Thân Trọng Tuấn

 

 

 

 

VÙNG ĐẤT DƠI

(THE BAT LANDS)

 

~~oOo~~

 

VÙNG ĐẤT DƠI - PHẦN 5

 

Dơi mang virus giết người.

Các nhà khoa học đề xuất các cách để đối phó.

 

 

https://www.reuters.com/investigates/special-report/global-pandemic-bats-solutions/

 

 

          Nhân loại không cần phải ngừng phát triển để tránh nguy cơ đại dịch. Nhưng các nhà khoa học cho biết cần phải thay đổi nhiều thứ: Nhận ra những rủi ro xung quanh môi trường sống của loài dơi. Đánh giá tốt hơn những mối nguy hiểm liên quan đến sự phát triển ở vùng đất dơi. Và đầu tư nhiều hơn vào việc giám sát và ứng phó với các đợt bùng phát chết người. REUTERS/Dan Peled
 

PH̉NG TẬP THỂ DỤC, ÚC


Các nhà khoa học cho biết, nếu thế giới muốn giảm nguy cơ xảy ra đại dịch toàn cầu, chúng ta phải quản lư tốt hơn cách chúng ta đang tương tác với loài dơi, loài mang vi rút gây ra một số cuộc khủng hoảng sức khỏe tồi tệ nhất trong những thập kỷ gần đây.


Tuy nhiên, một số áp lực kinh tế và chính trị khiến các nhà lănh đạo thế giới gặp khó khăn trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng khí hậu đang làm phức tạp thêm công tác pḥng chống đại dịch. Và cũng giống như biến đổi khí hậu, thất bại có thể gây ra những hậu quả tàn khốc.


Các nhà khoa học cho biết ít nhất bốn biện pháp rất quan trọng để tránh số phận đó:


• Các chính phủ phải xác định và thừa nhận những rủi ro liên quan đến các khu vực có nhiều dơi sinh sống và hợp tác để đảm bảo các quốc gia, dù giàu hay nghèo, có thể ứng phó với các đợt bùng phát dịch bệnh xung quanh họ.


• Nhiều tiền hơn: Ngân hàng Thế giới và các tổ chức khác ước tính cần 10 tỷ đô la mỗi năm để giúp các quốc gia đang phát triển cắt giảm rủi ro và đối phó với dịch bệnh bùng phát.


• Các nhà chức trách phải tạo ra các cách để bắt buộc đánh giá rủi ro sức khỏe trước khi cho phép các dự án phá vỡ môi trường sống của loài dơi.


• Các nhà khoa học phải tiếp tục làm việc để hiểu loài dơi, hệ sinh thái xung quanh chúng và cách loài dơi cư xử khi con người xâm phạm lănh thổ của chúng.


Các biện pháp như vậy nhằm làm giảm khả năng “lây lan từ động vật sang người”, quá tŕnh mà vi-rút truyền từ loài này sang loài khác, chẳng hạn như dơi sang người. Dơi là mối quan tâm đặc biệt v́ vi rút mà chúng mang theo đă gây ra một số đợt bùng phát nguy hiểm nhất trong những thập kỷ gần đây, bao gồm Ebola, SARS và Marburg. Virus Marburg bị nghi ngờ đă giết chết ít nhất 40 người cho đến nay ở Tanzania và Guinea Xích đạo, hai quốc gia đang bùng phát dịch bệnh mà trước đó chưa từng được báo cáo về căn bệnh này cho đến những tháng gần đây.

 


SỰ TỒN TẠI:

Dơi được biết là vật chủ chứa vi-rút gây ra một số đợt bùng phát nguy hiểm nhất trong những thập kỷ gần đây, bao gồm Ebola, SARS và Marburg. Ở trên, một con dơi ăn quả Úc đang tung cánh. REUTERS/Dan Peled


Mặc dù các nhà khoa học chưa thể chứng minh làm thế nào nó lây nhiễm sang người, nhưng vi-rút gây ra đại dịch COVID-19 có liên quan đến một nhóm vi-rút corona được t́m thấy ở một số loài dơi móng ngựa ở Đông Nam Á.


Hume Field, một nhà dịch tễ học thú y người Úc, đồng tác giả của hơn 300 nghiên cứu cho biết: “Nếu bạn là một loại virus ở động vật có vú, th́ bạn không thể t́m thấy vật chủ nào tốt hơn, v́ dơi có khả năng lây lan bạn rất xa. dơi và virus.


Các nhà khoa học cho biết, hiểu được điều đó - và biết nơi nó có khả năng xảy ra cao nhất - là ch́a khóa để giảm nguy cơ đại dịch.


Một phân tích của Reuters, phân tích đầu tiên thuộc loại này, đă sử dụng dữ liệu về môi trường và đợt bùng phát trong hai thập kỷ để xác định hơn 9 triệu km2 trên Trái đất, nơi các điều kiện đă chín muồi để một loại vi rút do dơi lây lan, có thể gây ra một đại dịch khác. Những khu vực này, mà Reuters gọi là "vùng nhảy", chiếm 6% khối lượng đất của Trái đất. Chúng chủ yếu là những vùng nhiệt đới có nhiều dơi và đang trong quá tŕnh đô thị hóa nhanh chóng. Gần 1,8 tỷ người, tức 1/5 nhân loại, đă sống ở những vùng nhảy vọt này vào năm 2020.


Những phân tích như thế này nhằm xác định các khu vực có rủi ro lan tỏa cao có thể mang lại cho các công ty và chính phủ cơ hội để vượt qua vấn đề. Etien Koua, giám đốc t́nh báo dịch bệnh cho Châu Phi tại Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết: “Việc xác định các điểm nóng và tạo ra các mô h́nh để dự đoán những ǵ có thể xảy ra sẽ thực sự giúp ích cho các chính phủ rất nhiều.


Nơi có nguy cơ lan tỏa cao nhất


Reuters đă t́m thấy hơn 9 triệu km vuông, những khu vực mà chúng tôi gọi là “vùng nhảy”, nơi có điều kiện thích hợp nhất vào năm 2020 để vi-rút truyền từ dơi sang người.

Nguồn: Reuters phân tích


Hầu hết các chuyên gia y tế cho rằng việc ngăn chặn một đợt bùng phát trước khi nó xảy ra ít tốn kém hơn nhiều về tính mạng và tiền bạc so với việc dựa vào mức độ sẵn sàng và khả năng ứng phó mà thế giới đă cố gắng tập hợp lại khi COVID-19 tấn công. Koua nói: “Khi một đợt bùng phát xảy ra, mọi người đều được huy động. Một khi nó biến mất, chúng ta có xu hướng quay trở lại cuộc sống b́nh thường và nghĩ: Chà, có lẽ không sao, chúng ta có thể sống như cũ.’ ”
 

Reuters đă đi và nói chuyện với hơn 100 nhà nghiên cứu đang nghiên cứu và làm việc trong môi trường sống của loài dơi trên toàn thế giới. Từ Brazil đến Úc, những khu rừng ở Tây Phi đến những hang động đá vôi ở Đông Nam Á, các nhà khoa học cho biết nhân loại không thể tiếp tục tàn phá môi trường sống của động vật hoang dă. Họ nói rằng không có cách khắc phục nhanh chóng hay dễ dàng nào để tránh tất cả các tác động lan tỏa, nhưng những hiểu biết và đề xuất của họ một ngày nào đó có thể giúp ngăn chặn các đại dịch trong tương lai.

 


ĐÁNH GIÁ RỦI RO


Để xem xét tốt hơn những rủi ro xung quanh các dự án cụ thể, các nhà khoa học và chuyên gia y tế công cộng đang thúc đẩy các chính phủ trên toàn thế giới tạo ra một quy tŕnh chính thức để đánh giá rủi ro sức khỏe trước khi sự phát triển có thể làm xáo trộn môi trường sống nhạy cảm. Hầu hết các quốc gia yêu cầu đánh giá tác động môi trường trước khi các dự án cơ sở hạ tầng hoặc công tŕnh xây dựng khác thay đổi một khu vực. Nhưng có rất ít quy định tồn tại ở bất cứ đâu để yêu cầu đánh giá mức độ phá rừng hoặc những thay đổi môi trường sống khác tạo điều kiện cho sự lây lan của dịch bệnh.


Chadia Wannous, điều phối viên của Tổ chức Thú y Thế giới, một nhóm liên chính phủ chống lại dịch bệnh động vật và là một phần của các cuộc đàm phán đang diễn ra với các cơ quan toàn cầu khác về các quy định nhằm giảm các mối đe dọa lan tỏa, cho biết: “Đánh giá tác động sức khỏe sẽ thay đổi cách các công ty tiếp cận các dự án. “Nó sẽ góp phần làm giảm rủi ro theo thời gian.”
Nhưng cũng giống như trường hợp đàm phán về khí hậu, nơi các quốc gia đang chùn bước trước những cắt giảm lớn trong tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, t́m ra những thay đổi trong cách các quốc gia cho phép phát triển ở các khu vực động vật hoang dă là một thách thức to lớn. Tốc độ thảo luận - giữa các nhà khoa học, chuyên gia y tế công cộng, chính phủ quốc gia và các cơ quan quốc tế - diễn ra chậm, đ̣i hỏi sự đồng thuận và hợp tác giữa các ngành khoa học và các nhà hoạch định chính sách.
 

 


CÁC TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP VỀ SỨC KHỎE:

 

Marburg là một trong một số loại vi-rút có liên quan đến loài dơi đă gây ra những đợt bùng phát chết người trong những thập kỷ gần đây. Ở Ăng-gô-la, các quan chức y tế công cộng vào năm 2005 đă kiểm tra nhà của một nạn nhân bị nghi ngờ mắc bệnh Marburg. Ở Nam Á, virus Nipah đă giết chết hàng trăm người. Cũng trong ảnh, lễ chôn cất một nạn nhân Nipah năm 2018 ở bang Kerala của Ấn Độ. REUTERS/Mike Hutchings/Stringer


WHO vào tháng 3 năm 2022 đă bắt đầu đàm phán với các quốc gia thành viên về một hiệp ước ràng buộc về mặt pháp lư để bảo vệ đại dịch. Một dự thảo của hiệp ước, nhằm mục đích thiết lập các quy tắc vào giữa năm 2024, bao gồm khái niệm “Một sức khỏe” như một nguyên tắc cốt lơi. Khái niệm này sẽ yêu cầu các bên kư kết chấp nhận ư tưởng rằng sức khỏe của con người và động vật hoang dă phụ thuộc lẫn nhau. Dự thảo cũng yêu cầu các quốc gia đồng ư rằng các chính phủ, khu vực tư nhân và xă hội phải hợp tác với nhau để pḥng ngừa.


Giống như cuộc tranh luận lâu nay về lượng khí thải carbon, các giải pháp giảm thiểu các mối đe dọa lan tỏa có thể tạo ra sự khác biệt giữa các khu vực giàu có với các khu vực thu nhập thấp hơn, nơi mà sự phát triển thường được thúc đẩy bởi nhu cầu và được coi là quyền cơ bản nếu các nước nghèo muốn bắt kịp. Một phân tích của Reuters về các khu vực có điều kiện chín muồi nhất cho sự lan tỏa cho thấy 70% các khu vực có rủi ro cao nhất - thường là các vùng nhiệt đới trên khắp các vùng rộng lớn của thế giới đang phát triển - là ở các quốc gia có GDP b́nh quân đầu người, thước đo mức độ thịnh vượng, thấp hơn mức trung b́nh toàn cầu.


Các khu vực rủi ro cao ở các nước đang phát triển

 

Nguy cơ đại dịch cao ở các quốc gia có ít nguồn lực hơn để quản lư nó; 70% các khu vực rủi ro nhất rơi vào những khu vực có GDP dưới mức trung b́nh, một thước đo về sự thịnh vượng.
Nguồn: Reuters phân tích


Các chuyên gia y tế công cộng cho rằng khoảng cách đó phải được khắc phục để các quốc gia trên toàn thế giới giám sát hiệu quả rủi ro và ứng phó với sự lan tỏa. Đó là bởi v́ hầu hết các quốc gia đang phát triển có ít nguồn lực hơn - tiền bạc, nhà sinh vật học, nhà dịch tễ học, pḥng thí nghiệm, v.v. - để xác định, chứ chưa nói đến việc ngăn chặn sự lây lan của mầm bệnh mới. V́ vậy, ngay cả khi họ phê duyệt các dự án nhằm t́m kiếm tăng trưởng kinh tế, họ có thể không sẵn sàng ứng phó nếu sự phát triển tạo ra một mối đe dọa sức khỏe cộng đồng mới.


Doreen Robinson, người đứng đầu bộ phận đa dạng sinh học và đất đai tại Chương tŕnh Môi trường Liên hợp quốc ở Nairobi, cho biết: “Khi bạn đang nói về bệnh lây truyền từ động vật sang người có nguy cơ gây dịch và đại dịch, mối liên hệ yếu nhất có ư nghĩa quan trọng.

 

“Biết rằng bạn đang gặp rủi ro cao chỉ hữu ích khi bạn có khả năng phản ứng với nó.”

 


THU HỒI KHOẢNG CÁCH TIỀN


Chi tiêu nhiều hơn để xây dựng những khả năng đó là khuyến nghị hàng đầu của các chuyên gia y tế công cộng.


Để giúp các nước đang phát triển củng cố hệ thống y tế của họ sau đại dịch, Ngân hàng Thế giới, một tổ chức cho vay đa phương, năm ngoái đă thành lập một quỹ với sự đóng góp của 22 quốc gia cộng với Ủy ban Châu Âu và các nhà tài trợ tư nhân. Với 1,7 tỷ đô la cho đến nay, quỹ này nhằm tăng cường sự chuẩn bị của các quốc gia có thu nhập thấp và trung b́nh bằng cách tăng cường giám sát, nguồn lực pḥng thí nghiệm và nhân sự. Quỹ đang xem xét các đề xuất từ các quốc gia đang t́m kiếm nguồn tài chính.


Tuy nhiên, những khoản tiền đó không đủ những ǵ cần thiết.


Các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, WHO và các tổ chức khác đă phát hiện ra rằng các hệ thống y tế toàn cầu cần hơn 10 tỷ đô la hàng năm trong ít nhất 5 năm tới để chuẩn bị tốt hơn cho đại dịch. Quỹ Tiền tệ Quốc tế, một cơ quan tài chính đa phương khác, đă ước tính rằng COVID-19 sẽ gây thiệt hại cho nền kinh tế thế giới 13,8 ngh́n tỷ đô la cho đến năm 2024.


Nhưng thuyết phục các chính phủ tài trợ cho các mối đe dọa lư thuyết là khó khăn.


Raina Plowright, nhà sinh thái học và nhà dịch tễ học tại Đại học Thú y thuộc Đại học Cornell, người đă nghiên cứu về tác động lan tỏa, cho biết: “Thật khó để biện minh cho việc bỏ tiền vào một thứ có thể gây ra vấn đề trong tương lai. Điều đó càng quan trọng hơn bởi v́ thành công – ngăn ngừa bệnh tật – có thể khó thể hiện. Cô ấy nói thêm: “Nếu chúng tôi ngăn chặn nó không bao giờ là một vấn đề, th́ không ai thực sự biết rằng chúng tôi đă ngăn chặn nó.”


Quy mô của nhiệm vụ và khó khăn trong việc biết chính xác trường hợp khẩn cấp tiếp theo có thể xảy ra ở đâu khiến các chuyên gia y tế công cộng lo lắng rằng những nỗ lực hiện tại là quá khiêm tốn.


Francesca Viliani, một nhà tư vấn chuẩn bị và pḥng ngừa đại dịch ở Copenhagen, người tư vấn cho các công ty khai thác mỏ và năng lượng về các rủi ro sức khỏe cho biết: “Nếu không ai chịu trách nhiệm, th́ sẽ không ai phản ứng.

 


MỞ KHÓA BÍ ẨN
Điều quan trọng đối với bất kỳ phản ứng nào là hiểu rơ hơn về loài dơi, hành vi và môi trường sống của chúng, đặc biệt là khi quá tŕnh phát triển đến gần. Trong lịch sử, sự phát triển thường có nghĩa là dọn sạch một khu vực và loại bỏ bất kỳ chướng ngại vật nào có thể cản trở.


Các nhà khoa học cho biết những nỗ lực loại bỏ loài dơi thường phản tác dụng.
 


CÙNG TỒN TẠI:

Trước khi sự phát triển phá hủy thêm nhiều môi trường sống trên toàn thế giới, các nhà khoa học cho biết chúng ta phải t́m hiểu thêm về loài dơi, hệ sinh thái của chúng và cách các loài động vật cư xử khi con người xâm phạm lănh thổ của chúng. Ở trên, một con cáo bay ở Úc. REUTERS/Dan Peled


Đó là những ǵ đă xảy ra sau khi bốn thợ mỏ vào năm 2007 ở miền nam Uganda nhiễm Marburg, một loại vi-rút có thể gây ra một căn bệnh tiến triển nhanh với đỉnh điểm là xuất huyết và suy nội tạng. Một thợ mỏ đă chết.


Các nhà nghiên cứu vào thời điểm đó đă phát hiện ra các hầm mỏ mà những người khai thác làm việc là nơi sinh sống của hàng chục ngh́n con dơi ăn quả Ai Cập, loài duy nhất được biết là mang Marburg. Khi vi-rút lây lan, những người khai thác đă bẫy hàng ngh́n con dơi bằng lưới và cố gắng bịt kín mỏ bằng sậy và các chướng ngại vật khác.


Năm năm sau, Marburg lại xảy ra một lần nữa, khiến 15 người ở một thị trấn khác gần đó bị ốm.


Các nhà điều tra đă lùng sục khắp khu vực, nhưng họ chỉ t́m thấy dơi ăn quả Ai Cập ở một nơi duy nhất: mỏ. Có thể, những người sống sót hoặc hậu duệ của những con dơi ban đầu đă tái định cư nó. Tuy nhiên, điều khiến các nhà nghiên cứu lo lắng là những con dơi ở thuộc địa mới mà họ đă thử nghiệm Marburg, có tỷ lệ nhiễm vi-rút cao hơn so với những con dơi mà họ đă thử nghiệm trong mỏ vào thời điểm lan truyền đầu tiên, các nhà khoa học đă viết trong một nghiên cứu năm 2014 .


Không rơ tại sao, nhưng các nhà khoa học đưa ra giả thuyết rằng thế hệ dơi mới có thể dễ bị nhiễm vi-rút hơn. Trong số các yếu tố khác, các nhà khoa học cho biết sự căng thẳng của loài dơi có thể khiến chúng phát tán nhiều mầm bệnh hơn.

 

 


TƯƠNG TÁC:

Các nhà nghiên cứu cho biết chúng ta biết rất ít về các quy tắc chi phối hành vi của cá thể và nhóm dơi. Ở trên, một đàn cáo bay và một trong những thành viên của nó ở Úc. REUTERS/Dan Peled
 

Các nhà sinh vật học cho biết họ chỉ mới bắt đầu t́m hiểu về các quy tắc và hành vi phức tạp chi phối cách các đàn dơi tương tác và sinh sản, chưa kể đến sự can thiệp của con người có thể ảnh hưởng đến chúng như thế nào. Enrico Bernard, một nhà động vật học tại Đại học Liên bang Pernambuco của Brazil, vào năm 2014 đă bắt đầu đếm dơi cùng với các sinh viên ở Meu Rei, một ngôi nhà hang động của ít nhất 10 loài ở vùng Caatinga khô cằn phía đông bắc Brazil. Trong bốn năm sau đó, họ nhận thấy những biến động lớn về dân số.


Họ đặc biệt bối rối trước sự khác biệt lớn về số lượng Pteronotus gymnonotus, một loài ăn côn trùng thường được gọi là dơi lưng trần lớn. Sử dụng thử nghiệm di truyền trên dơi từ các loài trong chín hang động trên quỹ đạo 700 km, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng tất cả các loài động vật đều thuộc cùng một thuộc địa sinh sản. Các loài động vật di chuyển giữa các hang động khác nhau vào các thời điểm khác nhau trong năm, có thể v́ lư do sinh sản hoặc theo sự biến động về số lượng côn trùng trong khu vực.


Phát hiện này, Bernard nói với Reuters, cho thấy tầm quan trọng của việc theo dơi lâu dài và quy mô lớn. Nó cũng minh họa mức độ phức tạp của việc khoanh vùng các điểm nhất định để bảo vệ trong khi cho phép phát triển xung quanh các điểm khác. “Tôi không thể nghĩ về những hang động bị cô lập nữa,” anh nói. “Tôi phải suy nghĩ trên quy mô toàn cảnh.”


Nghiên cứu ở Úc cũng đang giúp các nhà khoa học hiểu sâu hơn về loài dơi. Và nó gợi ư những cách khác nhau mà con người có thể cố gắng tác động đến hành vi của động vật – những giải pháp tiềm năng giúp giảm nguy cơ lây lan.


Ở Úc, thỉnh thoảng bùng phát bệnh Hendra, một căn bệnh khác do dơi gây ra, trong những thập kỷ gần đây đă lây nhiễm cho ngựa và đôi khi là cả người. Bốn trong số bảy người được biết là đă bị nhiễm bệnh đă chết.

 


KHU VỰC HƯỚNG DẪN:

 

Để hiểu rơ hơn về sự lây lan của vi-rút Hendra, các nhà khoa học đă nghiên cứu một bầy cáo bay ở Gympie, Australia. REUTERS/Dan Peled


Các nhà khoa học đă xác định cáo bay đen, một loài dơi lớn sống chủ yếu bằng mật hoa và trái cây, là vật mang virus Hendra tự nhiên. Cáo bay di chuyển quăng đường dài để t́m kiếm thức ăn, phân phát hạt giống và thụ phấn cho cây cối trên đường đi. Nhưng vào mùa đông, khi các nguồn tự nhiên khan hiếm hơn, dơi ngày càng t́m kiếm thức ăn gần các trang trại và thành phố..


Để hiểu rơ hơn khi nào sự lan tỏa có thể xảy ra, một nhóm các nhà khoa học đă nghiên cứu hơn hai thập kỷ về môi trường sống của loài cáo bay, những thay đổi trong việc sử dụng đất xung quanh chúng và dữ liệu về sự lan tỏa từ năm 1996 đến năm 2020. Khi nạn phá rừng phá hủy môi trường sống và làm gián đoạn thêm nguồn cung cấp thực phẩm, Họ nhận thấy rằng những con dơi ngày càng h́nh thành những con gà trống quanh năm gần con người. Họ cũng phát hiện ra rằng những con dơi thải ra nhiều vi rút Hendra hơn sau những thời kỳ mà thức ăn đặc biệt khan hiếm.


Peggy Eby, nhà sinh thái học tại Đại học New South Wales, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết: “Nếu lượng thức ăn giảm liên tục và măn tính như vậy, th́ chúng tôi thấy nguy cơ lan tỏa đang gia tăng.”


Năm 2019, hạn hán và cháy rừng khiến lương thực dễ xảy ra. Các nhà khoa học đă chuẩn bị tinh thần cho sự lan tỏa của Hendra vào năm sau. Tuy nhiên, trước sự ngạc nhiên của họ, chỉ có một con ngựa được báo cáo là bị nhiễm bệnh.


“Đây là một cú sốc,” Eby nói. “Những ǵ chúng tôi đă không chú ư đến là những ǵ đang giảm thiểu sự lan tỏa.”


What the scientists hadn’t taken into account was the bats’ response to periodic massive blooms of native gum in the countryside.


Điều mà các nhà khoa học đă không tính đến là phản ứng của loài dơi đối với sự nở rộ định kỳ của kẹo cao su bản địa ở vùng nông thôn. Họ đă thực hiện một khám phá quan trọng khi nghiên cứu khoảng 240.000 con cáo bay đậu trong một rănh nước gần bệnh viện ở Gympie, một thị trấn ở Queensland cách 160 km từ vụ tràn Hendra đầu tiên được ghi nhận. Cây bạch hoa bản địa nở hoa xung quanh Gympie đă thu hút những con cáo bay tránh xa băi ngựa và các khu vực đô thị khác. Và bởi v́ những con dơi có rất nhiều mật hoa để ăn nên khả năng lây lan đă giảm đi.


Mở rộng phân tích của họ để bao gồm tất cả các sự kiện nở hoa lớn từ khắp vùng cận nhiệt đới, các nhà khoa học phát hiện ra rằng không bao giờ có sự lan tỏa trong khi các đợt nở hoa lớn vào mùa đông diễn ra.


Các nhà khoa học cho biết, những phát hiện này có thể rất quan trọng để ngăn chặn sự lan tỏa trong tương lai. Chẳng hạn, trồng những cây như những cây cho dơi ăn vào mùa đông có thể hữu ích. Và việc lập danh mục các biện pháp sẽ mở rộng hiểu biết trước sự phát triển trong tương lai.

 


ẢNH HƯỞNG CỦA THIÊN NHIÊN: Sự ra hoa của cây bạch đàn bản địa, ở trên, đă thay đổi hành vi kiếm ăn của một số loài dơi ở Úc và tác động lan tỏa của Hendra. REUTERS/Dan Peled


Plowright, nhà khoa học của Đại học Cornell, người đă làm việc với Eby trong nghiên cứu, cho biết: “Chúng tôi cần bắt đầu thu thập các khảo sát có hệ thống này để hiểu cách động vật phản ứng với sự thay đổi môi trường. "Nếu không, mọi thứ sẽ là một bất ngờ."


Các mô h́nh cũng có thể giúp các cơ quan quản lư trau dồi tốt hơn khái niệm về khu bảo tồn động vật hoang dă và các vùng đất được bảo vệ khác khi họ xem xét sự phát triển trong tương lai. Các chuyên gia y tế lập luận rằng bản chất phụ thuộc lẫn nhau của các loài và môi trường sống có nghĩa là nó thường không đơn giản như vẽ một đường thẳng và phân định một bên là vượt quá giới hạn và bên kia là không.


Các nhà khoa học cho biết trên thực tế, những khu vực nguy hiểm nhất đối với sự lan tỏa không phải là những môi trường sống hoang sơ hiếm hoi vắng bóng con người. Rủi ro hơn nhiều là những khu vực mà nạn phá rừng và phát triển đă làm mờ ranh giới giữa các khu định cư của con người và vùng hoang dă, nơi động vật hoang dă bị căng thẳng và sự tương tác thường xuyên có thể tạo điều kiện cho sự lây nhiễm.


Nicholas Robinson, giáo sư luật môi trường người Mỹ, người đă tư vấn cho các chính phủ và làm việc về các vấn đề bảo tồn từ những năm 1960, cho biết: “Mọi người thích một vạch sáng. “Họ không hiểu rằng đó là sự tương tác liên tục giữa thiên nhiên và con người.”

 

 

Thái Cát Thân Trọng Tuấn (VH-LVC)

chuyển ngữ từ California ngày 12 tháng 6 năm 2023. Xin tùy ư sử dụng.

 

~~oOo~~


Viết bởi: Jake Spring, Grant Smith, Ryan McNeill, Allison Martell, Adolfo Arranz và Prasanta Kumar Dutta
Dữ liệu: Grant Smith, Ryan McNeill và Allison Martell
Minh họa và hoạt h́nh: Adolfo Arranz và Matthew Weber
Chỉnh sửa ảnh: Simon Newman
Video: Leonardo Benassatto, Bruno Kelly, Jake Spring, Emma Jehle, Lucy Ha và Matthew Stock
Biên tập bởi: Feilding Cage, Paulo Prada, Janet Roberts và Blake Morrison
Phương pháp luận: Được hướng dẫn bởi các nhà khoa học và nhà thống kê, Reuters đă tạo ra một phương pháp ban đầu để đánh giá nơi vi-rút chết người có nhiều khả năng lây lan từ dơi sang người nhất.

 

Filed May 16, 2023, noon GMT

 

Reuters, bộ phận tin tức và truyền thông của Thomson Reuters, là nhà cung cấp tin tức đa phương tiện lớn nhất thế giới, tiếp cận hàng tỷ người trên toàn thế giới mỗi ngày. Reuters cung cấp tin tức kinh doanh, tài chính, quốc gia và quốc tế cho các chuyên gia thông qua thiết bị đầu cuối trên máy tính để bàn, các tổ chức truyền thông trên thế giới, các sự kiện trong ngành và trực tiếp tới người tiêu dùng.

 

 

~~oOo~~

 

 

VÙNG ĐẤT DƠI : GIỚI THIỆU

 

Phần 1: Tây Phi Châu

Các vùng đất dơi trên thế giới đang bị tấn công,

gieo rắc nguy cơ về một đại dịch mới. Đây là nơi đề cập.

 

Phần 2: Ấn Độ

Làm thế nào một loại virus dơi chết người

t́m ra những cách mới để lây nhiễm cho mọi người

 

Phần 3: Lào

Trung Quốc, nơi sinh ra đại dịch COVID,

đang đặt dấu vết cho một cuộc khủng hoảng sức khỏe toàn cầu khác

 

Phần 4: Brazil

Sâu trong rừng Amazon, các nhà khoa học chạy đua với thời gian

để xác định mầm bệnh chưa biết

 

Phần 5: Giải pháp

Dơi mang virus giết người.

Các nhà khoa học đề xuất các cách để đối phó.

 


 

art2all.net