks/Buoc-Dau-Hoc-Phat/Phat-Hoc-Van-Dap/Kinh-Mi-Tien-Van-Dap-HT-Gioi-Nghiem.pdf

và điển từ “Xà” là đoạn kinh số 265 nằm trong Mitien vấn đáp. Ngài Không Lộ thiền sư đă khéo léo nhắc trong bài Ngôn Hoài của ḿnh là một minh chứng về huyền thoại cuộc đời của Ngài Không Lộ thiền sư rằng ngài đă từng “vân du” Tây trúc.

(7) LỊCH SỬ THIỀN TÔNG TRUNG QUỐC

http://chimviet.free.fr/vannhat/namtran/LSTTTQ/NNT_LSTTTQ1.htm

giúp bạn thấy sự sinh hoạt sôi nổi trên đất nước Trung Hoa

(8) https://vi.wikipedia.org/wiki/Lĩnh_Nam_chích_quái

(9) Được nói rơ trong phần viết về “Thuật ngữ của người xưa “ tiếp theo đoạn này.

Hữu này là “hữu tích cực “ khác với “hữu tiêu cực” là một trong Nhị Thập Nhân Duyên, (9), được định nghĩa rơ ràng trong phần “thuật ngữ của người xưa” tiếp theo.

(huệ giác tức tuệ giác bát nhă )- trí tuệ của người hành thiền khi họ đă bước vào không gian ( trường, field ) lạc vô dư ( viết rời ) tại câu thứ hai của bài thi kệ Ngôn Hoài.

(10) Niết bàn ( Nirvana) đă được dịch sang tiếng Tàu là những từ nào ?

        1- Niết-bàn (zh. 涅槃, sa. nirvāṇa, pi. nibbāna, ja. nehan) là từ được dịch âm từ gốc tiếng Phạn nirvāṇa hoặc tiếng Pāli nibbāna. Nirvāṇa nguyên là phân từ thụ động quá khứ của động từ niḥ-√vā

         2- nirvāti với nghĩa "thổi tắt", "dập tắt" (một ngọn lửa) và như thế th́ nirvāṇa mang nghĩa đă bị dập tắt, thổi tắt. Qua đó mà thuật ngữ nirvāna cũng được dịch nghĩa là Khổ diệt, Diệt (zh. 滅), Diệt tận (zh. 滅盡), Diệt độ (zh. 滅度), Tịch diệt (zh. 寂滅), Bất sinh (zh. 不生), Viên tịch (zh. 圓寂), và v́ khổ diệt được hiểu là mục đích tối cao trong đạo Phật nên nirvāṇa cũng được dịch ư là Giải thoát (zh. 解脫). Tóm lược lại th́ Niết-bàn có thể được hiểu là: T́nh trạng ngọn lửa tham lam, sân hận, ngu si đă bị dập tắt.

        đến như vi-wikipedia https://vi.wikipedia.org/wiki/Niết-bàn
mà c̣n viết “Tóm lược lại th́ Niết-bàn có thể được hiểu là: T́nh trạng ngọn lửa tham lam, sân hận, ngu si đă bị dập tắt. ” – xin xem lại bài Hưu hướng Như Lai (休向如來), anh Tâm Tuệ Hỷ định nghĩa hay hơn và rơ ràng hơn.

 

=======================
 

Đoạn thứ hai “thuật ngữ của người xưa”
hay

Thuật ngữ minh triết Phật giáo mà Ngài Không Lộ thiền sư đă dùng khi hoằng pháp đạo Phật cho đồng bào Đại Việt của ḿnh vào đầu thế kỷ thứ XII
Ngôn Hoài của Không Lộ thiền sư, laiquangnam,

http://chimvie3.free.fr/65/lqnn_TimGiaiPhapKhac03a_KhongLo_065.htm 

 

  

www. art2all. net