Túy Việt

MIẾN ĐIỆN : PHẬT Ở CÙNG TA

 

I     II     III     IV    V

 

V. Định tâm, an lạc:

 

Tôi biết rằng tâm ḿnh chưa định mà viết về tâm định của người khác th́ thật vô cùng khó.   Trong chừng mực có thể, tôi chỉ xin ghi lại những ǵ mà tôi nhận thấy và cảm thấy nơi những người Miến mà tôi đă gặp.  Nếu tôi không chuyển tải được cái định tâm của họ đến Quư Vị và Các Bạn th́ đó là lỗi của tôi, xin Quư Vị và Các Bạn niệm t́nh tha thứ.

Bản thân niềm tin sâu sắc của họ là  tâm định của họ. Tôi chợt nhớ một câu kệ trong Kinh Pháp Cú, Phẩm Trí Tuệ(1):  

                                    "Như đá tảng kiên cố

                                    Không gió nào lay động

                                    Cũng vậy giữa khen chê

                                    Người trí không giao động"

 

Nương theo câu kệ này và áp dụng vào người Miến, th́

                                    Như đá tảng kiên cố

                                    Không gió nào lay động

                                    Cũng vậy giữa bon chen

                                    Người  Miến không giao động.

 

Ôi! Phật tổ từ bi, chắc Ngài sẽ tha thứ cho tôi tội lạm dụng lời dạy của Ngàị  Tôi chỉ dám xin nương theo h́nh ảnh tảng đá kiên cố đă được Đức Phật vẽ ra để đối chiếu với cái tâm định mà hầu như người dân Miến nào mà tôi gặp cũng đạt được.  Những nơi  tôi đă đi qua phần lớn c̣n nghèo  và người dân chỉ hành nghề lao động thủ công, nhưng ai ai cũng có tính tự chủ rất cao, thái độ rất chừng mực, không vồn vă, không vội vă, rất khiêm tốn.  Với  tôi, đó là thể hiện của một “tâm kiên cố”, biết đâu là “bể khổ nguồn mê”. Họ an nhiên tự tại trong thời đại danh lợi đua chen.  Nhưng không phải họ xa lánh hay từ bỏ cuộc sống thế tục.  Họ ư thức được thế giới vật chất đang đổi thay, họ cũng đổi thay, nhưng vẫn bên bờ  “cư trần lạc đạọ” .

 

Phần phụ:

Tôi xếp vào đây những công việc mưu sinh thường ngày của họ. Hầu hết đều là các ngành tiểu thủ công nghệ, những việc làm rất đơn giản đến độ không thể nào đơn giản hơn.   Nhưng để thực hiện những công việc đơn giản này, tôi nghĩ,  tâm định phải được xếp lên hàng đầu.  Xin kể:

1)  Nện búa tạ:

Để tạo ra những miếng vàng mỏng, mỏng le mỏng lét cho phật tử mua đem dán vào các tượng Phật, người ta dùng búa tạ để đập giập vàng miếng.

 

Các thanh niên đang đập giập vàng bằng búa tạ 

Một miếng vàng 24, dài rộng cỡ 2.5x1 cm được các thanh niên này đập giập bằng búa tạ cho đến khi miếng vàng lớn đến cỡ 1 carte postale như h́nh trái trên đây.  Sau đó miếng  vàng được tiếp tục cắt nhỏ, khoản 1x2.5 cm, xong xếp  xen kẽ vào giữa những lớp giấy làm từ tre, cuộn chặt lại ; lại tiếp tục dùng búa tạ để đập giập, lập lại nhiều lần cho đến khi miếng vàng có độ dày 0.000127 cm  (http://www.myanmars.net/myanmar-arts/myanmar-arts-more.htm#Gold_Foil_Making), rồi cắt thành từng miếng vuông 1x1 inch, bán ra cho khánh hàng.

 

Để đập giập vàng, mỗi người thợ có một đe riêng, nhưng trong nghề rèn dao hay kiếm, phải  đến 3 người cùng nện búa vào một đe chung, trên đó là khối sắt cháy đỏ.  

    

Trong ḷ rèn, ba người thợ trẻ đang đập dập một thanh sắt nung

và một trong những sản phẩm của họ là thanh trường kiếm này

 

Ba người thợ cùng đập giập một thỏi sắt nung một cách liên tục và nhịp nhàng mà nét mặt vẫn b́nh thản  an nhiên như một vơ sĩ có nội công thâm hậụ.  Họ cũng mỉm cười chào khách nhưng  tay  vẫn không ngừng nện búa, từng nhát thật chính xác và sản phẩm làm ra không có một khuyết điểm nào. 

 

2)   Giă vỏ cây:

 

Giă vỏ cây trên thớt, không dùng cối

 

Đây là vỏ cây merberry. Vỏ cây được luộc trong khỏang 8 tiếng đồng hồ cho mềm, sau đó người ta sẽ giă nó bằng chày vồ cho đến khi nát nhuyễn như bột. Bột vỏ cây được trút vào một cái máng nước có lót lưới tre bên dưới, quậy đều. Người ta có thể trang trí tờ giấy bằng cách đặt vào đó những cánh hoa tươi, xong vớt cái lưới tre lên và phơi khô trong nắng.  Khi khô, họ sẽ lột tấm giấy ra khỏi lưới tre. 

 

 

Và dưới đây là sản phẩm từ giấy merberry:  lồng đèn (h́nh  trái), dù (h́nh phải)

 

3)  Xe tơ sen:

Đây là điều mới lạ nhất tôi mới được biết.  Không thể ngờ cuống lá sen lại có thể dùng để làm vải. Cuống lá sen được cắt ra từng đoạn ngắn, kéo ra tại vết cắt sẽ có một đoạn tơ, liên tục xe và nối các đoạn tơ đó lại để tạo thành một sợi. Khi sợi dây dài th́ cuộn lại thành cuộn. Tiếp tục làm cho đến khi có đủ lượng tơ để dệt thành vải.

Cuống lá sen được cắt ra từng đoạn ngắn,

kéo ra tại vết cắt sẽ có một đoạn tơ

Xe tơ…

 

.... thành sợi

Dệt sợi thành tấm

 

4)  Vê thốt nốt:

Quư Vị và Các Bạn chắc đă có nếm qua hay nh́n thấy đường thốt nốt làm tại Campuchia.   Nó có từng bánh h́nh tṛn, đường kính chừng trên dưới 1 tấc, dày chừng 4cm.  Miến cũng là xứ của thốt nốt, thốt nốt trồng ngút ngàn, xe chạy cả hai tiếng đồng hồ vẫn chưa ra khỏi vùng thốt nốt.  V́ thế họ không thể bỏ qua nguồn thực phẩm từ thốt nốt.

Để làm đường cũng đơn giản. Họ hứng nước thốt nốt rỉ ra từ những hoa thốt nốt trên ngọn câỵ  Đổ vào chảo rộng miệng nấu cho đến khi cô đặc lại, sau đó dùng tay vo từng viên, cỡ lớn hơn viên bi một chút. 

Phải nhanh tay viên cho kịp lúc đường c̣n nóng

Thốt nốt trồng ngút ngàn

 

5)  Vấn X́ gà:

Đến đây tôi mới biết x́ gà không phải là món “đặc trị”  của Cuba.  X́ gà  là một trong những ngành sản xuất truyền thống tại Miến.   Ở đây họ vấn thuốc trong lá cheroot.   Phần  nhân thuốc được quấn gồm có lá thuốc trộn với vỏ trái bắp phơi khô.

       

Lá cheroot dùng để quấn x́ gà

Vỏ trái bắp được phơi khô ,xắt nhuyễn trộn với lá thuốc lá 

 

Vấn x́ gà (h́nh trích từ internet)

 X́ gà Miến Điện (h́nh trích từ internet) 

 

6)  Chẻ lạt:

Đây là công đoạn đầu tiên trong quá tŕnh làm sơn mài. Tre được chẻ thành từng sợi lạt thật mỏng, sau đó đan thành h́nh những vật dụng muốn làm bằng sơn mài ví dụ như ly, chén, b́nh v…v..

Chẻ lạt

Lạc được đan thành chén,  hủ , hộp v..v.. 

 

Tôi xin nói thêm một đặc điểm về các sản phẩm sơn mài là khi đan các khung tre để tạo h́nh sản phẩm, người ta c̣n đan xen kẽ lông đuôi ngựa.  Các sản phẩm có thêm lông đuôi ngựa sẽ trở nên dẻo, có thể vo hay nắn

 

Khung tre (màu trắng) có xen lông đuôi ngựa (màu đen), thành phẩm trở nên mềm dẻo

 

7)  Làm vua/ hoàng hậu:

Họ là những thanh niên, thiếu nữ (không phải là người mẫu thời trang) trong trang phục  vua và hoàng hậu, ngồi đó, như ngồi thiền, để chào du khách, cho du khách ngắm y phục cổ truyền của họ.  Mỗi ngày Nhà Vua và Hoàng hậu mặc áo của một sắc tộc trong hơn 100 sắc tộc hiện có tại Miến.

Vua và Hoàng hậu

 

 

Tôi xin kết thúc bài tường thuật với nghề Vua và Hoàng hậu đẹp đẽ này.  Họ - những người dân Miến - thật đẹp, thật dễ mến.  Trong những ngày này thế giới đều biết và ca tụng những thay đổi lớn lao trong công cuộc điều hành đất nước tại đây. Tôi thành tâm kính chúc họ sớm thoát  khỏi bóng tối độc tài, sớm hưởng niềm vui  tự do, giải phóng.

 

Ghi chú thêm:

1)  Cau trầu và Bách Việt:

Theo học giả Phạm Việt Châu trong "Trăm Việt trên Vùng Định Mệnh"  th́ “tất cả thành phần dân số chính cấu tạo nên tập- thể Đông -Nam-Á ngày nay đều bắt nguồn từ chủng-tộc  Bách-Việt “  (Phạm Việt Châu, Trăm Việt trên Vùng Đinh Mệnh, North Falls House, 1997, tr. 18).  Tôi cũng t́m thấy một trang nhà nói về nguồn gốc dân tộc Miến như sau:

Myanmar History - History of Burma

Throughout the history, Myanmar (Burma) has experienced waves of immigration that have come southwards along the rivers Ayeyarwady (Irrawaddy), Chindwin, Salween (Thanlwin) and Mekong. These movements have brought in many different ethnic peoples, mainly from the Central Asian plateau (modern Tibet and China), and this is reflected in wide ethnic variety to be found in the country today.  (http://myanmartravel.org/history.html)

Điều này được Phạm Việt Châu đề cập đến trong sách đă dẫn, trang 30.  Như vậy, có thề nói dân tộc Miến ngày nay là một trong số các con của Mẹ Âu Cơ, và là anh em của dân tộc Việt nam .  

Tôi nghĩ  dấu tích Việt tộc của họ là  ăn trầu với cau y như người Việt nam.  Họ c̣n hay hơn người Việt  v́ ngày nay đa số người Việt đă không c̣n nhai trầu nữa trong khi đa số thanh niên Miến vẫn c̣n nhai trầu hằng ngày.  Ông hướng dẫn viên bảo họ nhai trầu thay cho hút thuốc. Rất tiếc tôi đă để lỡ cơ hội hỏi xem chuyện ăn trầu của họ có bắt nguồn từ một chuyện t́nh lâm ly, bi thiết như của người Việt ḿnh không.

Lá trầu

Cau hột 

                 

2)  Tháp Chàm và Chùa Miến:

Tôi cũng  đă ngạc nhiên khi thấy rất nhiều chùa Miến ở Bagan, nếu cắt đi phần chóp nhọn bên trên, trông giông giống Tháp Chàm ở Việt nam. Tôi nghĩ rằng vào thời đại các ngôi chùa này được xây cất, ắt hẳn phải có một sự giao lưu văn hóa rộng lớn trong vùng rộng lớn trải dài từ Việt Nam qua tới Miến Điện. Trao đổi ư kiến này với người hướng dẫn viên, cô ấy cho biết nhiều du khách từ nhiều nơi trong khu vực Đông và Đông Nam Châu Á, khi đến đây cũng có ư nghĩ tương tự; họ đều nh́n thấy có một nét ǵ trong quốc gia của họ đang thể hiện tại đây.

Giờ đây, sau khi đọc Phạm Việt Châu, tôi nghĩ, có thể đây cũng là một dấu tích của Bách Việt.

Một Chùa Miến cổ ở Bagan

Tháp Chàm Mỹ Sơn - Việt Nam 

                      

3)  Không ăn chay:

Người Miến thực hành đạo Phật rất nhuần nhuyễn nhưng các nhà sư Miến không bị bắt buộc ăn chay. Lư do, họ tu theo lối khất thực, ai cho ǵ th́ ăn nấy, không được quyền từ chối. Do đó nếu thí chủ cúng dường thịt, cá, tôm, cua… nhà sư, nhà chùa cũng hoan hỉ nhận.  Hôm tôi đến thăm tu viện Maha Gandayon, thấy nhà bếp đang làm thịt một lô một lốc cá:

 

Những người công quả đang làm cá trong nhà bếp của tu viện Maha Gandayon 

 

4)  Kỳ thị phụ nữ (?):

Phụ nữ Miến bị cấm không được dán vàng lên tượng Phật cũng như  không được thọ giới Shinbyu. Tuy vậy, không phải họ bị kỳ thị. Chỉ v́ Phật là đàn ông nên người ta muốn bảo vệ Phật, không để Phật có va chạm với phụ nữ thôi. Ngược lại, biểu tượng của thành phố  Bago, cố đô của miền nam Miến, là một đôi chim hintha, trong đó con chim mái đứng trên lưng con chim trống. Chuyện kể rằng vào thuở xa xưa, có đôi chim hintha đang bay đi t́m nơi tránh lụt. Chúng nh́n thấy một ḥn đá nổi lên giữa đồng nước mênh mông, con chim trống bèn hạ cánh xuống trước và để cho con chim mái đáp lên lưng của ḿnh …(**).  Ồ, thật  ga lăng và t́nh tứ quá! Xem thế th́ biết nữ giới Miến được quan tâm, thương mến thế nào.

Bảng “Cấm phụ nữ”

trong chùa Phaungdaw Oo – Inle Lake

Chim mái hintha đậu trên lưng chim trống-

Biểu tượng của thành phố Bago 

                                                                                               

** Chuyện kể tiếp rằng:  Đúng lúc đó th́ Phật và một số đệ tử đi qua, Ngài đă ban lời giáo huấn cho đôi chim và báo cho chúng biết nay mai một thành phố sẽ phát triển tại đây.  Đúng như thế, sau đó thành phố Hinthawaddy đă được thành lập và trở thành thủ phủ của dân tộc Mon trong một thời gian dài, với biểu tượng là đôi chim hintha, con mái đứng trên lưng con trống .

(http://www.flickr.com/photos/10186213@N07/2323773673)

 

5)  Vài h́nh ảnh đặc biệt:

Phụ nữ dân tộc Chin, thay v́ tô son đánh phấn làm đẹp như các phụ nữ khác, lại đi làm cho ḿnh xấu xí bằng cách xâm lên mặt.  Lư do là để tránh sự ḍm ngó của mấy ông vua ưa bắt con gái đẹp về làm vợ hay hầu thiếp.

 

Phụ nữ sắc dân Baidao làm đẹp bằng cách đeo thật nhiều ṿng cổ  bằng đồng để cho cổ dài ra.

Thật sự cổ của họ không dài ra mà là xương vai bị trịu xuống. Các ṿng cổ này được đeo vào cổ ba lần trong đời: lần thứ nhất lúc 8 tuổi, lần thứ hai 15 tuổi và lần thứ ba 23 tuổi. Ṿng cổ này được mang suốt đời cho đến khi chết.

Ngoài ra họ c̣n đeo ṿng chân, cũng bằng đồng, ngay dưới đầu gối. Tổng cộng ṿng cổ và ṿng chân cân nặng 8 ki lô. 

Phải mang trên ḿnh 8 ki lô đồ trang sức thế nhưng họ vẫn làm việc đống áng rất tự nhiên.  Sắc dân này là một trong vài sắc dân sống trong khu vực hồ Inle, nơi có khu vườn nổi rất độc đáo:

 

 

Cư dân trong hồ Inle không có đất trồng trọt.

Họ đào đất từ đáy hồ, đắp lại thành bè rồi thả nổi trên hồ để trồng rau, trái.

           

6) Cảm ơn bạn hiền Chơn Hạnh đă cho biết thuật ngữ “thủ ấn”. 

 

TV

___________

(1): Kinh Pháp Cú, Tỳ Kheo Thích Minh Châu, Trường Cao Cấp Phật Học VN Cơ Sở II, 1990, tr.53)

 

 

art2all.net