art2all.net

 

TƯỞNG NIỆM

NỮ SĨ HOÀNG HƯƠNG TRANG

(1938 - 2020 )

 

 

THƠ VĂN NHẠC HOÀNG HƯƠNG TRANG

TRANH HOÀNG HƯƠNG TRANG

H̀NH ẢNH HOÀNG HƯƠNG TRANG

Chân thành cám ơn quư thân hữu của a2a

đă cung cấp tài liệu, bài vở và h́nh ảnh sử dụng trong bài Tưởng niệm này:

Tuệ Nga, Thanh Trí, La Thụy, Nguyễn Phú Yên, Trần Dzạ Lữ,

Trương Mỹ Vân và Phạm Ngọc Túy

 

~~oOo~~

 

Tên thật: Hoàng Thị Diệm Phương, sinh năm 1938 tại thừa Thiên Huế.
Tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ Thuật Huế ( 1961), Sư phạm Mỹ Thuật Sài G̣n ( 1962).

Nghiên cứu Mỹ Thuật Á Châu ( Tokyo 1963).

Nguyên Giáo Sư môn Văn và Hội Họa các trường trung học.

Nguyên giáo sư Đại học Mỹ Thuật SàiG̣n và TP.HCM.

 

Giải thưởng Nam Phương Hoàng Hậu ( Thiếu nhi 1948 Huế).

Giải vẽ biểu mẫu nhà máy xi măng Long Thọ-Huế ( 1958).

Giải văn học V́ Trẻ Thơ do UNICEF + Hội Nhà Văn Việt Nam + Tạp chí V́ Trẻ Thơ ( Hà Nội 2000-2001)

Giải thưởng Âm nhạc Việt Nam 2004 ( Đồng tác giả với nhạc sĩ Quỳnh Hợp).

Giải văn xuôi ( 10 năm NS Vô Ưu Tỉnh Đắk Lắk ( 2008).

Giải thưởng văn học 1000 năm Thăng Long Báo Giác Ngộ TP.HCM tổ chức 2010.

Đă in thơ văn trên 20 tập và in chung hơn 100 tập cả trong và ngoài nước.

Chủ biên các tuyển tập Hương Thơ và Thơ VN đương đại.
Đă triển lăm tranh trong và ngoài nước từ 1960 đến nay.
Đă được giới thiệu trong Présence Francophone CANADA 1972.
Có tranh treo ở Viện Bảo Tàng Vatican ( Italia từ năm 1989)
Có tranh ở sưu tập cá nhân nhiều nước: Anh, Mỹ, Pháp, Canada, Nhật.
Có bài trong Poemes and Shortories ( Trung Tâm Văn Bút Việt Nam-SG 1965).

 

~~oOo~~

 

TRANG ĐĂ VỀ TRỜI !!!

Tuệ Nga

 

Từ nay vĩnh biệt không c̣n được nghe tiếng Trang nữa !

Trang ơi ! Trang ơi !

 

TIẾC THƯƠNG KHÔNG VIẾT NÊN LỜI !

NGH̀N THU VĨNH BIỆT !!! NGẬM NGÙI ... TIẾC THƯƠNG !!!

BẠN VỀ CỰC LẠC TÂY PHƯƠNG

SEN HỒNG BÁT NGÁT ... TRÊN ĐƯỜNG VỀ QUÊ ...

 

QUÊ HƯƠNG ! ĐẤT PHẬT BẠN VỀ...

BA NGÀN THẾ GIỚI HUYỀN VI NON BỒNG

Ư ĐỜI, SẮC SĂC ! KHÔNG KHÔNG !

NGƯỜI THƠ RŨ ÁO BỤI HỒNG NHẸ TÊNH ...

 

NHỚ NGƯỜI ! NHỚ LẮM ! HOÀNG HƯƠNG TRANG ...

 

Tuệ Nga

 

Oregon, Tháng Tư

Ngày 16 NĂM 2020

 

~~oOo~~

 

 

Thương quư Diệm Phương, với bao kỷ niệm
Từ thuở mới vào Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế
Giờ đây Phương đă ra đi
Nỗi Buồn khó quên, nước mắt đong đẩy
Nguyện Cầu Hương Hồn Diệm Phương Sớm vể Cơi Phật
Xin chia buồn cùng Gia Đ́nh Diệm Phương

 

Thanh Trí

Sacramento, California

 

~~oOo~~

 

http://phudoanlagi.blogspot.com/2017/03/tam-muoi-du-tho-hoang-huong-trang_3.html

 

 

Tên thật: Hoàng Thị Diệm Phương
Năm Sinh: 1938
Quê quán: Vân Thê - Hương Thuỷ - Thừa Thiên Huế
 

Tốt nghiệp:

- Cao Đẳng Mỹ Thuật 1960,

- Sư Phạm Mỹ Thuật 1961

- Nghiên cứu Mỹ Thuật Á châu (Tokyo1963)
 

Giải thưởng:
- Nam Phương Hoàng Hậu
- Giải hội hoạ vẽ biểu mẫu nhà máy xi măng Long Thọ Huế 1958
- Giải văn học v́ trẻ thơ do Hội Nhà Văn Việt Nam, tạp chí V́ Trẻ Thơ và Uniceff tổ chức 2000 - 2001 (Hà Nội)
 

Cựu giáo viên các trường trung học,

Cựu giáo sư trường Đại Học Mỹ Thuật Sài G̣n TP. HCM
 

Tác phẩm: 6 tập thơ từ 1964 - 2002
In chung trên 30 tuyển tập thơ văn trong và ngoài nước
Có tên trong thi nhân Việt Nam thế hệ 1954 - 1973

 

 

TÁM MƯƠI DƯ

       (Quư tặng La Thụy)


 

     Ngó lên, ta thua người trăm tuổi

     Nh́n xuống, tớ hơn lũ bảy mươi.

     Mắt không mờ

     Tai không nghễnh

     Răng không rụng

     Lưng không c̣m

     Tự hào “tứ quư” trời cho.

     Thơ hơn chục cuốn, vạn bài

     Văn ngoài dăm quyển, ngàn trang

     Họa sáu mươi niên, dư vài trăm bức

     Nhạc điểm xuyết mấy khúc ca.

     Ngâm nga gần bảy chục năm, Tao Đàn nổi tiếng

     Hát ḥ chưa ca sĩ, bạn bè vẫn vỗ tay khen.

     Ghét bonsai, cây thiếu đất

     Chê chim cá, cảnh chậu lồng

     Không chơi non bộ, tṛ núi giả

     Chỉ thích rừng sâu biển cả

     Chỉ ngắm cá nước chim trời.

     Đoạt bảy giải thưởng suốt đời, gồm đủ Thơ Văn Nhạc Họa

     Hỏi ai kẻ bằng ta?

     Sống tám chục năm qua, hiếm khi bệnh tật.

     T́nh một mối hẹn ḥ, trải dài ba kiếp tái sinh

     Nhà một mái đơn sơ, đi về tự do tự tại.

     Tiền không tỉ phú, nhưng “hồ hết lại có, hồ vơi lại đầy”

     Túi chưa bao giờ rỗng đáy

     Đời chẳng lên xe xuống ngựa

     Mà chân đi khắp mọi miền, Bắc Trung Nam đều bước tới.

     Tuổi tám mươi dư, không c̣n ǵ hơn ở kiếp này

     Kỳ vọng Nợ Duyên kiếp sau tṛn mộng.

     Bạn bè khắp năm châu bốn biển, tính đến vạn kẻ thân quen

     Học tṛ trong nước ngoài nước, đếm quá ngàn, t́nh thân chí thiết.

     Giao lưu cuối đất cùng trời, từ Âu sang Á…

     Cũ mới mọi thời

     Hẹn ước chỉ một người, ngự trong tim vĩnh viễn.

     Đầu xuân Đinh Dậu, nghe gà gáy, gẫm lại đời ḿnh

     Làm thơ tặng ḿnh, ḿnh đọc cười chơi

     Xuân sang nâng chén soi gương

     Tóc bay bạc trắng, ta rót ta say túy lúy.

     Chắp tay cám ơn Trời Phật

     Cho ta dư tuổi tám mươi

     Cúi đầu tạ ơn Tiên Tổ

     Đă ban tài nghệ vẹn toàn ngoài mơ ước.

     Kiếp này tạm măn nguyện rồi

     Xin hẹn kiếp sau sẽ hơn thế nữa


 

    Đầu xuân Đinh Dậu, Sài G̣n 2017

    Mừng tuổi Đinh Sửu, 81 mùa xuân
 

    HOÀNG HƯƠNG TRANG

    ĐT: 0164 7588407

 

La Thụy Đoàn Minh Phú và Hoàng Hương Trang

 

 

~~oOo~~

 

 

TỐNG BIỆT HÀNH -

Thơ Thâm Tâm, giọng ngâm Hoàng Hương Trang
 

          Nữ sĩ Hoàng Hương Trang đă từ giă cơi đời vào lúc 6g sáng 15-4 - 2020 và được hỏa táng vào lúc16g chiều16-4-2020, hưởng thọ 84 tuổi. Tro cốt sẽ được đưa về Huế và chôn tại ngôi mộ trên một ngọn đồi do chị tự lập từ năm 2011.

Là người đa tài (vẽ tranh, làm thơ, viết văn, sọan nhạc, viết thư pháp) nên hơn nửa thế kỷ qua chị giao tiếp nhiều cây cao, bóng cả trong làng văn, trận bút. Đặc biệt nghe chị hay nhắc về thi bá Vũ Hoàng Chương, kịch tác gia Vi Huyền Đắc, nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Lê Thương, thi sĩ Kiên Giang, nhà văn Toan Ánh, nhà thơ Tế Hanh... Chị c̣n là một nghệ sĩ ngâm thơ trong chương tŕnh Tao Đàn (do thi sĩ Đinh Hùng cùng bạn bè lập ra chương tŕnh Tao Đàn năm 1955 trên Đài phát thanh Sài G̣n), cùng các nghệ sĩ Hồ Điệp, Hoàng Oanh, Giáng Hương, Quách Đàm, Tô Kiều Ngân, Đoàn Yên Linh, Vân Khanh, Hà Linh Bảo, Hồ Bảo Thanh, Mai Hiên, Huyền Trân, Hồng Vân... Chị đă viết thơ tự vịnh về ḿnh:

Thơ hơn chục cuốn, vạn bài
Văn ngoài dăm quyển, ngàn trang
Họa sáu mươi niên, dư vài trăm bức
Nhạc điểm xuyết mấy khúc ca.
Ngâm nga gần bảy chục năm, Tao Đàn nổi tiếng


Một trong những bài ngâm thơ của chị mà La Thụy c̣n lưu giữ được là “Tống biệt hành”, thơ của thi sĩ Thâm Tâm.
 

Hôm nay, La Thụy làm video clip để tưởng niệm nữ sĩ Hoàng Hương Trang và tống biệt chị về vùng trời miên viễn. Nguyện cầu hương linh chị siêu thoát về nơi cực lạc.

Đường link Youtube:
https://www.youtube.com/watch?v=Al0d0tqsouo&feature=emb_logo

 




TỐNG BIỆT HÀNH

Đưa người, ta không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng ở trong ḷng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giă gia đ́nh, một dửng dưng...

- Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Th́ không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong!

Ta biết người buồn chiều hôm trước:
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai ḍng lệ sót.

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tṛn thương tiếc chiếc khăn tay...

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Mây thu đầu núi, gió lên trăng,
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.
Ly khách ven trời nghe muốn khóc,
Tiếng Đời xô động, tiếng hờn câm.

Thâm Tâm

 

 

~~oOo~~

 

https://www.facebook.com/phuyen.nguyen.311/posts/1119128768446175

 

 

VĨNH BIỆT NỮ SĨ HOÀNG HƯƠNG TRANG

Nguyễn Phú Yên

 

          Tin từ Long Xuyên cho hay Nữ sĩ Hoàng Hương Trang đă từ giă cơi đời vào lúc 6g sáng hôm qua 15-4 và được hỏa táng vào lúc 16g chiều hôm nay 16-4-2020, hưởng thọ 84 tuổi. Chị bị ung thư gan giai đoạn cuối nhưng bản thân chị không hay biết. Chỉ mấy hôm trước chị cho biết người rất mệt sau khi đi khám bệnh ở Bệnh viện Long Xuyên trở về. Tro cốt sẽ được đưa về Huế và chôn tại ngôi mộ trên một ngọn đồi do chị tự lập từ năm 2011.

Sau đây là hai bài thơ cuối cùng của chị:

CỔ THỤ VÀ HOA
Có gốc cổ thụ già cằn cỗi
Thở từng hơi nhè nhẹ cuối cùng
Bỗng một hôm nắng sớm tưng bừng
Cơn gió ngọt ngào mang bông hoa tới.
Bông hoa bảy sắc màu tươi rói
Nở chói ḷa như ánh cầu vồng
Hoa đến bên cổ thụ khô cằn
Tỏa hương thơm dịu dàng như mật.
Hoa đẹp hơn ngàn bông hoa có thật
Hoa th́ thầm ẩn ngữ t́nh yêu
Hoa hẹn ḥ chờ đợi kiếp sau
Bao say đắm quên ḿnh là cổ thụ.
Và quên hết thời gian, quá khứ…
Như chơi vơi trong cơi Thiên Đường
Ở bên hoa tươi đẹp lạ thường
Gốc cổ thụ nở bừng cùng hoa thắm.
Cổ thụ giờ đây không c̣n ảm đạm
Ôm trọn đóa hoa thơm ngát trăm năm
Lời hẹn thề từ cơi xa xăm
Nay đă gặp bông hoa tiền kiếp.

Hoàng Hương Trang
(2017)

NAM MÔ

Cho tôi niệm tiếng Nam Mô
Nguyện thương, nguyện nhớ
Nguyện cho cuộc t́nh
Cho tôi niệm tiếng cầu kinh
Đừng hờn, đừng giận
Người ḿnh dấu yêu.
Trái tim tôi, tiếng kinh chiều
Nam Mô kư ức
Đă yêu ngh́n đời
Trái tim tôi gửi về nơi
Tiếng Nam Mô
Với ngọt bùi từ bi.

Hoàng Hương Trang
(2019)

 

~~oOo~~

 

http://www.art2all.net/nhac/nguyenphuyen/nusi_hoanghuongtrang.html

 

NỮ SĨ HOÀNG HƯƠNG TRANG

Nguyễn Phú Yên

 

 

 


            Thập niên 1950 có hai nhà thơ trẻ tuổi xuất hiện trên văn đàn miền Nam, đó là Huyền Chi và Hoàng Hương Trang. Chị Huyền Chi ra mắt tập thơ Cởi Mở vào năm 1952 khi chị mới 18 tuổi; trong tập thơ này có bài Thuyền Viễn Xứ được NS Phạm Duy phổ nhạc. Chị Hoàng Hương Trang xuất bản tập thơ Khép đôi mi nhỏ vào năm 1956 cũng năm chị 18 tuổi. Thật ra chị làm thơ từ năm 12 tuổi; có lần nhà thơ Hồ Đ́nh Phương đem thơ của chị đăng báo Đời Mới, Thẩm Mỹ ở Sài G̣n khiến nhiều người tưởng chị là cô gái tuổi đôi mươi.
 

Chị Hoàng Hương Trang, cựu nữ sinh Đồng Khánh, tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Huế (khóa 1) năm 1960, Sư phạm Mỹ thuật Sài G̣n năm 1961, có học bổng du học Nhật, cựu giáo sư các trường trung học Ngô Quyền (Biên Ḥa), Nguyễn Huệ (Phú Yên), Kiểu Mẫu Thủ Đức… và Trường Đại học Mỹ thuật Gia Định, Sài G̣n. Chị là nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ, ngâm thơ hay. Hội viên Trung tâm Văn bút Việt Nam. Tác phẩm: Khép đôi mi nhỏ (1956), Linh hồn cỏ biếc (1965), Bến tâm hồn (1966), Thơ - Đông Phương (1967), Hợp tấu (1967), Mười hướng sao (1970), Túy ca (1972). Chị đăng thơ trên nhiều tờ báo như Phổ Thông, Bách Khoa, Văn, Hoa T́nh Thương, Tiểu Thuyết Tuần San, Phụ Nữ Mới, Bút Hoa, Gió Nam, Quật Khởi… Chị có nhiều bạn bè và học tṛ, từng gặp gỡ cụ Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, NS Lê Thương, NS Tuấn Khanh và Phạm Duy, nhà thơ Nguyễn Đ́nh Thi… có tên trong Thi nhân Việt Nam thế hệ 1954-1973 (2 tập của Nguyễn Tấn Long, Phan Canh, NXB Sống Mới, Sài G̣n, 1974).

Năm 1972, khi chị in tập thơ “Túy ca”, nhà thơ Vũ Hoàng Chương - tác giả tập “Thơ say” - với tấm ḷng liên tài đă làm bài thơ Cảm đề Túy ca tặng chị:

 

“Bài ca Tận túy” đi hoang
Biết đâu Hoàng lại gặp Hoàng chiều nay
Vẽ nên độc dược mà say
Hóa công chưa dễ khéo bày đặt hơn
Gió trăm cơn bụi ngàn cơn
Một cơn say đủ sạch trơn thế t́nh
Nguyện trường túy bất nguyện tinh
Say ai? Ḿnh chỉ say ḿnh đó thôi
Túy-ca bè đă thả rồi
Túy-hương xưa hăy cùng trôi ngược về.

 

Sau 1975, chị là hội viên Hội Nhà văn VN, in chung trên 30 tuyển tập thơ văn trong và ngoài nước. Chị sinh hoạt ở CLB Văn nghệ sĩ Gia Định, nơi qui tụ nhiều tên tuổi của Sài G̣n như các nhà thơ, nhạc sĩ, nghệ sĩ Tường Linh, Tô Kiều Ngân, Song Nguyên, Vũ Hối, Sông Trà, Châu Kỳ, Trầm Tử Thiêng, Trúc Phương, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Thanh Sơn, Hàn Châu, Mặc Thế Nhân, Túy Hoa, Túy Phượng, Ngọc Huệ, Mai Khanh, Mai Trâm, Đoàn Yên Linh, Mai Hiên, Trần Thiết Hùng (em trai của Vân Sơn - một trong ba thành viên ban AVT, đă nhảy sông tự tử tại cầu Thị Nghè sau 1975)…


Năm 1976, chị được gia đ́nh nhà thơ Vũ Hoàng Chương tin cậy gửi gắm để lưu giữ 12 bài thơ cuối cùng của nhà thơ, sau này đă được in ở hải ngoại. Năm 2006, nhân ngày giỗ lần thứ 30 của nhà thơ Vũ Hoàng Chương, Hoàng Hương Trang cũng làm bài thơ Chiều say nhớ Hoàng thương tiếc nhà thơ tài danh này:


“Biết đâu Hoàng lại gặp Hoàng chiều nay”
Mới vừa dăm chén đă say
Trong men chếnh choáng nhớ ngày năm xưa
Bút gươm chém lệch đường thơ
Mực đau giấy ảo, kịch hờ thương Mây
Trả gươm cho gió nghiêng vai
Trả thơ cho mộng, trả ngày cho đêm
Kiều Thu, hề! Đẫm gót sen
Mười hai tháng sáu trả men cho t́nh
Trời một phương, đất một ḿnh
Cảm thông nhân thế cái t́nh phù du
Tài hoa hệ lụy sa mù
Chén vui, hề! Chén buồn xưa hiện về
Ơi Hoàng, nửa chén si mê
Ơi Hoàng, nửa chén vụng về trao tay
Rượu đây, hề! Ta cứ say
“Biết đâu Hoàng lại chiều nay gặp Hoàng”.

(Sài G̣n, 10-10-2006)


Chị là con nuôi của kịch tác gia Vi Huyền Đắc (1899-1976). Cụ là Phó chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam, người từng được giải thưởng của Viện Hàn lâm Nice, Pháp năm 1936 với vở Eternels Regrets (Trường hận) và giải thưởng của Tự Lực Văn Đoàn năm 1938 với vở Kim Tiền. Sau năm 1975 cụ trở về Hà Nội được một thời gian th́ cụ buồn chán, lặng lẽ tuyệt thực và qua đời vào tháng 8-1976. Đám tang do nhà văn Nguyễn Tuân đứng ra tổ chức và nhà thơ Thế Lữ đọc điếu văn. Trước khi về Bắc, cụ để lại căn nhà cho chị Hoàng Hương Trang. Thời bao cấp khó khăn, chị bán hai phần ba căn nhà, phần c̣n lại chị ở có một ḿnh. Chị thường bảo “chơi văn, ăn vẽ”, bởi nguồn sống của chị là từ các tranh vẽ bán được trong mấy chục năm ở Sài G̣n. Trong bài thơ Tám mươi dư gửi cho La Thụy, chị nh́n lại đời ḿnh:


Thơ hơn chục cuốn, vạn bài
Văn ngoài dăm quyển, ngàn trang
Họa sáu mươi niên, dư vài trăm bức
Nhạc điểm xuyết mấy khúc ca
Ngâm nga gần bảy chục năm, Tao Đàn nổi tiếng
Hát ḥ chưa ca sĩ, bạn bè vẫn vỗ tay khen…
Bạn bè khắp năm châu bốn biển, tính đến vạn kẻ thân quen
Học tṛ trong nước ngoài nước, đếm quá ngàn, t́nh thân chí thiết
Giao du cuối đất cùng trời, từ Âu sang Á…

(Sài G̣n, 2017)


Có lẽ chị là người khá hiếm hoi tự lập mộ cho ḿnh khi c̣n sống; mộ nằm trên một ngọn đồi ở Huế, bên cạnh mộ thân mẫu. Trên tấm bia chị ghi sẵn: “Bia mộ nữ sĩ Hoàng Hương Trang, nhũ danh Hoàng Thị Diệm Phương - nhà văn, nhà thơ, họa sĩ. Năm sinh 1938, năm mất 20... Quê quán Vân Thê, Hương Thủy, Thừa Thiên. Bia tự lập 2011”.


Nhà văn Thế Phong nhận xét về chị: “Nhở ‘phê b́nh, phê biếc loạn cào cào’ qua các bài điểm sách gây ‘sốc’, bút danh Hoàng Hương Trang bừng lên trong 'nắng rực lửa miền Nam’, đa số văn sĩ yếu bóng vía sợ ‘cô nàng' khiếp đảm. Nhưng, 'đàn bà dễ có mấy tay' như Hoàng Hương Trang, nhất là ở b́nh diện văn chương miền Nam thập niên 60, sự hiện diện 'nàng ba búa' thật cần thiết!”.


Mấy năm trở lại đây chị đă rời Sài G̣n về Long Xuyên, An Giang sống cùng cô em gái và các cháu.


N.P.Y.


Huế T́nh Đầu

Ai xa Huế mà không nhớ Huế
Nhớ chuông chùa Diệu Đế, nhớ Văn Lâu
Nhớ Trường Tiền da diết sáu nhịp cầu
Nhớ Kim Long, nhớ bến đ̣ Thừa Phủ.
Nhớ dốc Nam Giao, nhớ bờ sông Bến Ngự
Nhớ Hàng Bè, Thượng Tứ, nhớ Bao Vinh
Nhớ sông Hương chan chứa thiết tha t́nh
Nhớ thông reo đỉnh Ngự B́nh gió mát.
Nhớ Tịnh Tâm, hồ sen bát ngát
Nhớ đ̣ Cồn, An Cựu, Chợ Dinh
Nhớ con đường Vỹ Dạ bóng cây xanh
Nhớ Gia Hội, Đông Ba, Hàng Me, Đập Đá.
Nhớ Ngự Viên, nhớ Nội Thành, Mang Cá...
Huế của ta ơi, biết nhớ mấy cho vừa!

Ai xa Huế mà không thương Huế
Thương mẹ già lặn lội mùa Đông
Thương em thơ đi học mưa dầm
Thương chị, thương anh mùa hè cháy nắng
Thương bữa cơm nghèo, nồi canh mướp đắng
Thương dĩa mắm cà, con cá thệ kho khô...
Huế của ta ơi, thương biết chừng mô!

Ai xa Huế mà không mơ về Huế
Dạo bước trên cầu áo trắng tung bay
Vành nón nghiêng nghiêng che mái tóc mây
Ánh mắt trong veo ḍng Hương gợn sóng
Đêm trăng hè trời cao lồng lộng
Chiều thu êm tím ngát cả không gian
Tiếng ḥ trên sông ngơ ngẩn bàng hoàng
Ḥ ơ ḥ... chiều chiều trước bến...
Mơ sớm mai chèo đ̣ qua cồn Hến
Trái bắp tươi non, nấu chén chè thơm
Dĩa bánh bèo tôm chấy hồng ươm
Đợi cơm hến, bánh canh, bánh ướt...
Nhớ biết mấy, những món quà quê hương
không ǵ thay thế được
Dải đất quê nghèo mà mặn nồng yêu thương
Ai đă từng uống nước sông Hương
Ai đă từng hưởng ngọn gió chiều đỉnh Ngự
Ai đă từng bước đi trên những con đường t́nh tứ
Ai đă thả hồn trên những chiếc vơng âm thanh
Ai đă đắm say t́nh Huế quê ḿnh
Dẫu xa xôi mà không mơ về Huế
Huế t́nh đầu thơm ngát, Huế yêu ơi!


Hoàng Hương Trang
 



Độc dược
(Túy ca 10)

Mang nhiều mộng ước vào đời
Anh đem độc dược cho tôi ươm sầu
Đời t́nh như trận mưa mau
Trái t́nh đă hái nhưng mầu c̣n xanh
Những ngày vừa mới yêu anh
Ngỡ ḿnh tạc tượng, khung tranh đời đời
Bây giờ vườn lá thu rơi
Khung tranh ẩm mục, nụ cười ṃn rêu
Bây giờ mây xám vây chiều
Lá bay xào xạc tin yêu mỏi ṃn
Trái sầu lập thể chon von
Bước chân thần thoại héo hon một đời
T́nh yêu làm chết con người
Nâng ly độc dược tôi mời tôi say
Tuổi t́nh đáy cốc cuồng quay
Tôi giết tôi để tháng ngày nguôi quên
Mai này nằm xuống ngủ yên
Mồ xanh độc dược, ưu phiền đuổi xa!


(Sài G̣n, 1971)

Hoàng Hương Trang

 



Uống Rượu Trong Mưa

Tay nâng hứng giọt trời cao
Chén đầy thương nhớ, xin trao tới người
Uống say chén lệ đầy vơi
Rượu hay mưa ướt t́nh người t́nh ta
Mưa từ năm cũ mưa sa
Rượu từ ngày cũ chưa là cố nhân
Mưa cho ướt chiếu chăn nằm
Say cho quên hết đừng căm hận ǵ
Trong mưa lầm lũi bước đi
Trong men chếnh choáng ta v́ nhau say
Mong cho mưa ngập lối này
Cho ta ngă xuống liệm đầy nước mưa
Rượu pha nước mắt t́nh xưa
Ta say đă mỏi, người chưa thấy về
Uống cho mắt lạnh môi tê
Uống cho thân xác ê chề đớn đau
Cơn mưa dă rượu vơi sầu
Lại đong chén nữa say nhầu trong mưa.


Hoàng Hương Trang




VÙNG TRỜI QUÊ HƯƠNG

Cánh chim anh những ngày say gió băo
Bay trên vùng đất nước thân yêu
Ôm quê hương miền Nam ruộng thắm
Dừa xanh tươi bến nước chợ chiều.
Băi cát phẳng miền Trung biến động
Bóng thùy dương xơa tóc đ́u hiu
Tháp vươn tay Chiêm nương trầm mặc
Những hoàng hôn máu nhuộm băi chiều.
Và những trai anh hùng, gái lịch vui reo
Bước tiến bước, muôn ḷng như một.
Lời ca vui mắt người chim hót
Có anh trai áo xanh t́nh mật ngọt
Súng trận trên tay giữ xóm giữ làng
Có anh trai áo đen sờn bạc
Trên cḥi canh hướng mắt nh́n xa
Những mẹ già gánh củi về nhà
Những em gái em trai sớm chiều đi học.
Và những lúa ngô quí hơn vàng ngọc
Nuôi con thơ Hồng Lạc bốn ngàn năm.
*
Dưới cánh mỏng anh nghe t́nh biển mặn
Muối Sa Huỳnh, Ḥn Khói trắng phau
Thôn xóm b́nh yên thẳng tắp hàng cau
Dừa rợp Tam Quan, xoài thơm B́nh Định.
Dưới cánh mỏng anh nghe miền Lục tỉnh
Bưởi Biên Ḥa vàng rực tháng giêng
Lúa Cà Mau, thạch động Hà Tiên
Bến nước Ninh Kiều t́nh thơm mùa hạ.
Xứ Tây đô đón ḷng trai xa lạ
Viễn khách nghe buồn vọng cổ Trà Ôn
Chiều Tha La xứ trảng nhẹ vương hồn
Những Châu Đốc, Hà Tiên, Sóc Trăng, Rạch Giá.
Nắng tháng ba thuyền đơm đầy cá
Ngọt vô cùng thốt nốt, sầu riêng
Đôi cánh anh xuôi ngược trăm miền
Ôm ấp những giọng ḥ, câu hát.
Sông Hương sương thu bàng bạc
Áo trắng học tṛ xứ Huế nên thơ
Chiều Quảng Nam, Quảng Ngăi đợi chờ
Gió biển mặn Tuy Ḥa mát rượi.
Đà Lạt chiều mơ, Kontum sương muối
Những Dakto, Daksut xa xôi
Những rừng thiêng núi thẳm muôn đời
Mùi gỗ quí thơm hương xứ mẹ.
Những cao nguyên bốn mùa gió nhẹ
Những đồng bằng ruộng lúa xanh non
Những ngô khoai, bắp đỗ vẫn c̣n
T́nh mật ngọt quê hương ôm ấp nhé!
*
Anh c̣n vượt rừng, băng sông, lướt bể
Để t́nh ôm trọn vẹn sông Hồng
Dưới cánh anh sông núi vẫn t́nh chung
Ai chia cắt? Anh cố t́nh hàn gắn.
Đôi cánh mỏng dù súng gào đạn bắn
Nhưng t́nh yêu đất mẹ vững vô cùng
Trên mây cao nh́n xuống núi sông chung
Đây Vĩnh B́nh, Nhật Lệ
Đây sông Nhị, núi Nùng
Mỗi tấc đất anh thu về thắng lợi.
Mỗi chuyến bay người yêu anh chờ đợi
Ngày tiếp ngày
Anh ôm bóng quê hương
Núi Bắc sông Nam nguyên vẹn t́nh thương
Anh c̣n đi, đi hoài
Giữ ǵn trời bể.
Cho phù sa đất mẹ thắm muôn nơi
Cho gái sông Hương trai Hà Nội mỉm cười
Cho gió Sài G̣n thổi về Thanh Hóa.
Cho bát nước chè xanh thơm ngon khói tỏa
Cho cam Xă Đoài ngọt lịm bưởi Đồng Nai
Cho gạo thơm hai xứ Trong, Ngoài
Cho mắt em thơ Quỳnh Lưu hiền dịu
Cho những v́ sao bầu trời không thiếu
Em hiểu không
Anh c̣n phải đi nhiều
C̣n bay hoài che trời nắng lửa
Để chuyến tàu Nam Bắc đi về mỗi bữa
Để cốm thơm mùa cưới thu về
Để chiều hè diều giấy rợp bờ đê
Để đ́nh đám hội hè tháng giêng tháng tám.
Để mẹ già đừng nhăn vầng trán
Để trai làng trẩy hội gái Lim xinh
Để trầu cau mai mối trao t́nh
Gió Tam Đảo, Ba V́
Gió Hà Tiên, Phú Quốc
Trăng Bắc bộ sương mù
Trăng Nam phần sáng rực
Dệt thành trăng xứ Huế mơ màng
Dệt thành trăng Phan Thiết mênh mang
Như nắng Sài G̣n ngùn ngụt
Như mưa Thái Nguyên
Mưa Tuyên Quang buồn heo hút
Phơi ngô khoai, tưới ruộng lúa an lành
Nắng Sài G̣n phơi bắp đỗ ngoài Thanh
Mưa Hà Nội tưới ruộng vườn Đồng Tháp.
*
Anh c̣n xa
C̣n đi
C̣n bay hoài
Dù gió cuồng băo táp
Nhất định chưa về
Khi đất nước chưa b́nh yên
Cánh dù mỏng
Nhưng tim anh nung nấu lời nguyền
Quyết ôm ấp giữ ǵn
Vùng trời xứ mẹ.
Vùng trời rộng bao la
Quê hương ḿnh đẹp đẽ
Như những gịng thư em viết cho anh
Gịng thư em mang trọn màu xanh
Anh ôm ấp để thấy vùng trời cao cả
Để thấy rừng sâu sông dài
Sóng cồn trắng xóa
Là của anh, của em
Của người Việt chúng ta
Anh yêu mến giữ ǵn
Không cho lũ giặc ngông cuồng phí phạm
Dù gian nguy bay vào lửa đạn
Anh vẫn cười ngạo nghễ trên cao
Dưới chân anh xương máu tuôn trào
Lũ bán nước quyết phải đền tội lỗi.
Đất nước ḿnh một mai
Hết u buồn tăm tối
Anh sẽ về phố thị thăm em
Vùng trời đất nước b́nh yên
Bắc Nam chung một lời nguyền sắt son.


Hoàng Hương Trang
(trích tuyển tập Việt Nam Quê Hương Ta, Hội Văn nghệ sĩ Quân đội xb, SG,1969)

 

 

 

 

 

 

 

~~oOo~~

 

 

http://www.art2all.net/tho/trandzalu/docduongvannghe/docduongvannghe_28.htm

 

HOÀNG HƯƠNG TRANG- NỮ SĨ ĐA TÀI

Trần Dzạ Lữ


            Biết chị từ thập niên 60 bởi là một nữ sĩ nổi tiếng: “Đầu đội trời, chân đạp đất, không hề biết sợ ai...”. Vậy mà, sau năm 75 mới được quen chị và thân t́nh. Căn nhà ở đường Tăng Bạt Hổ quận B́nh Thạnh là nơi chị ở một ḿnh và khi ghé thăm chị, thường thấy tranh lụa và sách vở ngổn ngang. Thường th́ chị nói huyên thuyên về cuộc đời và sự nghiệp của chị. Tôi chỉ lắng nghe để thấu hiểu.

 

Chị là ḍng dơi họ Hoàng ở làng Vân Thê, huyện Hương Thủy, Thừa Thiên. Một vùng đất sản sinh nhiều đấng tài giỏi về văn và vơ ( dù là bên ni hay bên tê). Chị tên Hoàng Thị Diệm Phương, thời con gái hay khi đă sồn sồn th́ nhan sắc ấy đă khiến nhiều “anh hùng tận”. Tiếng nói chị như chuông ngân và đôi mắt đó dễ hút hồn người đối diện bởi đẹp và sâu như đáy giếng. Là mỹ nhân và đa tài ( vẽ tranh, làm thơ, viết văn, sọan nhạc, viết thư pháp) nên hơn nửa thế kỷ qua chị giao tiếp nhiều cây cao, bóng cả trong làng văn, trận bút. Đặc biệt nghe chị hay nhắc về thi bá Vũ Hoàng Chương, kịch tác gia Vi Huyền Đắc, nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Lê Thương, thi sĩ Kiên Giang, nhà văn Toan Ánh, nhà thơ Tế Hanh....

 

Về quá tŕnh sáng tạo của chị thật đồ sộ ( khi đọc tiểu sử của chị bạn đọc sẽ biết). Về đường t́nh duyên, tuy quen nhiết nhiều, giao lưu, chạm mặt cũng lắm nhưng cũng như những làn gió đi qua rồi thôi. Chỉ duy nhất một mối t́nh từ thời con gái cho đến nay ( tóc bạc răng long) chị vẫn để ở phía trái trái tim ḿnh trân quư, mến yêu. Đó là một sĩ quan tác chiến ( trước 75) rất đẹp trai, hào hoa và mă thượng... Người ấy không may tử trận và chị mang theo h́nh ảnh ấy bên đời và chắc là hết kiếp? Tôi bái phục nữ sĩ xứ Huế này về mặt chung t́nh. Chỉ tôn thờ một h́nh bóng đă trót yêu thương.

Năm 2013 tôi về thăm quê, d́ ruột tôi hỏi:” Mi có biết Hoàng Thị Diệm Phương khôn ( nhà văn Hoàng Hương Trang, bà con bên ngoại của mi đó? “ Tôi nói:” Dạ có”. D́ nói: “Mi phải kêu bằng d́ đó. ”  ” Dạ thưa, con hiểu rồi.” Khi trở về SàiG̣n tôi thay đổi cách xưng hô với chị Hoàng Hương Trang. Tôi biết d́ già rồi nhưng rất “chịu chơi” v́ mỗi lần về Huế d́ đều leo xe đ̣ mà không cần tàu hỏa hay máy bay. D́ nói đi bụi rứa mới thú vị. Một con người lẫy lừng như thế mà d́ cũng đă ” tri thiên mệnh “ cho ḿnh khi d́ kể đă về Huế xây sẳn bia mộ cho ḿnh.

Mới đây nhất năm 2017, xuống thăm d́ Hoàng Hương Trang ở căn nhà cũ ( Tăng Bạt Hổ) tôi thấy d́ đă yếu hơn trước dù hai con mắt vẫn sáng như gương. D́ tâm sự: “ Phải về Long Xuyên sống với đứa cháu thôi. Khi nhắm mắt nó đưa ḿnh về Huế chôn cất là xong... một kiếp người !” D́ c̣n bật mí: “Ḿnh mới yêu.” Tôi giật thót người: ” Mới yêu? Yêu ai? ” D́ tâm sự: “Có một thằng bé 20 tuổi yêu ḿnh. Bảo nó hôn là nó hôn liền.” Tôi bật cười: “ Nó hôn mạ th́ có! “ D́ kể đầu đuôi câu chuyện và tôi hiểu ra: D́ yêu qua h́nh bóng khác v́ thằng bé đó giống vị đại úy ngày xưa như khuôn đúc. Rồi d́ c̣n tặng tôi tập thơ phô tô 50 bài thơ viết cho thằng bé. Tôi nhận cho d́ vui v́ biết lúc này, thơ này, không phải là thơ của Hoàng Hương Trang của tuổi tứ thập bất hoặc nữa. Nhưng như thế cũng” sướng” chứ bởi vẫn c̣n một đối tượng để mong chờ, thấp thỏm... trong hoàng hôn thật mà ảo của đời ḿnh. Qua năm 2018, tôi không c̣n liên lạc được với d́ Hoàng Hương Trang. Dù sao, thế nào...tôi cũng vô cùng khâm phục người d́ ḍng họ Hoàng của Huế bởi một nữ sĩ đă sống tận,  sống cùng cho trang viết và chính đời thật của ḿnh một cách trọn vẹn ! Vật kỷ niệm của d́ tặng tôi là sách báo của d́ và người khác viết về d́. Trong đó có một đĩa sứ h́nh hột xoài d́ viết thư pháp trên đó. Câu thơ của Lư Thương Ẩn: “Lưu Đắc Tàn Hà Thính Vũ Thanh” ( theo d́ dịch nghĩa: C̣n mỗi sen tàn để nghe tiếng mưa). Mỗi sáng thức dậy tôi đều thấy câu đó bởi nó nằm trước bàn viết của tôi.

 


Tiểu sử Hoàng Hương Trang:

 



Tên thật: Hoàng Thị Diệm Phương, sinh năm 1938 tại thừa Thiên Huế.
Tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ Thuật Huế ( 1961), Sư phạm Mỹ Thuật Sài G̣n ( 1962).

Nghiên cứu Mỹ Thuật Á Châu ( Tokyo 1963).

Nguyên Giáo Sư môn Văn và Hội Họa các trường trung học.

Nguyên giáo sư Đại học Mỹ Thuật SàiG̣n và TP.HCM.

 

Giải thưởng Nam Phương Hoàng Hậu ( Thiếu nhi 1948 Huế).

Giải vẽ biểu mẫu nhà máy xi măng Long Thọ-Huế ( 1958).

Giải văn học V́ Trẻ Thơ do UNICEF+ Hội Nhà Văn Việt Nam+Tạp chí V́ Trẻ Thơ ( Hà Nội 2000-2001)

Giải thưởng Âm nhạc Việt Nam 2004 ( Đồng tác giả với nhạc sĩ Quỳnh Hợp).

Giải văn xuôi ( 10 năm NS Vô Ưu Tỉnh Đắk Lắk ( 2008).

Giải thưởng văn học 1000 năm Thăng Long Báo Giác Ngộ TP.HCM tổ chức 2010.

Đă in thơ văn trên 20 tập và in chung hơn 100 tập cả trong và ngoài nước.

Chủ biên các tuyển tập Hương Thơ và Thơ VN đương đại.
Đă triển lăm tranh trong và ngoài nước từ 1960 đến nay.
Đă được giới thiệu trong Présence Francophone CANADA 1972.
Có tranh treo ở Viện Bảo Tàng Vatican ( Italia từ năm 1989)
Có tranh ở sưu tập cá nhân nhiều nước: Anh, Mỹ, Pháp, Canada, Nhật.
Có bài trong Poemes and Shortories ( Trung Tâm Văn Bút Việt Nam-SG 1965).



Giới thiệu một ít tác phẩm của Hoàng Hương Trang:

 

 

 

 




THƠ:

CHÉN TRĂNG KHUYA

Trăng về lay gọi hồn khuya
Nửa đêm nâng chén bốn bề tịch liêu
Rượu nḥa ánh bạc hắt hiu
Làm sao gửi được người yêu chén này
Biết bao giờ có đêm nay
Rót cho nhau chén rượu đầy ánh trăng?



NGHE HÁT QUAN HỌ Ở VĂN MIẾU

Áo tứ thân vui mùa trẩy hội
Nón thượng quai thao, tóc đuôi gà
Giọng bổng trầm quan họ ngân nga
Sân Văn Miếu, ngỡ Cầu Lim Nội Duệ

Hàng bia tiến sĩ im lặng thế
Rùa đá khum lưng gánh thời gian
Hồn xưa khoa bảng soi nghiêng bóng
Đâu đó ngựa quan tiếp vơng nàng

Cô gái hát câu quan họ lư
Mắt lúng liêng” Người ở đừng về...”
Giải yếm bắc cầu bao thế kỷ
Quan nghè ruỗi ngựa bái vinh quy

Xốn xang chiêng trống như ngày hội
Khăn lược, áo the, yếm hoa đào
Bia đá mỉm cười, rùa vui bước
Giữa làn giai điệu tự thuở nao...

Cô gái cất cao lời thanh thoát
Phải chăng hồn đá cũng ngẩn ngơ
Hoa cỏ dịu dàng thơm bát ngát
Lời ca, bia đá, thật hay mơ ?

Hoàng Hương Trang

 

 

TRUYỆN NGẮN

TIẾNG TRỐNG DA TRÂU



https://giacngo.vn/userimages/2010/12/03/1/datrau.jpg

            Sau những năm sống cuộc đời lính, lúc ở rừng, lúc ở hang với rau rừng nước suối, có lúc hành quân qua những rừng cây trụi lá, đất bốc oi nồng, mùi thuốc khai quang, nóng rát, cứ như vừa qua một trận hỏa hoạn, không một con thú nào có thể sinh sống được, Vũ bị thương trong một trận đánh lớn, được đưa về tuyến sau chữa trị. Viên đạn đă được bác sĩ gắp ra từ ống xương đùi. Tuy vậy, vài mảnh bom li ti nằm bên sườn không gắp ra được…

Ngày kết thúc chiến tranh, anh giải ngũ với giấy chứng nhận thương binh, và trở về làng quê cũ… Mẹ già đă qua đời. Làng xóm tốt bụng vẫn coi giữ mái tranh nghèo có bàn thờ đơn sơ của mẹ anh…

Anh vội vă đi cám ơn làng xóm và hỏi thăm nơi mộ phần mẹ ḿnh. Bà con cho biết nhà cửa anh được giữ ǵn, mộ phần mẹ anh được vun đắp, vườn tược nhà anh được chăm tưới xanh tươi là nhờ bàn tay cô Vân - bạn anh năm xưa, vẫn thường xuyên lui tới với bà cụ trong bao năm anh vắng nhà, và cả sau ngày cụ mất.

Vũ bàng hoàng xúc động nhớ đến cô bạn thuở thiếu thời cùng nhau đi học mấy năm ở trường làng, cùng chăn trâu, cùng tắm suối, cùng thả diều trên rẫy - Biết bao kỷ niệm về cô bạn nhỏ có đôi mắt to tṛn và chiếc răng khểnh duyên dáng. Cô bạn dễ thương ấy trước lúc anh lên đường nhập ngũ đă bạo dạn cầm tay anh và bảo: "Em chờ anh trở về…".

Chỉ có thế, một câu nói tưởng chừng bâng quơ đơn giản, người lính ở chiến trường đă bỏ quên trong bom đạn, nhưng người con gái mộc mạc quê mùa ấy lại vẫn nhớ, vẫn chờ…

Vũ t́m đến nhà Vân ở cuối xóm Đồi. Cha mẹ Vân đều đă mất trong thời chiến tranh chống Pháp, chỉ c̣n lại hai chị em làm nương làm rẫy nuôi nhau. Xuân - chị của Vân - chịu khó làm lụng, cố gắng cho em đi học trường làng. Vũ ngập ngừng đứng lại hồi lâu trước ngơ nhà Vân. Hàng dâm bụt năm xưa vẫn nở hoa đỏ thắm, chỉ có khác là trước ngơ giờ đă có thêm khóm trúc vàng và giàn bông giấy nở đầy hoa tím. Nh́n vào sân, cây mận già vẫn đơm nhiều quả. Ngày trước anh và Vân đă cùng hái mận biết bao lần.

Tiếng chó sủa, người phụ nữ thập tḥ trong cửa liếp nh́n ra. Vũ nghĩ có lẽ là chị Xuân bèn lên tiếng:
- Chị Xuân ơi, em là Vũ đây! Em đến thăm chị và cô Vân…

Câu chào chưa dứt th́ anh đă đến cửa liếp. Người phụ nữ bưng mặt khóc ̣a, anh bối rối:
- Chị Xuân, có ǵ xảy ra không chị? Sao chị lại khóc? C̣n cô Vân đâu?

Người phụ nữ đă đứng tuổi, đổ ập trên vai anh nức nở:
- Em là Vân đây… chị Xuân em đă vào thanh niên xung phong và hy sinh rồi anh ạ.

Vũ sững sờ, bối rối, cứ đứng trơ trơ như tượng đá. Trên vai anh ấm nóng và nằng nặng. Người con gái vẫn khóc như chưa bao giờ được khóc, để trút hết bao nỗi niềm chất chứa trong ḷng. Chờ cho Vân nguôi đi, anh nhẹ nhàng nâng đầu cô bạn gái năm xưa nh́n thật gần để t́m những nét thân quen ngày nào… Anh đau đớn nhận ra khuôn mặt xinh xắn năm xưa, nay đă sạm màu mưa nắng, đôi mắt không c̣n to đen lay láy như ngày nào. Duy chỉ c̣n chiếc răng khểnh cho anh cảm nhận sự duyên dáng quen thuộc. Anh dịu dàng:
- Anh không ngờ sau chiến tranh, làng xóm ta nhà nào cũng mất mát nhiều quá, nhà nào cũng có bàn thờ và bằng liệt sĩ, Tổ quốc ghi công. Ruộng rẫy xác xơ tiêu điều, có lẽ thiếu người lao động phải không em?

 

Vân chỉ gật đầu, cô lặng lẽ nh́n ngắm thật kỹ khắp người Vũ xem anh có c̣n nguyên vẹn hay không. Vũ hiểu ư, anh d́u Vân đến ngồi trên ghế, rồi đến trước bàn thờ cha mẹ Vân và chị Xuân, đốt ba nén nhang cắm lên và chắp tay lâm râm khấn vái:
- Thưa hai bác, thưa chị Xuân, xin hai bác và chị cho phép Vũ và Vân được thành gia thất, xin hai bác nhận ở con ḷng chân thành…

Vân đă đến đứng bên cạnh anh, cô hỏi khẽ:
- Bao nhiêu năm em không hề có tin tức anh, nên không biết anh đă có gia đ́nh chưa? Tuy nhiên lời em đă hứa chờ anh, em vẫn chờ, em vẫn đến với mẹ và mẹ cũng coi em như dâu con, do đó em vẫn an ḷng đợi anh…

Vũ quay lại nh́n Vân:
- Chiến tranh ác liệt, cái chết chực chờ, anh đâu có ḷng dạ nào nghĩ đến chuyện lập gia đ́nh. Bây giờ anh đă về, anh đă bị thương tật một chân nhưng may không què cụt. Anh cũng đă vừa xin hai bác và chị Xuân chấp nhận anh là con trong nhà, chẳng biết em có nhận lời không? Giờ cả hai ta cũng đâu c̣n ai nữa…?

Vân đưa cả hai bàn tay chai khô ráp đặt lên hai vai anh, nhỏ nhẹ trả lời:
- Em đă làm dâu mẹ bao năm rồi, khi mẹ mất em đă xin phép làng xóm cho em thọ tang để mẹ khỏi tủi thân. Sao anh c̣n gọi ba mẹ em là "hai bác".

- Ồ, anh thật vô ư. Em bỏ qua cho người lính vụng về. Từ đây anh gọi là ba mẹ…

Một nếp nhà tranh đơn sơ nhưng gọn gàng ngăn nắp, mái bếp tỏa khói ấm nồng, đôi vợ chồng anh thương binh sống chan ḥa hạnh phúc. Cây cỏ vườn tược xanh tươi, họ cùng nhau ngày ngày trồng khoai, trồng lúa, đào ao thả cá, đời sống ngày một tốt hơn. Họ chỉ c̣n ao ước có một mụn con để chăm chút thương yêu. Họ cũng biết đă sắp hết khả năng sinh nở rồi. Bao nhiêu năm chiến tranh đă cướp mất quăng đời thanh xuân của họ. Măi gần hai năm trôi qua Vân mới có bầu. Họ sung sướng vô ngần, thầm cám ơn Trời Phật, cám ơn cha mẹ đă phù hộ. Họ sắp được làm cha làm mẹ rồi. Họ cố gắng làm lụng tích lũy để sau này có thể nuôi con học hành nên người. Biết bao hy vọng tương lai. Những chiều muộn bên mâm cơm, họ nói về đứa con yêu quư sắp ra đời với bao lời tŕu mến thiết tha.

Rồi ngày khai hoa nở nhụy cũng đến. Vũ đưa vợ ra trạm xá làng. Bụng Vân khá to, nhưng nhờ làm lụng hàng ngày nên cô vẫn nhanh nhẹn khỏe mạnh chứ không quá nặng nề.

Vũ gởi vợ ở trạm xá rồi trở về tranh thủ cuốc cho xong đám rẫy sắp xuống giống cho kịp thời vụ.

Vũ đang cắm cúi cuốc mong cho chóng xong c̣n về nấu cơm đem lên trạm xá cho vợ. Anh đồ chừng giờ này cô cũng bắt đầu chuyển dạ rồi. Bỗng thằng Tài con bà Thơm hàng xóm la oai oái trên đường làng:
- Chú Vũ, chú Vũ, mau lên trạm xá, cô Vân sinh rồi, mẹ cháu đang ở trên ấy, chú nhanh lên!

Vũ ném cuốc, vui mừng quá, bỏ quên cả b́nh nước bên bụi cây chạy như bay, quên cả cái chân đă bị thương thỉnh thoảng vẫn c̣n đau những lúc trái gió trở trời.

Trạm xá kia rồi, Vũ nhảy thoắt lên thềm. Bà Thơm đứng dang cả hai tay chặn cửa, miệng la bài hải không cho Vũ vào:
- Khoan vào đă Vũ! Nghe bác nói đă nào!

Vũ đứng khựng lại, vừa thở hổn hển vừa hỏi bà Thơm:
- Sao rồi bác? Vợ cháu sinh trai hai gái? Cô ấy khỏe không? May có bác ở đây chắc cô ấy cũng đỡ sợ. Cháu chỉ về cuốc chỗ vạt đất dang dở mà không kịp. Gớm! con so mà cũng nhanh quá bác nhỉ?

Mặt bà Thơm lạnh tanh, hai mắt bà cụp xuống. Vũ như linh cảm có chuyện ǵ, anh lay hai vai bà:
- Sao thế bác? Có chuyện ǵ à? Để cháu vào xem sao…

Bà Thơm lại ngăn Vũ:
- Khoan đă, nghe bác nói đây, nó sinh một lúc hai thằng cu, con ạ… Nhưng sinh khó quá, nó cũng lớn tuổi rồi mà… một đẻ ngược, một đẻ xuôi, băng huyết ồ ạt, đường từ đây lên huyện quá xa, giờ này làm ǵ có xe cộ nữa, ở đây chỉ là trạm xá làng, thiếu thốn mọi thứ, mặc dầu cô mụ đă cố gắng hết sức, nhưng con ơi… nghe bác nói đă… sống chết có số trời định cả rồi, con hăy b́nh tĩnh rồi bác đưa vào vuốt mắt cho vợ con…

Vũ gào lên:
- Sao? Vợ cháu chỉ sinh b́nh thường thôi sao lại chết được? C̣n hai cháu bé sinh đôi đâu? Cháu phải vào xem vợ cháu ra sao, con cháu ra sao?

Anh xô dạt bà Thơm sang bên, kéo cửa bước vào pḥng trạm xá. Mùi máu tanh nồng hắt tận mũi. Trên giường trạm, một thi thể đă được đắp tấm vải. Bên dưới gầm giường vẫn c̣n lênh láng máu.

Vũ giở tấm vải đắp, ôm lấy xác vợ hăy c̣n nóng ấm, đôi mắt vẫn mở nh́n anh, chờ anh tới. Tóc tai cô tung xơa rũ rượi, mồ hôi c̣n ướt đẫm cả mớ tóc mai. Vũ nói nghẹn ngào trong nước mắt:

- Vân ơi, em ơi, anh có ngờ đâu, một lần sinh con mà em đă bỏ anh, bỏ con. Rồi đây anh biết làm sao để nuôi con đây? Sao trời lại bất công với em quá, bao nhiêu năm chờ đợi anh... em ơi!

Bà Thơm đă đến bên cạnh. Cô mụ giục Vũ:
- Thôi, đây là trạm xá, đừng khóc gào quá bà con sẽ sợ hăi anh Vũ ạ. Anh hăy vuốt mắt cho chị yên nghỉ đi, rồi nhanh chóng ra làm thủ tục đưa vợ về an táng và làm thủ tục khai sinh cho con anh.

Măi đau đớn v́ cái chết tức tưởi của vợ, anh quên mất con anh hiện ra sao. Anh chưa thấy nó. Anh nói với cô mụ:
- Cô làm ơn cho tôi thăm hai cháu.

Bà Thơm đưa mắt nh́n cô mụ như thầm hỏi có nên đưa Vũ sang xem hai đứa bé không? Cô mụ cũng lưỡng lự giây lát rồi đành nói rơ:
- Con của anh ấy mà, ruột thịt mà, dù sao cũng phải cho cha con gặp nhau chứ biết làm sao bây giờ hở bà?

Bà Thơm và cô mụ đi trước dẫn đường, Vũ theo sau. Cánh cửa pḥng mở ra, ba người bước vào, tiếng Vũ thét lên:
- Con tôi đây sao? Trời ơi..., sao lại thế này?

Bà Thơm phải đỡ Vũ mới khỏi ngă quỵ xuống.

Trên mặt bàn trải tấm chăn bông trắng, hai đứa hài nhi đỏ hỏn, một đứa ngọ ngoạy hai tay, một đứa nằm im không nhúc nhích, cả hai đều dị dạng. Đứa ngọ ngoạy có vẻ khỏe mạnh hơn, chiếc đầu to không có mắt, hai hố mắt bằng phẳng, liền da như ai đă dán băng keo lên đó, hai tay có dạng b́nh thường ngo ngoe liên tục, nhưng lưng th́ cong vẹo, xô chiếc bụng nghiêng lệch sang một bên, c̣n hai chân th́ nhỏ xíu và teo lại h́nh như không có xương ở trong đó. Chỉ riêng bộ phận sinh dục minh chứng nó là con trai. C̣n đứa thứ hai, không mắt không mồm, tay chân đều nhỏ xíu không có xương, nằm bất động chỉ c̣n thoi thóp thở nhè nhẹ rồi lịm dần chỉ vài ba phút sau đó, người nó lạnh dần và tím tái. Cô mụ bảo:
- Cháu đă không thể sống nổi rồi, c̣n cháu này may ra có sức khỏe hơn, anh cố nuôi cháu, trong nhà có tiếng trẻ thơ cũng vui.

 

Cô mụ bỗng hỏi Vũ:

- Anh là thương binh phải không?

- Dạ!

- Anh ở chiến trường hay hậu trạm?

- Tôi đi tác chiến mới bị thương chứ ạ!

- Ừ nhỉ, xin lỗi, tôi quên. Thế nơi anh đóng quân là rừng núi hay đồng bằng?

- Dạ, toàn rừng là rừng, rừng trụi lá, chẳng có cây nào sống nổi, cũng chẳng có chim chóc hươu nai ǵ sống nổi, trơ sỏi đá, nóng hầm hập cứ như cháy rừng ấy cô ạ.

Cô mụ gật đầu:
- Ấy là bị rải thuốc khai quang diệt cây cỏ rồi… thảo nào… thảo nào…

Ấy thế mà cái khối thịt đỏ hỏn chỉ ngo ngoe hai tay ấy đă được anh Vũ chăm sóc, bồng bế đi xin sữa khắp làng… rồi cũng lớn dần… Nhưng cháu không đi được, không nh́n được, cháu chỉ nghe, chỉ nói ngọng nghịu, chỉ có hai tay là toàn vẹn nhất trong cơ thể. Lưng vẹo nên nó chỉ nằm một chỗ. Tuy vậy hai tai nó lại nghe rất thính, nghe rất xa.

Một hôm làng mở hội xuân, tiếng trống rộn ràng, nó lắng nghe rồi hỏi Vũ:
- Ba ơi, tiếng ǵ nghe rùng rùng, bùng bùng vậy ba?

- À, đó là tiếng trống hội làng đó con.

Nó ngạc nhiên:
- Tiếng trống hả ba? Trống là cái ǵ ba?

Anh Vũ t́m cách giải thích cho nó hiểu:
- Cái trống làm bằng gỗ, bên trong rỗng, hai đầu bịt bằng da trâu, đánh lên nghe to lắm con ạ. Khi nào có hội hè th́ mới đánh lên cho cả làng đến dự hội.

Thằng bé vẫn c̣n thắc mắc:
- Hai đầu trống bịt bằng da trâu hả ba? Đánh bằng hai tay hả ba? Đánh vậy đau tay lắm phải không ba?

Anh Vũ ôm lấy con mà cười:
- Người ta làm hai cái dùi bằng gỗ để đánh mới kêu to vậy con ạ. Tội nghiệp con của ba không thể nào đi lễ hội để thấy cái trống làng.

Thằng bé lại cười hồn nhiên:
- A ha! Ba quên rồi, con đâu có thấy cái trống được, con chỉ nghe tiếng trống thôi!

Đó là những giây phút hai cha con cười đùa vui vẻ với nhau. Hàng ngày, Vũ bận rộn đi làm rẫy, đến hết buổi về nấu cơm hai cha con ăn với nhau rồi anh lại ra hồ cá chăm sóc đàn cá.

Riêng thằng bé từ khi được cha giải thích cho nó biết về cái trống, nó vô cùng thích thú, suốt ngày cứ dùng hai tay vỗ xuống giường, đánh trống mồm "Tùng tùng, cắc, tùng tùng…" không ngớt. Đó là tṛ chơi nó thích thú nhất.

Rồi mùa thu đến, bọn trẻ trong làng kéo nhau đi rước đèn, đánh trống, cười đùa ầm ĩ ngoài đường làng. Thằng bé lại hỏi cha về những cái trống bọn trẻ đang chơi ngoài kia với một vẻ thèm thuồng thích thú. Nó khao khát, mơ ước có một cái trống để đánh lên, kêu thật to, cho mọi người nghe thấy và biết có nó đang ở đây.

Trước nỗi khát khao tột cùng của đứa con bất hạnh, Vũ đành phải hứa liều sẽ làm cho nó một cái trống. V́ quá thương con, anh không quản khó nhọc, ḷ ḍ ra tận xóm Đ́nh hỏi cụ từ giữ đ́nh về cách làm trống. Rồi anh cất công đi kiếm gỗ tốt; lên tận ḷ mổ trâu ḅ trên huyện nằn ń xin được hai miếng da trâu. Dưới sự chỉ bày của cụ từ giữ đ́nh, anh đă mày ṃ làm được một cái trống da trâu, cỡ bằng cái khạp gạo, mang về cho thằng bé.

Làm sao quên được nét mặt rạng rỡ vui sướng của thằng bé tật nguyền tội nghiệp ấy, khi cha nó hớn hở chạy về trao cho nó cái trống khá to so với cơ thể nó. Rồi sau đó cha nó đă dạy nó ôm cái trống trên bụng, một tay giữ trống, một tay cầm dùi đánh. Tiếng trống đầu tiên vang lên, hai cha con ôm nhau cười ha hả. Kể từ đó thằng bé như được sống trong một cơi thần tiên! Nó suốt ngày đùa vui với cái trống. Vũ lại ra công dạy con hát nhiều khúc đồng dao, nhiều câu hát lư để nó vừa hát vừa đánh trống nhịp nhàng.

Ít lâu sau, anh dạy thằng bé đánh trống theo ám hiệu. Thường anh phải đi làm ngoài rẫy, nó ở nhà một ḿnh với cái trống. Anh dạy nó khi có ai đến nhà t́m anh th́ nó đánh nhịp ba "Tùng tùng tùng, cắc, tùng tùng tùng…" để gọi anh về. Khi có việc cấp bách, như có chó vào nhà hay hỏa hoạn, th́ nó đánh trống liên hồi cấp bách là anh chạy về ứng cứu ngay. C̣n thường ca hát hay chơi một ḿnh th́ chỉ chơi nhịp hai,chầm chậm, nhẹ nhàng, anh ở ngoài rẫy nghe là yên tâm. Khi nào không nghe tiếng trống là anh biết nó đang ngủ.

Rồi tiến tới là anh dạy nó học chữ, học số bằng viên phấn cầm tay nắn nót cho nó viết trên mặt trống. Chủ đích của anh là chỉ t́m cho nó một niềm vui để quên đi kiếp sống dị dạng tật nguyền. Nhưng thằng bé rất chăm chỉ, nắn nót rờ rẫm trên mặt trống, nó ghi nhớ rất nhanh. Dần dà, nó đă viết được những câu ngắn trên mặt trống, mặc dầu nó không hề thấy chữ nó viết.

Một hôm đi làm rẫy về, anh bỗng sững sờ thấy trên mặt trống ghi ḍng chữ xiên xẹo: "Ba ơi, con thương ba lắm." Vũ đă khóc lặng đi v́ quá xúc động.

Từ đấy, cái trống da trâu vừa để cho thằng bé đánh trống "tùng tùng" và hát những bài đồng dao, những bài ca dao, mặt trống cũng là cái bảng đen để nó vui học. Không những thế, nhờ có tiếng trống và những câu hát ngọng nghịu ngây ngô của ḿnh, nó đă có rất nhiều bạn trong xóm lân la đến chơi. Trước đây không một đứa bé nào dám mon men đến nhà Vũ v́ rất khiếp hăi thằng bé. Lỡ khi nào cha mẹ có việc ǵ dắt chúng đến t́m ba của thằng bé th́ chúng sợ sệt nép vào người lớn chứ không dám đến gần. Nhưng từ khi có tiếng trống vang xa, đă mê hoặc, quyến rũ chúng đến chơi với thằng bé. Thằng bé dạy cho bạn hát và đánh trống. Có hôm Vũ đi làm về chợt thấy năm, sáu đứa bé hàng xóm đang say sưa vừa múa vừa hát, c̣n thằng con anh th́ đánh trống nhịp. Chúng chơi với nhau thật vui vẻ hồn nhiên, như không c̣n cái ranh giới sinh động và nằm liệt. Thằng bé học tiến bộ rất nhanh, mặc dầu chỉ có đôi tay ṃ mẫm chứ không có mắt. Nó cũng mỗi ngày ca hát thêm nhiều bài. Ngoài những khúc đồng dao, ca dao do Vũ dạy, các bạn cũng dạy nó thêm những bài hát ở trường học. Thằng bé sống vui vẻ, hồn nhiên, yêu đời và sinh động hẳn lên. Nó như quên đi những bất hạnh đè nặng lên số phận nhỏ bé của ḿnh.

Năm lên tám th́ tự nhiên một cánh tay thằng bé yếu dần rồi mềm nhũn và teo lại. Thế là nó chỉ c̣n một tay, và sức khỏe nó cũng yếu dần đi, may mà niềm đam mê vào cái trống da trâu vẫn c̣n nguyên vẹn trong cái cơ thể điêu tàn ấy. Vũ rất lo buồn, anh đă bế thằng bé đi nhiều bệnh viện huyện và cả ở tỉnh, nhưng nơi đâu cũng không giúp ǵ được cho nó. Tội nghiệp thằng bé, sợ ba nó buồn lo, nên dù sức khỏe đă yếu đi nhiều, hàng ngày nó vẫn cố gắng đánh trống với cánh tay yếu ớt c̣n lại, đánh trống để ba nó ở ngoài đồng, trên rẫy nghe thấy sẽ yên ḷng, đánh trống để các bạn nghe thấy may ra có đứa nào nghỉ học th́ chạy đến chơi với nó.

Một hôm làm đồng cả buổi mà Vũ không nghe tiếng trống của thằng bé, anh nghĩ là nó đang ngủ, dạo này nó yếu nên ngủ nhiều. Nhưng càng đến trưa, đă đứng bóng rồi, vẫn không nghe tiếng trống, có bao giờ nó ngủ lâu như vậy? Anh lo lắng, bỏ cuốc chạy về. Nhà yên ắng không một động tĩnh ǵ, Vũ vừa chạy vào sân vừa gọi con:
- Con ơi, con ngủ hay thức? Sao không đánh trống cho ba nghe?

Nhà vẫn yên ắng, không có tiếng thằng bé đáp lại, khác hẳn với mọi khi, nghe tiếng ba về là nó líu lo ngọng nghịu hỏi đủ thứ, khoe đủ thứ nó làm ǵ, bạn nó vui chơi tṛ ǵ…

Thằng bé nằm im, co quắp rất tội nghiệp, cái lưng vốn đă vẹo vẹo, bây giờ như gồ hẳn lên, vẹo vọ hơn, đầu nó ngoẹo sang một bên, bọt mép sùi ra. Nó đă tắt thở từ lúc nào!

Vũ ôm lấy xác con, bế thốc thằng bé lên ḷng, gục đầu vào ngực con khóc tức tưởi. Dù rằng anh biết ngày cuối cùng này rồi cũng xảy ra, v́ thằng bé sức khỏe kém dần, nó ăn uống ít dần, nhưng anh không ngờ nó đi nhanh chóng quá, và lại ra đi lúc anh không có mặt bên cạnh nó. Vũ không biết lúc ra đi nó có đau đớn quằn quại ǵ không? Thôi đành vậy…

Khi Vũ đặt con nằm ngay ngắn xuống giường, kéo tấm chăn đắp lên ḿnh con, th́ bắt gặp cái trống nằm nghiêng trên đầu giường. Khi với lấy cái trống, Vũ kêu lên đau đớn:
- Trời ơi, con của ba, trước khi ra đi con c̣n nhớ thương ba nhiều thế này sao? Trên mặt cái trống, ḍng chữ nguệch ngoạc bằng phấn trắng nổi bật trên màu xám của tấm da trâu: "Con thương ba lắm" - chỉ bốn con chữ cuối cùng đơn sơ nó để lại cho ba nó. Có lẽ với sức yếu ớt như thế, nó phải cố gắng lắm, đem chút hơi tàn lực kiệt để viết nên ḍng chữ này.

Vũ đọc đi đọc lại ḍng chữ trên mặt trống: "Con thương ba lắm… Con thương ba lắm", anh như trong cơn mê, trong nỗi đau đớn tột cùng.

Kể từ ngày đứa con dị dạng tật nguyền mà Vũ đă thương yêu hết ḷng hết sức qua đời, ngôi nhà đă trống vắng như càng trống vắng hơn. Chiếc bàn thờ đơn sơ bằng gỗ tạp, nơi thờ Vân bây giờ có thêm một bát nhang và cái trống da trâu, vật kỷ niệm duy nhất của con anh để lại, trên đó vẫn mang ḍng chữ "Con thương ba lắm" anh cố trân trọng giữ ǵn cho đừng bị phai mờ nét phấn. Mỗi buổi đi làm rẫy về, anh lầm lũi nấu cơm, bữa ăn nào anh cũng xới một bát cơm đặt trước cái trống, rồi đốt nhang gọi con về ăn cơm. Mỗi khi nh́n đến cái trống, Vũ không khỏi rơm rớm nước mắt và lẩm nhẩm đọc: "Con thương ba lắm", rồi anh tự trả lời như đang nói với con: "Ba thương con lắm".

Từ ngày thằng bé dị dạng mất đi, trong xóm không bao giờ nghe tiếng trống da trâu nữa.
 

Hoàng Hương Trang

(*) Tác phẩm đạt giải nhì giải cuộc thi Văn-Thơ Phật giáo "Hướng về 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội" do báo Giác Ngộ tổ chức
 


Trần Dzạ Lữ

 

 

~~oOo~~

 

http://art2all.net/tho/ngoctuy/phamngoctuy_chuduyen.htm

 

PHẠM NGỌC TÚY


CHỮ DUYÊN

 

 

          Cái tên lạ như con người của chị. Hoàng thị Diệm Phương.

Khởi đầu là lời hỏi thăm chị nhờ một người bạn lớn tuổi trong Hội nhà văn Huế chuyển đến. Nhiều lần chị nhờ người bạn đó là một người đáng tuổi anh tôi gởi lời thăm, tôi đâm chú ư. ( Cho đến bây giờ, tôi không biết có phải do chị đọc cuốn tiểu thuyết “ B̀NH MINH ƠI TRỞ LẠI ” của tôi không nữa? Dám lắm chứ!)

Tên tuổi chị nào có xa lạ ǵ, hồi tuổi c̣n trẻ và thậm chí ở lứa tuổi thiếu niên ( vào học lớp 10 ban C ) chúng tôi đứa nào mà chẳng lập cho ḿnh một tủ sách nhỏ? Tên của chị như tôi biết, do có đọc vài bài thơ chị đăng trên tạp chí Văn của Sài g̣n cũ và những tờ báo khác.

Nhận thư chị cùng mấy tuyển tập truyện ngắn, văn xuôi, sau là hai tập thơ, tôi càng ngạc nhiên hơn.

Trong thư chị viết, chữ khá rơ ràng:

“ Trong bài Túy viết về trường ĐK, đăng trên báo Nhớ Huế số 54 ( năm 2012 ) có 1 chỗ sai về tài liệu lịch sử:

“ Hai bà Trưng đánh giặc Ngô”

Không phải thế, Hai bà Trưng đánh quân Đông Hán ( Đầu đời Đông Hán ).

Bà Triệu mới là đánh giặc Ngô.

Xin em gái nhớ lại nhé. ”

Chà! Chị đọc cẩn thận thế. Là người duy nhất đọc và đính chính, lại c̣n …chịu khó viết thư riêng cho tác giả.

Tôi đọc hết tập thơ chị in năm 2009 “ RỒI CŨNG NGÀN THU”. Ḷng thấy lạ. Bộ chị đang đau bệnh ǵ chăng, bịnh già th́ ai cũng có rồi. Đọc xong tuyển tập văn xuôi, truyện ngắn của chị, in năm 2013, chị hẹn gặp nhau trong buổi hội ngộ tại trường Quốc Học Đồng Khánh. Cuộc gặp mà chị hẹn tôi qua một lá thư, thay v́ ở trường Quốc Học, lại xảy ra – hay gọi là họp mặt nghe đọc thơ ở một quán cà phê ( quán ǵ tôi quên mất tên) trong một hẻm nhỏ ven hông lối vào trường cấp 2 trên đường Lê Huân cùng một số bạn văn nghệ.

Đọc thư rồi gặp chị, thấy chị bên ngoài là một người cao, gầy, lời lẽ tuy ôn tồn mà ngắn gọn như trong thư chị gởi. Tôi và có lẽ chị - đều vui mừng khi gặp nhau sau hàng chục lần nhắn gởi lời thăm qua những người quen. Tuổi tác chênh lệch không làm chúng tôi trở nên xa lạ. Trao đổi vài câu ngắn ngủi, chị bận đón khách nên xin lỗi, tôi vào quán ngồi.

Đó là quán trà của Như Tích. Như Tích không xa lạ với dân văn nghệ Huế. Giọng ngâm đặc biệt như cái tên. Quán trà đơn giản không khác nữ chủ nhân. Cuộc gặp gỡ bạn bè tuy ít người, mà thân mật và gây ấn tượng qua giọng ngâm của Như Tích và lối dẫn thơ vào chuyện của Hoàng Hương Trang. Người nghe thơ cảm động, người đọc thơ và người dẫn thơ sâu lắng. Thứ t́nh thơ này khó nói quá. Nó không giống như vài lần tôi có tham dự buổi ca Huế có giọng ngâm của Bích Liên và giọng ca Minh Mẫn tại nhà bạn Nguyễn thị Lợi ( vợ anh Bửu Ư, đă qua đời ). Hay chị chỉ mượn thơ để nói. Ngoài đời thực là một Hoàng Hương Trang không khách khí màu mè. Làm sao người nghe không nhớ đến người phụ nữ, mà tuổi tác chẳng ăn thua ǵ đến phong cách. Chị chỉ là chị, vậy thôi.

Chỉ một lần duy nhất. Sau khi về Sài G̣n chị không gởi thêm cho tôi một tập văn nào nữa, ngoài một tập thơ. Tôi đọc mà tức ḿnh. Chị ni lạ, đang c̣n trẻ, tuổi đời mới hai tám ( 28 ) việc chi nghĩ đến ngày ḿnh chết?

Chị viết truyện ngắn lối văn đơn giản, bộc trực. Tuy chúng tôi gặp nhau có lần duy nhất đó, ngắn ngủi trao đổi với nhau vài câu. Chị không hỏi tôi sao không sang trường Quốc Học vào ngày đó, tôi không hỏi chị sao ra Huế mà không gọi điện. Không ai trách ai.

Tuy vậy, đọc xong tuyển tập thơ và văn xuôi của Hoàng Hương Trang, thấy tranh lụa in trong sách chị vẽ rất đẹp ( huống chi ngoài đời thực ). Tôi điện cho chị, chị trả lời thẳng thừng: “ Tranh mắc lắm, mi mua không nổi đâu”. Nhớ dạo ngồi trực pḥng tranh Phật Giáo ở Trung tâm Liễu Quán Huế, bức mắc nhất chỉ có bảy trăm đô ( 700 US ) mà e cũng chưa đến giá đó. Tranh vẽ Phật không bao giờ mắc. So sánh hai loại tranh là một điều thừa. Tôi cười mà không giận .

Bài thơ HỒN TÔI chị viết :

Khi tôi chết nằm im trong huyệt lạnh
Nghe quanh ḿnh giun dế khóc như mưa
Nghe đêm sâu lá úa rụng sang mùa
Đất sỏi ướt ṃn từng viên bé nhỏ
…………
Từng chồi non dành thở khí trần gian
Tôi ngán ngao quay t́m hướng thiên đàng

………..
Tôi cúi mặt khấn thầm ôi số kiếp
Bắt lạc loài, bắt cô đơn, thê thiết
Chán nản rồi tôi về lại huyệt tôi
Nằm im nghe giun dế khóc liên hồi…

Trích ( Khép đôi mi nhỏ - 1964 )

Tôi trách chị. Tôi đă chẳng viết hồi c̣n học trường Nữ trung học Thành Nội những vần thơ :

BÂY GIỜ

Bây giờ tôi là con chim găy cánh
Về qua thành rêu phong nhớ thời quá văng
Buổi chiều lá rơi đầy ngoài mặt lộ
Cây trái bi thương bỗng mọc trên mồ.

( 1964 )

Là đứa học tṛ làm thơ rất sớm. Chúng tôi ( tôi và Trần Túy Việt ) trao đổi thơ cho nhau dưới hộc bàn, có khi đầu giờ học. TV ( bút danh Thiên Thu Hoài )? lẹ tay chuồi bài thơ lên bàn cho tôi trước khi cô giáo mở sổ điểm danh. Tôi ngồi trước nó một bàn.

Hai thi sĩ nhí chúng tôi chưa đến tuổi trăng tṛn lẻ. Trách chị Diệm Phương viết thơ về cái chết của ḿnh chẳng khác nào trách anh Trịnh công Sơn: “ Một ngày nằm mơ tôi thấy tôi qua đời”!

Một bài thơ khác trong tập: “RỒI CŨNG NGÀN THU” của chị:

VỀ CUỐI TRỜI XA

Dầu biết thế cũng đành phải nói
Để mai này về cuối trời xa
Để mai này chẳng thể c̣n ta
Mà chưa kịp đưa tay chào biệt
………………..
Về cuối trời xa, ở nơi nào đó
Sẽ cô đơn hay sẽ an lành
Sẽ vẹn toàn hay sẽ mong manh
Nào ai biết cuối trời là đâu nhỉ

2008
Trích “ Rồi cũng ngàn thu”

Tôi đă chẳng từng viết :

Những đêm như đêm nay,
Tôi làm lăo lưng gù
Suốt đời ôm vô vọng
Canh mộ phần thanh xuân

Những đêm như đêm nay
Tôi ngồi đây khóc cười
Như người điên con gái
Hồn chết trong hoang tàn

1966

Anh Tuấn – mặc dù trách tôi làm thơ chi buổn quá - đă phổ nhạc và đàn hát cho hai đứa chúng tôi nghe, không biết TV có c̣n nhớ không?!

Những vần thơ viết khi tuổi đời c̣n quá non trẻ, trách ǵ chị Hoàng Hương Trang, một người đă qua tuổi trưởng thành viết về cái chết ( ?) của ḿnh.

Chúng tôi cách nhau về tuổi tác, ở hai thành phố cách nhau không biết bao nhiêu cây số đường chim bay. Không hề ngồi chung với nhau một cuộc tiệc, chẳng có với nhau vài chén trà suông. Ḍng đời vẫn vô t́nh trôi. Chẳng có ǵ ngoài những tập thơ và văn xuôi chị gởi, thậm chí không nhớ tôi có gởi tặng chị cuốn “ B̀NH MINH” ( tiểu thuyết in năm 1998 ) của ḿnh không nữa.

Chị có tranh lụa triển lăm ở nước ngoài, có giải thưởng và có tranh trong bộ sưu tập người nước ngoài. Chị có đủ thứ danh vọng ( tạm gọi ) của một họa sĩ giàu ḷng nhân ái và hồn thơ. Văn xuôi chị viết khác hẳn mọi người. Chị đă in ra nhiều đầu sách và tiếng tăm của chị không xa lạ với những ai từng vẽ và viết thơ trước 1975.

Chúng tôi không có ǵ cho nhau cả ngoài một điểm hết sức gần nhau.

Năm ấy tôi bị thương nặng, sau một tai nạn. Các bác sĩ chỉ chữa cái đầu bị chấn thương, c̣n cánh tay găy chưa băng bột được. Nửa đêm về sáng đau nhức không chịu nổi, tôi buột miệng rên. Đồng thời, nhớ lời mẹ dặn, tôi niệm hồng danh QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT. Linh nghiệm không nói được! Tôi ngủ được và hôm sau thức dậy bớt nhức đầu. Niệm Phật măi hoài ( ban ngày không ngồi dậy được tôi niệm Phật ) đến một đêm tôi chiêm bao thấy h́nh ảnh PHẬT BÀ . Người hiền từ với chiếc tịnh b́nh trong tay nh́n xuống tôi…

Sáu tháng trời nằm một chỗ không khi nào tôi không niệm hồng danh Quán THẾ ÂM trước khi ngủ và lúc thức dậy, mới bớt những cơn nhức đầu dữ dội tưởng chừng không qua khỏi!

Từ đó. Mỗi lần sắp giận ai, tôi niệm hồng danh QUÁN THẾ ÂM.

Mỗi lần đang bực bội ưu phiền tôi cũng niệm hồng danh của NGƯỜI. Hết.

Nghe tin chị mất, đọc lại những vần thơ chị viết, những truyện ngắn tràn đầy và chan chứa t́nh cảm, ḷng tôi không khỏi rưng rưng. Khoảng cách tuổi tác, hay v́ lí do nào đó, có lần chị nói qua điện thoại:“ Chỗ ở của tau chật lắm, em đi xa đó”?!

Cuộc điện đàm cuối cùng của chúng tôi vào đầu tháng 3/ 2020. Đă lâu không gặp chị tôi e chị có thể không c̣n khỏe như trước. Không nghe tin chị về Huế như nhiều năm trước đây. Chị nói tau dạo này yếu không ở B́nh Thạnh nữa, về ở với cháu.

Năm nào tôi cũng về Sài G̣n, chị ở quá xa, tôi không về thăm không hẳn v́ lí do địa lư. Chị có dặn tôi – trong một cuộc điện đàm – vô Sài G̣n nhớ ghé tau chơi. Tôi bận giữ trẻ, ở đâu cũng không tránh khỏi nghiệp viết, dạy học và giữ trẻ.

Chị ơi, hôm nay viết những ḍng này em cầu mong sao cho Hương linh chị sớm siêu thăng về cơi Tịnh Độ.

Cát bụi lại trở về cát bụi.

Cuộc Hạnh ngộ để Chia ĺa rồi chỉ nằm trong một chữ Duyên.

 

Huế 27/4/2020
Phạm ngọc Túy