|
laiquangnam
THỬ
ĐỀ NGHỊ MỘT GIẢI PHÁP GIỚI THIỆU THƠ TIỀN NHÂN TA

BÀI THƠ DI SẢN CHỮ HÁN
NGÔN HOÀI
CỦA KHÔNG LỘ THIỀN SƯ ( ? - 1119)
Phần I -
Đi t́m văn bản
Ngôn Hoài thư quy
Phần II -
Truyện Không Lộ
trong Lĩnh Nam Chích Quái (trong này có phần đối chiếu với Câu chuyện
của Lư Cao và cao tăng Duy Nghiễm)
Phần III - Dàn Đồng Ca
đă vu cáo Không Lộ Thiền sư như thế nào ? ( trong phần này có phần các
biện giải kháng cự và lời có cánh của các Giáo sư đầu ngành)
- IIIA
- IIIB
Phần IV - Giải mă “mật
ngữ” trong thi kệ Ngôn Hoài
-
Đoạn thứ nhất, Dẫn nhập và tâm t́nh
-
Đoạn thứ hai, “thuật ngữ của người xưa”
- Đoạn thứ ba, bài pháp thoại của Không Lộ thiền sư mà Lĩnh Nam Chích
Quái dấu kín.

PHẦN II
TRUYỆN KHÔNG LỘ
TRONG LĨNH NAM CHÍCH QUÁI
Vào năm 1990 bản văn Ngôn
Hoài của Không Lộ thiền sư được đưa vào giáo tŕnh bậc học phổ thông tại
Việt Nam. Hai năm sau, 1992, Viện trưởng Viện Khảo Cổ Việt Nam, giáo sư
Hà Văn Tấn mở màn cuộc tấn công bản văn này. Là người có chức có quyền,
bản văn tấn công của ông ngay lập tức gây tiếng vang và Dàn Đồng Ca thổi
kèn xung trận. Đă có những tiếng nói kháng cự yếu ớt của các giáo sư văn
học Việt Nam đầu ngành như Giáo sư Nguyễn Đ́nh Chú, Giáo sư Nguyễn Khắc
Phi, Giáo sư Trần Đ́nh Sử nhưng không ăn thua ǵ. Dàn đồng ca sau đó
lặng lẽ kèm thêm lời chú thích cực kỳ tiêu cực vào bài học này trong
sách Giáo khoa Ngữ Văn Lớp 10 sau 75. Người mở hộp Pandora là Hà Văn Tấn.
Kẻ Đốt Đền lần cuối và quét sạch tàn tích là nữ giáo sư tiến sĩ Đoàn Thị
Thu Vân hậu duệ ông. Năm 1998, “phe ta” đồng loạt bóc bản văn này ra
khỏi Tuyển Tập Thơ Văn Lư Trần. Năm 1999 bản văn bị bóc ra khỏi giáo
tŕnh Ngữ Văn lớp 10. Cuộc chiến kết thúc, thắng lợi. ”HUY HOÀNG!. thuộc
về phe ta. (1)
"Ai đó" ngơ ngác đến năo ḷng!
Làm sao vô hiệu hóa thắng lợi vô lư của “Phe Ta” ?
Bước một là phải có ngay một bản văn thư quy về bài
thơ Ngôn Hoài -chúng tôi đă làm. Bước hai là giải mă câu chuyện về Ngài
Không Lộ thiền sư trong Lĩnh Nam Chích Quái – đang làm. Và cuối cùng là
phải giải mă cho kỳ được bản văn Ngôn Hoài một cách thuần lư để bài thơ
này là một viên ngọc trong kho tàng trí tuệ Việt Nam và có thể ở bậc cao
hơn “?” – Đó là tiếng gọi của con tim của người Việt Hải Ngoại.
Tại bước hai là giải mă câu chuyện về Ngài Không Lộ thiền sư trong Lĩnh
Nam Chích Quái – đang làm này, chúng tôi đă dùng hai tài liệu. Thứ nhất
là Lĩnh Nam Chích Quái cuả Viện Văn Học Hà Nội do Đinh Gia Khánh
chủ biên và thứ hai là Thiền Uyển Tập Anh của giáo sư Lê Mạnh
Thát chọn dịch. (2) (3)
Lĩnh Nam Chích Quái là niềm tự hào của sắc dân sống tại đất Lĩnh
Nam. Niềm tự hào của sắc dân Lạc Việt. Nó giúp củng cố niềm tin Việt là
Việt, Hán là Hán, Tàu là Tàu. Nhà bác học Lê quư Đôn kín đáo nói xa gần
rằng :” Tiền nhân ta ta luôn luôn có ư đồ cạnh tranh về trí tuệ với
người phương Bắc. “ Điều này có thật khi ta đọc kỹ câu chuyện về
Không Lộ thiền sư trong Lĩnh Nam Chích Quái.
Qua hai tài liệu kể trên, tôi đă dùng đến 95% những ǵ mà ta có thể dùng
lại được. Sai sót chỉ một hai từ trong bài thơ Ngôn Hoài trong
hai bản văn này mà thôi. Và việc này đă được giải quyết ở phần thứ I .
Cách viết của người Việt thời Lư Trần?.
Các tác giả của ta thưở ấy đang sống trên một đất
nước không có chữ viết riêng cho dân tộc ḿnh. Họ học chữ Tàu, đọc sách
Tàu, viết chữ Tàu, do vậy thói quen dựa vào một cái nền của người Tàu đă
làm sẵn là điều dễ hiểu. Tiện và gọn cho ḿnh, bởi tiết kiệm về thời
gian, về giấy mực. Có khi người xưa cho đó là mẫu mực thưởng ngoạn của
người cùng thế hệ “?”.
Cảnh Đức Truyền Đăng Lục ghi lại đời sống và sinh hoạt của các
cao tăng Trung hoa được lưu trữ tại các chùa Tàu và các chùa Việt thuộc
ḍng Phật Hán trên đất nước này. Câu chuyện của cao tăng Duy Nghiễm được
Lư Cao, thi nhân đời Đường tán dương qua hai bài thơ, là niềm hănh diện
của dân tộc phương Bắc về một hướng tu thiền “Đốn ngộ” được Đại sư
Suzuki nhắc lại trong bộ Thiền luận của ông.
I- Câu chuyện Không Lộ thiền sư trong Lĩnh Nam Chích
Quái
( bản văn thư quy, Từ nguồn của giáo sư Lê Mạnh Thát )
Câu chuyện Không Lộ thiền sư xuất hiện đồng thời trong Lĩnh Nam Chích
Quái và Thiền Uyển Tập Anh. Cả hai bản văn đều “giông giống
nhau “ một cách đáng kinh ngạc về cách bố cục và ngôn ngữ, giáo sư tiến
sĩ Lê Mạnh Thát đă viết như thế; rằng đă có một sự sao chép từ cùng một
nguồn. Ngày nay chúng ta có điều kiện tốt hơn người xưa do bởi phương
tiện truyền thông và đi lại.
THIỀN SƯ Không Lộ ( ? - 1119)
laiquangnam ghi bên ḍng: Bạn sẽ thích nếu như bạn để ư rằng đă có rất
nhiều data nén vào trong đoạn văn rất ngắn dưới đây.
“Ngài là người họ Dương. Ḍng dơi làm nghề chài, sau bỏ nghề chài, hướng
ḷng theo Phật, thường tŕ tụng Đàlani môn. Trong khoảng Chương Thánh
Gia Khánh (1059 - 1065) cùng bạn đạo là Giác Hải cất bước vân du, tạm
đến chùa Hà trạch nương thân, mặc áo cỏ, ăn lá cây, đến nỗi quên chính
thân ḿnh. Ngài dứt ruỗi dong, trọng tu thiền định, tâm thần tai mắt
ngày một nhẹ nhàng, bèn bay lên không, đi trên nước, làm cọp nép, kêu
rồng xuống, muôn quái ngh́n kỳ, người không lường nổi
Sau Sư về quận ḿnh lập chùa. Một hôm, có thị giả thưa rằng: "Từ ngày
con đến đây, chưa được thầy dạy bảo chỗ tâm yếu, nhưng con mạn phép xin
tŕnh một bài kệ:
Nguyên tác
鍛鍊身心始得精
森森直幹對虛靈
有人來問空空法
身在屏邊影集形
Phiên âm
Đoán luyện thân tâm thỉ đắc tinh
Sum sum trực cán đối hư linh
Hữu thân lai vấn không không pháp
Thân tại b́nh biên ảnh tập h́nh.
Sư xem xong bảo: "Ngươi đem kinh đến, ta v́ ngươi nhận, ngươi mang nước
đến, ta v́ ngươi uống, th́ có chỗ nào mà ta lại không cho ngươi tâm yếu?".
Bèn cất tiếng cười ha hả. Sư thường nói kệ rằng:
Nguyên tác
言懷
擇得龍蛇地可居,
野情終日樂無餘。
有時直上孤峰頂,
長叫一聲寒太虛。
Phiên âm
Ngôn hoài
Trạch đắc long xà địa khả cư
Dă t́nh chung nhật lạc vô dư
Hữu th́ trực thượng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
Từ văn bản Phiên âm F1
Trạch đắc long xà địa khả cư
Dă t́nh chung nhật lạc vô dư
Hữu th́ trực thượng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
Laiquangnam đề xuất bản văn F2 (4)
Trạch đắc longxà địa khảcư
Dăt́nh, chungnhật, lạcvôdư
Hữu, th́ trực thướng côphongđỉnh
Trườngkhiếu, nhấtthanh, hàntháihư.
Ngày mồng 3 tháng 6 năm Kỷ hợi, Hội Tường Đại Khánh thứ 10 (1119), Sư
viên tịch. Môn đồ thu thập xá lợi táng trước cửa chùa.
Sau đó, vua ban chiếu sửa rộng chùa này và đặc cách cho thuế hộ 20 người
để trông coi hương khói. ”
II- Câu chuyện nhà sư DUY NGHIẾM và nhà thơ Lư Cao [ 李
翱 ]
( Theo sát đến 95 % và viết lại từ nguồn của giáo sư
đầu ngành về văn học Trung Quốc Nguyễn Khắc Phi )
Lư Cao [ 李 翱 ] là ai ?. Ông là Quan Thứ sử đất Lăng châu thời Đường bên
Tàu và là nhà thơ. Trước kia ông có quan điểm chống Phật giáo bởi sự cao
ngạo của người Đại Hán, rằng Phật giáo vốn xuất xứ từ người Hồ, rằng ”
Trung Nguyên ta có văn hóa từ muôn đời nay, tại sao nay ta phải học của
họ “. Về sau Ông thích minh triết Phật giáo, cho dù văn hóa Lăo Trang
vốn đă có sẳn trong tâm hồn người Trung Hoa như ông. Nơi ông cai quản có
một cao tăng tên là Duy Nghiễm, ông thường đến đó thăm viếng và học thêm
về đạo pháp. Ông nhận nhà sư làm thầy. Hai bài thơ sau đây, ông viết
tặng vị thiền sư đó là nổi tiếng hơn cả. Nó nhuốm mùi thiền đốn ngộ.
Cảnh Đức Truyền Đăng Lục đă viết một bài dài bàn sâu về bài này. Sau đây
là nội dung hai bài thơ vừa đề cập.
李翱,
Lư Cao
贈藥山高僧惟儼
Tặng Dược Sơn cao tăng Duy Nghiễm
-o0O0o-
其一
煉得身形似鶴形,
千株松下兩函經。
我來問道無餘說,
雲在青天水在瓶。
Kỳ 1
Luyện đắc thân h́nh tự hạc h́nh,
Thiên châu tùng hạ lưỡng hàm kinh.
Ngă lai vấn đạo vô dư thuyết,
Vân tại thanh thiên thuỷ tại b́nh.
Kỳ 2
幽居
選得幽居愜野情
終年無送亦無迎
有時直上孤峰頂
月下披雲嘯一聲
U CƯ
( tức bài Tặng Dược sơn cao tăng Duy Nghiễm, kỳ II )
Tuyển đắc u cư khiếp dă t́nh
Chung niên vô tống diệc vô nghinh
Hữu th́ trực thướng cô phong đính
Nguyệt hạ phi vân khiếu nhất thanh
III- Ta thấy ǵ ở hai bài thơ này ?
Giống và khác nhau ( Một của Lư Cao và Một của
Không Lộ thiền sư, tiền nhân ta )
IIIa- Về Lư Cao
Bài thơ thứ nhất, Lư Cao viết về cuộc gặp gỡ của ông với nhà sư. Ông
thường hỏi nhà sư về tính không, về cách nh́n cho đúng “ bản lai diện
mục “ của tạo vật. Bài thơ thứ hai, khi nghe người dân trong địa bàn ông
quản lư kể lại “ Đêm trăng tṛn hôm qua, có tiếng cười vang dội từ một
nhà sư đang đứng trên đầu núi nh́n trời“. Ông đă hiểu điều ǵ đă xảy ra
với thầy ông. Ông tin Thầy ḿnh nay “ Đốn ngộ “ do bởi ông đă thấy được
cái “bản lai diện mục”, ”cái chân tâm như thường trụ” ngay khi mây đen
kéo đi hết, vầng trăng kia “ phô ra ‘cái “ đĩa vàng sáng vằng vặc “ đó
là “ bản lai diện mục “ của chính nó; Nh́n lại ḿnh, nay ông đă thấy-cái
chân tâm, cái Phật tánh khi mà mọi “ vô ḿnh kéo qua hết”, ông đă đốn
ngộ. Từ h́nh ảnh ấy, ông viết bài thơ thứ hai kể trên.
Từ thực tế đó, kinh sách Trung hoa viết lại, ” tán ra “ câu chuyện trong
“Cảnh Đức Truyền Đăng Lục”, giáo sư Nguyễn Khắc Phi dịch lại cho chúng
ta như sau: (5)
"Thứ sử Lăng Châu là Lư Cao muốn tiếp thụ đức lớn của thiền sư, nhiều
lần mời nhưng sư không đến. Bèn phải tự thân vào núi yết kiến. Sư cứ cầm
quyển kinh, không màng ngó tới. Người hầu bạch cụ : "Thưa có quan Thái
thú ở đây". Lư Cao tính t́nh nóng nảy, nói : "Thấy mặt chẳng bằng nghe
danh !". Sư gọi: "Thái thú !". Cao thưa : "Dạ vâng". Sư hỏi: "Sao lại
coi trọng tai mà khinh rẻ mắt ?". Cao chắp tay tạ lỗi và hỏi : "Thế nào
gọi là Đạo ?". Sư đưa tay chỉ trên và trỏ dưới rồi hỏi : "Hiểu không ?".
Cao đáp : "Không hiểu ạ". Sư nói : "Mây ở trên trời, nước ở trong b́nh"
(Vân tại thiên, thuỷ tại b́nh). Cao vừa ư, đáp lễ rồi thuật một bài kệ
như sau :
Kỳ 1
Luyện đắc thân h́nh tự hạc h́nh,
Thiên châu tùng hạ lưỡng hàm kinh.
Ngă lai vấn đạo vô dư thuyết,
Vân tại thanh thiên thuỷ tại b́nh.
Cao lại hỏi: "Thế nào là Giới, Định, Tuệ ?". Sư đáp : "Ở chỗ bần đạo
không có đồ dùng không cần đến ấy". Cao không đoán ra được ư nghĩa thâm
thuư của câu nói. Sư bảo : "Nếu Thái thú muốn tu dưỡng chân tính và vận
dụng được nó th́ hăy lên đỉnh núi thật cao hay ngụp xuống dưới đáy biển
cực sâu mà đi (trực tu hướng cao cao sơn đính, toạ thâm thâm hải để hành).
Những vật trong khuê các nếu luyến tiếc mà không cắt bỏ được th́ sẽ thấm
điều phiền năo !".
Một đêm, sư lên núi kinh hành. Bỗng mây rẽ trăng ló, sư cười lớn. Tiếng
cười lan xa đến khoảng chín mươi dặm về phía đông Phong Dương. Cư dân ai
cũng hỏi nhà phía đông của ḿnh. Đến sáng hôm sau truyền hỏi đến tận núi
Dược Sơn. Mọi người bảo : "Đêm qua hoà thượng đă cười lớn trên đỉnh núi
đó !". Lư Cao lại tặng một bài thơ:
Kỳ 2
U CƯ
Lư cao
( tức bài Tặng Dược sơn cao tăng Duy Nghiễm, kỳ II )
Tuyển đắc u cư khiếp dă t́nh
Chung niên vô tống diệc vô nghinh
Hữu th́ trực thướng cô phong đính
Nguyệt hạ phi vân khiếu nhất thanh
Măi sau này, một người Tàu là Phan Quế Minh giải thích câu thơ của tiền
nhân họ như sau: "Vân tại thanh thiên, thuỷ tại b́nh", trong bài thứ
nhất như sau; "Đó là Thiền lư mà Lư Cao đă lănh ngộ được. Mây trôi nổi
phiêu dạt trên trời xanh, nước đứng yên trong b́nh, một động một tĩnh,
bản chất thiên nhiên vốn là vậy, chẳng bận tâm làm ǵ. Đó cũng là ư của
câu "Sơn thị sơn, thuỷ thị thuỷ" mà Thiền gia thường truyền tụng để ám
thị cái cảnh giới sau khi đă đốn ngộ".
Tại bài thơ thứ hai của Lư Cao, ư thiền đốn ngộ quá rơ nên người Tàu
không giảng ǵ thêm. Chính bài tứ tuyệt thứ hai là sự mô tả cụ thể giai
đoạn hành thiền của nhà sư Duy Nghiễm. Một thiền sư chọn ngôi chùa dựa
vào cảnh núi rừng yên tĩnh. Cái hay là câu cuối, vừa mô tả đúng thực tế,
vừa lột tả phép tu đốn ngộ của ḍng thiền Trung hoa ngày đó.
Xin Bạn đọc qua phần của Lư cao, và phần b́nh giảng của người Tàu tán
dương về tiền nhân họ. Bạn đă được đọc câu ‘Vân tại thanh thiên thuỷ
tại b́nh”. Tiền nhân ta trong Lĩnh Nam Chích Quái viết mấy từ “Sư
xem xong bảo: "Ngươi đem kinh đến, ta v́ ngươi nhận, ngươi mang nước đến,
ta v́ ngươi uống, th́ có chỗ nào mà ta lại không cho ngươi tâm yếu?". (Lĩnh
Nam Chích Quái ).
Trí tuệ người xưa thật là kinh hồn và tinh tế làm sao. Hành văn nén chặt
không chê vào đâu được !
Mời bạn đọc tiếp bố cục trong câu chuyện trong Lĩnh Nam Chích Quái
IIIb- Về Không Lộ thiền sư & Ngôn hoài.
.
Tiền nhân ta khi viết từ lại từ cái nền ấy trong Lĩnh Nam Chích Quái gọn
hơn, nén hơn, nhưng áp sát theo mô thức của Cảnh Đức Truyền Đăng Lục.
Bước thứ nhất đưa ra thơ mồi rồi tiếp đó đưa bài thơ chính Ngôn Hoài vào
bản văn.
Đoán luyện thân tâm thỉ đắc tinh
Sum sum trực cán đối hư linh
Hữu thân lai vấn không không pháp
Thân tại b́nh biên ảnh tập h́nh.
Sư xem xong bảo: "Ngươi đem kinh đến, ta v́ ngươi nhận, ngươi mang nước
đến, ta v́ ngươi uống, th́ có chỗ nào mà ta lại không cho ngươi tâm yếu?".
Bèn cất tiếng cười ha hả. Sư thường nói kệ rằng:
Ngôn hoài
Trạch đắc long xà địa khả cư
Dă t́nh chung nhật lạc vô dư
Hữu th́ trực thượng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
Tại bài thơ mồi, từ “B́nh biên”, được dùng là một sự cố ư của tác giả
Lĩnh Nam Chích Quái để h́nh ảnh minh họa linh động hơn. Tác giả cho
người hành giả ngồi sát hay áp sát mặt vào tấm gương của chiếc b́nh
phong th́ hiện tượng này xảy ra ảnh tập (tập hay là rập như nhau ). Ảnh
“đồ”, rập /tập, ảnh trong gương soi y chang người ngồi trước nó. Bài thơ
mồi có đại ư như thế này: “ Rèn luyện thân tâm th́ mới được có tấm
thân như ư ḿnh, Tâm thanh tịnh, thể cường tráng. San sát thân người đối
diện với hư linh. Người mang H́nh hài này vốn vướng bận về Không Vương
Pháp, (tức Lời Phật dạy về tính không ( không tánh), nay ḷng mang điều
c̣n nghi hoặc chưa thông, xin được ngài chỉ dạy. Tại sao thế?. “
Vừa nghe xong lời đệ tử, Ngài Không Lộ thiền sư của chúng ta đă đọc được
ngay ḍng tư tưởng của Anh ta, thế nên Ngài bảo:
1-Ngươi đem kinh đến, ta v́ ngươi nhận.
Kinh ǵ?, Kinh luận về tính không bát nhă, về Trung Quán Luận, bởi
“ngươi” có ư muốn nhắc ta về Lư Cao, Duy Nghiễm ?. – laiquangnam nhắc
tuồng bạn, “ Ngài Không Lộ thiền sư là tổ thứ ba của ḍng Thảo Đường,
một ḍng thiền chuộng văn học”. Ta đang biết “Ngươi” chưa thông. "Ngươi”
không biết là phải, bởi ngay cả điều đơn giản nhất mà “ngươi” c̣n chưa
thông ( ảnh rập h́nh khi dựa tường, dựa gương ), vậy th́ làm sao mà
“ngươi” hiểu về tính không, luận về NHÂN VÔ NGĂ VÀ PHÁP VÔ NGĂ thường
trụ ở cơi niết bàn. "
2-Ngươi mang nước đến, ta v́ ngươi uống.
Tại sao tác giả Lĩnh Nam Chích Quái, và Thiền Uyển Tập Anh lại chèn từ
“nước“ vào đây. Th́ ra từ bản văn của người hành giả, học tṛ?, Ngài
biết “ cậu ta” đă dùng câu thơ cùng lấy ư trong các ḍng kinh khá khó là
Viên Giác, Pháp Hoa, Kim Cương. Loại kinh cùng nguồn với bài thơ thứ
nhất của Lư Cao viết tặng nhà sư Duy Nghiễm có từ NƯỚC, trong câu “Vân
tại thanh thiên thuỷ tại b́nh”-. Mây trên trời và nước trong b́nh.
Nước là từ thân quen thường được các Tổ mang ra làm ví dụ. Nước, sóng
trên bề mặt đại dương có khác ǵ với lớp nước đại dương sâu thẳm. Này,
xưa Đức THẾ TÔN khi hoằng pháp, Ngài đâu có giảng quá phức tạp như thế!.
Nay cứ từng bước một theo điều được dạy trong Bài pháp kệ Ngôn Hoài
truyền thừa, nó sẽ giúp mngươi t́m đến bến bờ giác ngộ mà không quá lao
tâm lạo lực như thế. .
3-Sư thường nói kệ rằng:
Điều này cho thấy, bài Ngôn Hoài được thiền sư thường được Sư mang ra
giảng cho chúng sinh, từ người mới bước chân vào cửa Phật cho đến một
bậc cao tăng. Bài thơ thiền này chính là “bài pháp kệ truyền thừa” được
thường xuyên giảng dạy trong Thiền phái. Đây là điểm khác biệt của
hai bản văn: bản văn của Lư Cao và bản văn của Không Lộ thiền sư.
Tác giả Lĩnh Nam Chích Quái gởi cho chúng ta nụ cười. Tác giả đă thay
mặt thiền sư dấu ḿnh sau trang sách, gởi đến thế hệ chúng ta nụ cười
này: “- khờ quá, ông bạn nhỏ của ta ơi! ”. Ảnh là bóng, H́nh hài là thật.
Ảnh h́nh giống nhau do mắt thấy, từ Ngă chấp mà ra. Có tiếng ”cười ha hả.
” rộ ra sau trang sách. Ô là là ! tiền nhân của chúng ta, Tuyệt lắm!.
Quá nhiều hàm ư ẩn dụ, vừa thương hại, vừa bao dung, sau hai âm “ha hả”
ấy. Người đă đại ngộ th́ “Lạc vô dư” là vậy. Lạc là “sukha” trong cảnh
giới Phật, cảnh giới thiền, đâu phải là Lạc của cảnh giới Lăo Trang. Có
khi nào Bạn hiền nghĩ rằng tác giả Lĩnh Nam Chích Quái, tiền nhân ta đă
“cười nụ” trên bản văn của Cảnh Đức Trấn Truyền Đăng Lục?. Thành Phật
đâu có dễ dàng như thế, - bạn có để ư ngài rất đa hệ -đâu phải chỉ là Tổ
ở ḍng thiền Vô ngôn Thông, thôi đâu.
Chính v́ không đọc kỹ những ǵ mà tiền nhân ta viết, lại dồn nổ lực tra
cứu trong kinh điểnTàu; choáng ngợp những ǵ họ viết, quay lại phát ngôn
“ vô trách nhiệm “ trên di sản tiền nhân ta. Người th́ mở hộp Pandora,
Kẻ kia châm lửa Đốt Đền!. Tất cả đều đă là kẻ phạm Tội ác, tội hủy hoại
di sản tiền nhân ta.
Xin các “người “ trong Dàn đồng ca nhớ rằng, - Ai đó một khi đến cửa
Phật, th́ câu đầu tiên mà họ phải tự đọc là “Quy y Phật, quy y Pháp, quy
y Tăng “. Một lần nữa, xin đừng quên rằng Ngài Không Lộ thiền sư trong
sử sách viết ngài học đạo với một Samon khi qua Tây Trúc : với bài thi
kệ Ngôn Hoài, nội dung thể hiện những ǵ mà Lời Phật dạy về vai tṛ của
một t́ kheo, tức tăng sĩ Phật giáo như sau:
1-Tỳ kheo là từ hàm chứa sự đầy đủ về giới hạnh (Pàli: Śla; Skt: 'Śla’)
và trí tuệ (Pàli: Pannă; Skt: Prajnă).
2-Một tu sĩ chân chính khi vị ấy không những xa rời sự tham dục và những
trạng thái xấu ác, mà c̣n thể nhập vào 4 trạng thái của thiền định (Skt:
Dhyànas; Pàli: Jhànas).
3-Tỳ kheo nên làm những công việc đáng làm như sự tu tập về đức tính tàm
quư, về thân-khẩu-ư hành thanh tịnh, về mạng sống thanh tịnh, sự pḥng
hộ các căn, sự tiết độ trong ăn uống, sự chánh niệm và tỉnh giác;
4-Tỳ kheo phải sống như ḥn đảo của chính ḿnh, hăy nương tựa chính ḿnh,
không nương tựa ai khác, để giải thoát mọi tham dục và phiền năo thông
thường ở đời.
Cuối cùng, Đức Phật kết luận lời dạy của Ngài rằng
5-một tu sĩ Phật giáo được gọi là hoàn hảo phải có 8 đặc tính:
a) có ḷng tin, có giới, có nghe nhiều, có thuyết pháp, có sống với hội
chúng, có vô úy thuyết pháp cho hội chúng, với bốn Thiền thuộc tăng
thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được
không mệt mơi, chứng được không phí sức, do diệt tận các lậu hoặc, ngay
trong hiện tại, với thắng trí tự ḿnh chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô
lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát;
Thành tựu 8 pháp này, -này các Tỳ kheo, Tỳ kheo được tịnh tín hoàn toàn
và được viên măn về mọi phương diện (6)
Thích Quang Thạnh Ph. D
Xin các “người”, người đánh trống kẻ thổi kèn, cầm đuốc, mở hộp xông tới
ngôi Đền thiêng –Ngôn Hoài nhớ cho một điều là “bản văn Ngôn Hoài của
Không Lộ thiền sư của chúng ta vô cùng kỳ ảo, bởi nó áp sát Lời Phật dạy
trên, mà trong bài thơ của Lư Cao không sao có được một chữ, một ḍng -
(7)
Đối chiếu với câu chuyện của Lư Cao, bản văn mà tiền nhân ta đă viết tuy
rất ngắn nhưng đă làm rơ nét thuộc tính Việt, Việt là Việt, Hán là Hán,
Tàu là Tàu.
Phần tham khảo.
1 - ta sẽ trở lại vấn đề này trong một bài riêng, Kẻ Đốt Đền di sản tiền
nhân, nằm trong loạt bài về Không Lộ thiền sư này, ngay trên trang
website này.
2 - đă nhắc tại phần I, Đinh Gia Khánh chủ biên Lĩnh Nam Chích Quái và
thứ hai là Thiền Uyển Tập Anh của giáo sư Lê Mạnh Thát
3 - Lê Mạnh Thát Thiền Uyển Tập Anh
Lê Mạnh Thát, Thiền Uyển Tập Anh, bản khắc vào thế kỷ 18, đời Hậu Lê.
4 - Các từ viết liền, là viết dính liền lại một đề xuất của laiquangnam
nhằm thúc đẩy sự phát triển tự vựng tiếng Việt qua chữ quốc ngữ hiện
nay, đây là của thuật ngữ Phật giáo, minh triết của nhà Phật, hay gọi là
Phật triết.
Trong bản văn F2, các từ viết liền, là viết dính liền lại, đó là của
thuật ngữ Phật giáo, hay nói khác hơn là các từ Phật triết của sắc dân
Đại Việt thời Lư. Có ba cách viết trong bản văn Việt ngữ, viết rời, viết
dính liền và viết có ngang nối. Mỗi cách viết khiến một cặp chữ mang một
thẻ trạng khác nhau -
5- Nguồn của từ sách của giáo sư
Nguyễn Khắc Phi, Trung Quốc Thiền tông tư tưởng lịch Kim Nhật Trung Quốc
xuất bản xă, Bắc Kinh, 1992, trang 335.
Phần liên quan đến Lư Cao, laiquangnam lấy trong sách Nguyễn Khắc Phi
tuyển tập. Xin cám ơn giáo sư Nguyễn Khắc Phi.
6- (https://www. giacngo. vn/PrintView.
aspx?Language=vi&ID=52C650
Đại đức Thích Quang Thạnh–Tổng Thư Kư Hội Đồng Điều Hành của Học Viện
Phật Giáo Việt Nam TPHCM
7- phần này sẽ dược làm rơ trong bài
cuối cùng là bài Giải mă Ngôn Hoài của Không Lộ thiền sư
Những tháng ngày cuối năm “Con khỉ”
Laiquangnam
___________________
Mời bạn đọc bài giải trí
Phụ lục 1- Hộp Pandora là ǵ ?
---------o0o----------------------
Kỳ tới
Phần IV: Giải mă “mật ngữ” trong thi kệ Ngôn Hoài của Không Lộ thiền sư.
Bạn sẽ đọc vào ngày đầu Xuân con Gà
www. art2all. net
|